2026-10-23 Vài tin ngắn
Chứng cứ mới về Dân biểu Đảng Dân Chủ Ilhan Omar
Dân biểu Đảng Dân Chủ Ilhan Omar của tiểu bang Minnesota trong tuần này tiếp tục bác bỏ cáo buộc bà từng kết hôn với người chồng thứ 2, Ahmed Nur Said Elmi, để giúp ông có được thẻ thường trú nhân Hoa Kỳ. Ông Elmi bị nghi là anh hoặc em ruột của nữ dân biểu. Tuy nhiên, khi được hỏi trực tiếp liệu 2 người có quan hệ huyết thống hay không, bà Omar trả lời: “Theo những gì tôi biết thì không.”
Bà Omar, 45 tuổi, đến Hoa Kỳ với tư cách người tị nạn từ Somalia vào năm 1995. Bà nhiều lần mạnh mẽ phủ nhận cáo buộc đã kết hôn với ông Elmi vì mục đích di trú. Những tài liệu về hôn nhân, hồ sơ gia đình, địa chỉ cư trú và lời kể của một người trong cộng đồng Somalia tiếp tục làm dấy lên nghi vấn về mối quan hệ giữa 2 người.
Bà Omar chính thức kết hôn với ông Ahmed Nur Said Elmi, 41 tuổi, tại Hoa Kỳ vào năm 2009. Bà mô tả ông Elmi là một công dân Anh Quốc. Cuộc hôn nhân kéo dài về mặt pháp lý cho đến khi 2 người hoàn tất thủ tục ly dị vào năm 2017.
Lịch sử gia đình bà Omar trải dài trên nhiều quốc gia, trong khi nhiều giấy tờ tại Somalia đã bị thất lạc hoặc tiêu hủy. Thân mẫu bà được cho là qua đời khi bà còn nhỏ. Một nhánh gia đình sinh sống tại Anh Quốc, trong khi nhánh khác định cư tại Hoa Kỳ.
Hiện chưa rõ cha mẹ ruột của ông Ahmed Nur Said Elmi là ai. Tuy nhiên, ông từng sinh sống tại London cùng bà Leila Nur Said, một phụ nữ Somalia được cho là chị hoặc em gái của bà Omar. Bà Leila có thể đã nuôi dưỡng ông Elmi trong thời gian 2 người sống tại Anh Quốc.
New York Post thu thập được bản sao chứng nhận hợp lệ của một giấy kết hôn tại Anh Quốc năm 1997 liên quan đến bà Leila Nur Said. Trong văn kiện này, thân phụ bà Leila được ghi tên là Nur Said Elmi, một sĩ quan quân đội Somalia.
Thân phụ quá cố của bà Omar là ông Nur Omar Mohamed cũng sử dụng tên Nur Said Elmi. Ông từng là một chỉ huy quân đội có địa vị trong chế độ độc tài Somalia, nơi hàng triệu người đã phải bỏ chạy khỏi đất nước. Nhiều nguồn tin nói với New York Post rằng họ tin người được ghi tên trong giấy kết hôn tại Anh Quốc chính là thân phụ của bà Omar.
Trên Facebook, thân phụ bà Omar cũng từng sử dụng tên Nur Said. Tài khoản của ông có liên kết với tài khoản của bà Leila, người từng để lại những biểu tượng trái tim trên các tấm hình của ông.
Tháng 6 năm 2020, ông Nur Omar Mohamed qua đời ở tuổi 67 vì những biến chứng liên quan đến COVID. Sau khi ông mất, nhiều người đã lên mạng xã hội tưởng niệm người được gọi là “Nur Said Elmi”, đồng thời gửi lời chia buồn đến cả bà Omar và bà Leila.
Một chi tiết khác xuất hiện trong hồ sơ được Văn phòng Công tố Liên bang tại Địa hạt Columbia đệ trình hôm thứ Tư. Các công tố viên yêu cầu tòa án tiếp tục giữ kín lệnh khám xét tư gia của bà Omar. Trong văn kiện này, nữ dân biểu được ghi tên là “Ilhan Nur Said Elmi, a/k/a Ilhan Abdullahi Omar”, tức Ilhan Nur Said Elmi, còn được biết dưới tên Ilhan Abdullahi Omar.
New York Post đã liên lạc với bà Omar và bà Leila qua thư điện tử để yêu cầu bình luận. Tuy nhiên, cả 2 đều không trả lời.
Những nghi vấn khác liên quan đến nơi cư trú và những cuộc hôn nhân của bà Omar. Trong thời gian vẫn còn là vợ hợp pháp của ông Elmi, bà Omar đã sinh người con thứ 3 với người chồng trước là Ahmed Abdisalan Hirsi.
Bà Omar cho biết từng nộp đơn xin giấy phép kết hôn với ông Hirsi vào năm 2002. Tuy nhiên, bà giải thích rằng 2 người chưa bao giờ hoàn tất thủ tục nên cuộc hôn nhân khi đó không được pháp luật công nhận.
Theo bà Omar, bà và ông Hirsi chia tay vào năm 2008, sau đó nối lại quan hệ khoảng 4 năm sau, tức vào khoảng năm 2012. Hai người chính thức kết hôn vào năm 2018 và có 3 người con chung, sinh vào các năm 2003, 2005 và 2012.
Trong khi đó, từ năm 2009 đến năm 2017, bà Omar vẫn là vợ hợp pháp của ông Elmi. Trên đơn xin kết hôn, bà Omar và ông Elmi cùng khai địa chỉ cư trú tại một bất động sản ở Columbia Heights, thuộc khu vực Minneapolis. Ông Hirsi cũng sử dụng địa chỉ này để xin giấy phép kinh doanh.
Bà Omar cho biết bà và ông Elmi chia tay vào năm 2011, nhưng phải mất thêm nhiều năm mới hoàn tất giấy tờ ly dị. Vì vậy, bà đã sinh người con thứ 3 với ông Hirsi trong thời gian vẫn còn kết hôn hợp pháp với ông Elmi.
New York Post trước đây cũng phát giác bà Omar và ông Hirsi đã cùng khai thuế trong các năm 2014 và 2015, mặc dù lúc đó bà vẫn còn là vợ hợp pháp của ông Elmi. Những hồ sơ khai thuế này sau đó đã được sửa chữa.
Cuộc ly dị giữa bà Omar và ông Elmi chính thức hoàn tất vào năm 2017. Tuy nhiên, ông Elmi được cho là đã rời Hoa Kỳ để trở về Anh Quốc từ lâu trước khi thủ tục ly dị kết thúc.
Tháng 1 năm 2018, bà Omar kết hôn với ông Hirsi. Đến năm 2019, ông Elmi rút lại đơn xin thẻ thường trú nhân dựa trên hôn nhân mà ông đã nộp trước đó. Việc rút đơn được tường thuật là xảy ra sau khi Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ yêu cầu cung cấp thêm bằng chứng về cuộc hôn nhân.
Trong cuộc phỏng vấn với ký giả Chris Hayes của đài MS NOW trong tuần này, bà Omar được hỏi liệu có quan hệ huyết thống với người chồng cũ hay không. Bà trả lời: “Theo những gì tôi biết thì không.”
Ngày 12 tháng 10 năm 2026, các nhân viên thuộc Cơ quan Điều tra An ninh Nội địa Hoa Kỳ đã thi hành lệnh khám xét tại tư gia của bà Omar ở Washington, D.C. Một nhân viên điều tra được nhìn thấy mang một thùng tài liệu ra khỏi căn nhà.
Một lời kể khác xuất phát từ một người viết blog Somalia sinh sống tại Minneapolis. Năm 2020, người này nói với Daily Mail rằng ông biết bà Omar từ thời cả 2 còn lớn lên tại Minnesota. Ông tuyên bố bà Omar từng giới thiệu ông Elmi với những người trong cộng đồng Somalia vào những năm 2000 là anh hoặc em trai từ London đến.
Theo người viết blog, bà Omar còn nói rằng người thân này đang tìm kiếm “giấy tờ”, ám chỉ những hồ sơ di trú như thẻ thường trú nhân Hoa Kỳ.
Người này nói với Daily Mail: “Không ai biết đã có một cuộc kết hôn với Elmi cho đến khi giới truyền thông tìm được giấy chứng nhận kết hôn nhiều năm sau.”
Người viết blog còn tuyên bố ông Elmi đã được cha yêu cầu rời Anh Quốc để đến Hoa Kỳ sau khi người cha phát giác ông đang sống một cuộc đời phóng túng tại London. Theo lời người này, việc đưa ông Elmi đến Hoa Kỳ được dự tính như một hình thức giúp ông thay đổi lối sống.
Ông kể rằng những người trong cộng đồng bắt đầu chú ý khi thấy bà Omar và ông Hirsi thường xuyên xuất hiện cùng một thanh niên có phong cách ăn mặc nữ tính.
Người viết blog nói: “Mọi người bắt đầu nhận thấy Ilhan và Hirsi thường đi cùng một thanh niên rất nữ tính. Anh ta rất nữ tính trong cách ăn mặc. Anh ta thường dùng son môi nhạt, mặc quần áo màu hồng và những chiếc quần rất, rất ngắn vào mùa hè. Mọi người bắt đầu bàn tán về anh ta.”
Sau cuộc hôn nhân với bà Omar, ông Elmi rời Hoa Kỳ và trở lại Anh Quốc, nơi ông tiếp tục theo đuổi lối sống mà người viết blog mô tả là phô trương.
Ông Elmi từng tự mô tả mình là một “dirty dandy” trên các tài khoản mạng xã hội. Ông thường xuyên đăng hình bản thân mặc những bộ trang phục có màu sắc nổi bật, đồng thời được nhìn thấy uống rượu cùng những người đàn ông có ngoại hình thu hút tại các quán cà phê sang trọng ở London.
Từ năm 2023, ông Elmi theo học chương trình tiến sĩ tại Đại học Bristol. Ông cũng từng làm phụ tá nghiên cứu tại Trường Xã hội học, Chính trị và Nghiên cứu Quốc tế của đại học này.
Những lãnh vực được ông quan tâm bao gồm nghiên cứu phê bình về giới tính và khuynh hướng đồng tính, giải trừ ảnh hưởng thực dân, nghiên cứu giới và trung tâm nghiên cứu nhân văn về người da đen.
Đến cuối năm 2025, ông Elmi đã thực hiện một chuyến lưu trú kéo dài tại Đại học Witwatersrand ở Nam Phi. Trong một bài đăng trên Instagram ngày 4 tháng 11, ông viết: “Cho đến nay, mọi thứ thật tuyệt vời... một tháng ở Johannesburg.”
Ngoài bà Ilhan Omar, ông Ahmed Nur Said Elmi chưa từng được công khai liên hệ tình cảm với bất cứ phụ nữ nào khác.
Nguồn: New York Post, Daily Mail
____________
Ngành công nghệ đã chính thức mang màu sắc của đảng Cộng hòa.
Kết quả cuộc thăm dò của POLITICO không chỉ làm phức tạp thêm triển vọng của đảng Cộng hòa trong việc tách khỏi Donald Trump mà còn có thể gây rắc rối cho chính các công ty.
Theo kết quả mới từ cuộc thăm dò của POLITICO, cử tri Mỹ thuộc mọi khuynh hướng chính trị hiện nay đều cho rằng hầu hết các CEO hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ đều theo chủ nghĩa bảo thủ.
Và đa số cử tri cho rằng ngành công nghệ là nhà tài trợ tài chính lớn nhất cho Đảng Cộng hòa.
Kết quả này, lần đầu tiên được tiết lộ trên Decoded của POLITICO, không chỉ có thể làm phức tạp triển vọng của đảng Cộng hòa trong việc cố gắng tách khỏi Tổng thống Donald Trump trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ hoặc năm 2028 giữa bối cảnh phản đối mạnh mẽ đối với các tập đoàn công nghệ lớn và trí tuệ nhân tạo. Chúng cũng có thể gây rắc rối cho chính các công ty này vào năm tới, khi đảng Dân chủ dự kiến sẽ kiểm soát ít nhất là Hạ viện.
Global thực hiện, đã khảo sát những tên tuổi lớn nhất trong lĩnh vực công nghệ, từ Elon Musk và Sam Altman của OpenAI đến Dario Amodei của Anthropic, và đánh dấu một sự thay đổi lớn trong quan điểm về một ngành công nghiệp vốn từ lâu được coi là theo chủ nghĩa tự do, có trụ sở tại bang California vốn nghiêng về đảng Dân chủ. Trong giới công nghệ, ba CEO đang cạnh tranh nhau này được biết đến là có quan điểm chính trị khác biệt đáng kể.
Amodei chỉ quyên góp cho đảng Dân chủ hoặc các PAC (Ủy ban hành động chính trị) phần lớn liên kết với đảng Dân chủ, trong khi Altman dành những khoản quyên góp lớn nhất của mình cho các PAC liên kết với đảng Dân chủ, đồng thời cũng quyên góp cho một số đảng Cộng hòa. Trong khi đó, Musk gần đây đã thực hiện một trong những chiến dịch chi tiêu lớn nhất từ trước đến nay cho các mục tiêu của đảng Cộng hòa.
Nhưng bên ngoài giới công nghệ, những người Mỹ có ý kiến thì cho rằng hầu hết họ đều có quan điểm chính trị tương đồng, đặc biệt là Altman và Amodei . Và nhiều người Mỹ không có ý kiến hoặc thậm chí không biết những CEO này là ai.
“Trong vài năm trở lại đây, hình ảnh Thung lũng Silicon như một ngành công nghiệp tự do gần như đã biến mất. Cả cử tri của Harris và Trump hiện đều coi các công ty AI là thuộc đảng Cộng hòa” , Seb Wride , người đứng đầu bộ phận thăm dò dư luận của PF Global, cho biết. “Rủi ro đối với các công ty công nghệ là các đảng phái sẽ biến chúng thành vấn đề tranh cử và định hình nhận thức này trong nhiều năm tới.”
Musk là người có nhiều khả năng được coi là đảng viên Cộng hòa nhất, với 59% người Mỹ nhận định ông là như vậy, trong khi chỉ có 14% nghĩ ông là đảng viên Dân chủ. Theo hồ sơ của FEC công bố hôm thứ Năm, Musk đã chi ít nhất 276 triệu đô la để hỗ trợ đảng Cộng hòa trong quý 3, trở thành người chi tiêu nhiều nhất trong chu kỳ này.
Trong khi đó, Bill Gates là CEO công nghệ duy nhất trong số tám người được khảo sát mà người Mỹ tin rằng ông là đảng viên Dân chủ (35%) nhiều hơn đảng viên Cộng hòa (31%).
Bốn mươi phần trăm người Mỹ tin rằng Mark Zuckerberg là đảng viên Cộng hòa, trong khi 27% nghĩ ông là đảng viên Dân chủ. Ba mươi hai phần trăm người Mỹ nghĩ Altman là đảng viên Cộng hòa, và 22% tin ông là đảng viên Dân chủ. Hai mươi chín phần trăm cho biết họ không biết ông là ai. Amodei — người mà công ty của ông có nhiều bất đồng với Nhà Trắng — ít có khả năng được coi là đảng viên Cộng hòa hơn Altman với tỷ lệ 28%, nhưng con số này vẫn cao hơn 20% người nghĩ ông là đảng viên Dân chủ. Và 35% cho biết họ không biết ông là ai.
Đối với hầu hết các CEO này, cả đảng viên Dân chủ và đảng viên Cộng hòa đều có xu hướng tin rằng họ là đảng viên Cộng hòa. Ngoại lệ là Gates và CEO của Apple, Tim Cook , người mà nhiều đảng viên Dân chủ tin là đảng viên Dân chủ hơn.
Thậm chí một CEO công nghệ giả mạo cũng bị cho là thuộc đảng Cộng hòa. Cuộc thăm dò của POLITICO đã kiểm tra tên của một CEO công nghệ giả mạo: “ Marshall Ancoates ”. Hai mươi hai phần trăm số người được hỏi cho biết họ tin rằng “Ancoates” là người thuộc đảng Cộng hòa, trong khi 18% nghĩ rằng ông ta là người thuộc đảng Dân chủ. Ba mươi phần trăm cử tri ủng hộ Trump năm 2024 tin rằng “ Ancoates ” là người thuộc đảng Cộng hòa, so với 19% tin rằng ông ta là người thuộc đảng Dân chủ. Cử tri ủng hộ Harris năm 2024 thì chia làm hai phe: 24% tin rằng ông ta là người thuộc đảng Dân chủ, trong khi 24% nghĩ rằng ông ta là người thuộc đảng Cộng hòa.
Phát hiện này đáng chú ý vì nó cho thấy người Mỹ có nhiều khả năng cho rằng bất kỳ CEO công nghệ nào cũng là đảng viên Cộng hòa hơn là đảng viên Dân chủ. Điều này đặc biệt đúng đối với những người bỏ phiếu cho ông Trump.
Người Mỹ thường liên tưởng nhân viên công nghệ gần như trực tiếp với cấp trên của họ. Và nhân viên tại các công ty trí tuệ nhân tạo được cho là có xu hướng ủng hộ Đảng Cộng hòa hơn so với nhân viên tại các công ty công nghệ truyền thống. 53% người Mỹ cho rằng nhân viên của Tesla là đảng viên Cộng hòa; 18% cho rằng họ là đảng viên Dân chủ. Tại OpenAI, tỷ lệ này là 33% đảng viên Cộng hòa và 26% đảng viên Dân chủ. Tại Anthropic, các con số cũng tương tự - 28% người được khảo sát tin rằng nhân viên của Anthropic nghiêng về Đảng Cộng hòa, trong khi 25% cho rằng họ nghiêng về Đảng Dân chủ.
Nhân viên tại Microsoft, Apple và Google có mối liên hệ mật thiết hơn một chút với đảng Dân chủ — Google là công ty có tỷ lệ liên hệ với đảng Dân chủ cao nhất trong ba công ty, với 34% là đảng viên Dân chủ so với 28% là đảng viên Cộng hòa.
Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ tin rằng ngành công nghệ là nhà tài trợ lớn nhất cho các hoạt động của đảng Cộng hòa. Decoded đã hỏi những người tham gia khảo sát, trong số 12 ngành công nghiệp từ môi trường và khí hậu đến quyền sở hữu súng, ngành nào đã chi nhiều tiền nhất để ủng hộ các ứng cử viên đảng Cộng hòa năm nay. Phần lớn cử tri của cả Harris (38%) và Trump (26%) đều đồng ý rằng ngành công nghệ và trí tuệ nhân tạo là ngành chi tiêu nhiều nhất cho các hoạt động của đảng Cộng hòa. Người Mỹ tin rằng các nhóm bảo vệ dân chủ và quyền bầu cử quyên góp nhiều nhất cho đảng Dân chủ.
____________
TNS Dân Chủ tiểu bang Virginia bị truy tố về tội cầm đầu đường dây buôn bán cần sa
Bộ Tư pháp Hoa Kỳ ngày 22 tháng 10 năm 2026 công bố cáo trạng gồm 8 tội danh đối với 7 bị can, trong đó có Thượng nghị sĩ Đảng Dân Chủ Lillie Louise Lucas của tiểu bang Virginia, liên quan đến một tổ chức bị cáo buộc buôn bán cần sa, rửa tiền và thực hiện nhiều hành vi phạm pháp khác. Theo cáo trạng, bà Lucas, 82 tuổi, cư ngụ tại Portsmouth, Virginia, bị cáo buộc cầm đầu một đường dây hoạt động trong nhiều năm với sự tham gia của các thành viên gia đình và những người cộng sự thân cận.
Các tội danh được nêu trong cáo trạng bao gồm âm mưu hoạt động trong một tổ chức tội phạm, phân phối cần sa, rửa tiền, gian lận trong việc thi hành công vụ thông qua nhận hối lộ, duy trì những địa điểm phục vụ hoạt động ma túy, sở hữu súng để hỗ trợ việc buôn bán ma túy và gian lận qua phương tiện điện tử. Tổng cộng có 7 người bị truy tố về vai trò của họ trong những hoạt động bị cáo buộc này.
Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ Todd Blanche cho biết bà Louise Lucas đã phục vụ trong một chức vụ được công chúng tín nhiệm tại Virginia hơn 30 năm. Theo ông, những cáo buộc trong hồ sơ truy tố cho thấy một viên chức dân cử bị nghi ngờ đã đặt quyền lợi tài chánh cá nhân lên trên quyền lợi của những người dân đã bầu bà vào chức vụ.
Ông Blanche tuyên bố: “Louise Lucas đã phục vụ trong một chức vụ được công chúng tín nhiệm tại Virginia hơn 3 thập niên. Những cáo buộc trong bản truy tố này cho thấy hành vi của một công chức đã đặt quyền lợi tài chánh của mình lên trên những người dân mà bà được bầu để phục vụ.”
Ông Blanche nhấn mạnh rằng các công tố viên liên bang sẽ tiếp tục căn cứ vào sự kiện và bằng chứng đã khiến đại bồi thẩm đoàn quyết định truy tố bà Lucas cùng những người bị cáo buộc đồng lõa.
Bà Theophani K. Stamos, Đệ nhất Phụ tá Công tố viên Liên bang tại Địa hạt Đông Virginia, cho biết cáo trạng cáo buộc một thượng nghị sĩ tiểu bang đương nhiệm đã lãnh đạo một tổ chức tội phạm, lợi dụng quyền tiếp cận và ảnh hưởng chính trị để tạo điều kiện cho hoạt động buôn bán ma túy cùng những hành vi phạm pháp khác.
Bà Stamos nói: “Chức vụ công quyền là một vị trí được công chúng tín nhiệm và không bao giờ được phép lợi dụng để trục lợi cá nhân.”
Bà cũng ghi nhận công sức của các nhân viên điều tra và công tố viên đã làm việc trong nhiều năm để hoàn tất cuộc điều tra dẫn đến việc đại bồi thẩm đoàn ban hành cáo trạng.
Giám đốc FBI Kash Patel cho biết cuộc điều tra liên quan đến một đường dây bị cáo buộc hoạt động trong 5 năm, với tổng trị giá ước tính $4.5 triệu Mỹ kim. Theo ông Patel, bà Lucas bị cáo buộc đã lợi dụng chức vụ thượng nghị sĩ tiểu bang mà bà nắm giữ hơn 30 năm để phục vụ những quyền lợi tài chánh riêng.
Ông Patel tuyên bố rằng bà Lucas cùng một nhóm thân nhân và cộng sự bị cáo buộc đã sử dụng chức vụ Chủ tịch Ủy ban Tài chánh và Chuẩn chi Thượng viện Virginia của bà để bảo vệ tổ chức buôn bán cần sa mang tên “Lucas Enterprise”. Theo cáo trạng, nhóm này tìm cách tránh sự điều tra hình sự và gây ảnh hưởng đến các đạo luật nhằm mang lại lợi ích tài chánh cho tổ chức.
Theo hồ sơ truy tố, bà Lillie Louise Lucas giữ vai trò lãnh đạo Lucas Enterprise, một tổ chức gồm những người cộng sự thân cận và thành viên gia đình, trong đó có 2 người con gái và 1 người cháu ngoại của bà. Bà bị cáo buộc đã chấp thuận và trực tiếp điều hành những hoạt động của tổ chức, bao gồm việc thu mua và phân phối từ 100 kilogram cần sa trở lên, đồng thời giám sát việc rửa tiền thu được từ hoạt động buôn bán này.
Bà Lucas đắc cử vào Thượng viện Virginia năm 1991 và giữ chức Chủ tịch Tạm quyền Thượng viện từ năm 2020. Hiện bà là Chủ tịch Ủy ban Tài chánh và Chuẩn chi Thượng viện, cơ quan phụ trách ngân sách tiểu bang, chính sách thuế và các khoản chi tiêu của chính quyền Virginia.
Các công tố viên cáo buộc bà Lucas đã sử dụng ảnh hưởng chính trị từ những chức vụ này để giúp Lucas Enterprise tránh bị điều tra hình sự. Bà còn bị cáo buộc tìm cách gây ảnh hưởng đến việc soạn thảo và thông qua những đạo luật có lợi cho hoạt động kinh doanh của tổ chức.
Một bị can khác là Carlton Upton Jr., 54 tuổi, cư ngụ tại Chesapeake, Virginia. Ông Upton là người hợp tác kinh doanh với bà Lucas trong công ty VA Freedom Life, một doanh nghiệp điều hành các cơ sở The CBD Shoppe và The Cannabis Outlet từ năm 2019.
Theo cáo trạng, ông Upton cũng quản trị The CBD Shoppe và bị cáo buộc đã phối hợp với bà Lucas để tìm cách xin giấy phép kinh doanh cần sa dùng cho mục đích giải trí, nhằm mang lại lợi ích cho Lucas Enterprise.
Tháng 4 năm 2020, ông Upton bị cáo buộc đã khai những thông tin sai sự thật có tính chất quan trọng trong đơn xin vay theo Chương trình Cho vay Hỗ trợ Thiệt hại Kinh tế do Thiên tai, gọi tắt là EIDL, dành cho công ty Virginia Freedom Life. Khoản vay này sau đó được cấp với số tiền $11,800 Mỹ kim.
Đến năm 2021, bà Lucas cùng con gái là Lisa Lucas-Burke mở cơ sở The Cannabis Outlet tại Portsmouth. Một người con gái khác của bà Lucas là Theresa Lucas-Lamb, cùng con trai của bà này là Ryan Eichelberger, bị cáo buộc đã thu mua cần sa, giám sát việc phân phối và quản trị The Cannabis Outlet cho tổ chức Lucas Enterprise.
Ngày 1 tháng 2 năm 2022, bà Lucas khai mình là Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Điều hành công ty VA Freedom Life trong bản kê khai quyền lợi kinh tế dành cho các thành viên Quốc hội tiểu bang Virginia. Hồ sơ này được nộp theo những quy định về xung đột quyền lợi và đạo đức công vụ của Virginia.
Tháng 8 năm 2022, bà Lucas bị cáo buộc đã trả $750,000 Mỹ kim để mua toàn bộ 100% quyền sở hữu trong một doanh nghiệp. Theo cáo trạng, doanh nghiệp này là một công ty trung gian được thành lập để nắm giữ giấy phép kinh doanh cần sa giải trí mà một người bị cáo buộc đồng lõa dự trù sẽ được cấp tại Virginia.
Các công tố viên cho rằng bà Lucas đã không khai báo quyền sở hữu vừa mua được trong những bản kê khai quyền lợi kinh tế bắt buộc. Đây là một trong những hành vi được đề cập trong cuộc điều tra liên quan đến việc sử dụng chức vụ công quyền và các hoạt động kinh doanh của bà.
Theo cáo trạng, bà Lucas còn gặp người bị cáo buộc đồng lõa tại văn phòng của mình trong khuôn viên trụ sở Quốc hội Virginia để nhận lại một phần tiền đã trả. Bà cũng bị cáo buộc đã trao đổi với những viên chức khác, kể cả các nhà lập pháp, về việc người này có đủ điều kiện được cấp giấy phép kinh doanh cần sa giải trí hay không. Những cuộc trao đổi đó được cho là có liên quan đến việc bà Lucas nhận tiền hối lộ từ người đồng lõa.
Ngày 6 tháng 5 năm 2026, FBI thi hành các lệnh khám xét liên bang tại 2 cơ sở The Cannabis Outlet và The CBD Shoppe. Trong các cuộc khám xét, nhân viên điều tra đã tịch thu cần sa và súng tại cả 2 địa điểm.
Vụ án hiện do 2 Phụ tá Công tố viên Liên bang Eric M. Hurt và Brian J. Samuels thuộc Văn phòng Công tố Liên bang Địa hạt Đông Virginia phụ trách truy tố.
Bộ Tư pháp cho biết các hồ sơ tòa án và tài liệu liên quan đến vụ án được lưu giữ tại Tòa án Liên bang Địa hạt Đông Virginia và hệ thống hồ sơ điện tử PACER, với số hồ sơ 4:26-cr-75.
Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh rằng cáo trạng chỉ là văn kiện chính thức nêu những lời cáo buộc hình sự. Bà Lillie Louise Lucas và các bị can khác vẫn được pháp luật suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng chứng minh họ phạm tội.