Showing posts with label Iran. Show all posts
Showing posts with label Iran. Show all posts

 2026-05-22  

Đừng chiến thắng Iran nửa vời   
Đã đến lúc hoàn thành nốt công việc ở Iran và tìm kiếm hòa bình từ vị thế mạnh nhất.


(Mark Penn & Andrew Stein, WSJ, 22/5/2026)

image


Thưa ngài Tổng thống, hãy hoàn thành công việc ở Iran và giải phóng thế giới khỏi chế độ tàn bạo này. Hành động táo bạo của ngài – điều mà chưa một tổng thống nào từng làm – đã đẩy các giáo chủ Hồi giáo đến bờ vực. Giờ là lúc để kết liễu chúng, chấm dứt sự kiểm soát của chúng đối với eo biển Hormuz, và chấm dứt sự hỗ trợ của chúng cho chủ nghĩa khủng bố toàn cầu.

Iran không có biên giới với Hoa Kỳ, vậy mà chế độ này đã gây chiến với chúng ta ngay từ ngày đầu tiên lên nắm quyền. Năm 1979, chúng chiếm giữ Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Tehran và giam giữ hàng chục người Mỹ làm con tin trong 444 ngày. Các lực lượng ủy nhiệm của chúng đã giết chết hàng trăm binh sĩ Hoa Kỳ ở Beirut năm 1983 và Iraq sau năm 2003. Chúng liên tục tấn công và thề sẽ tiêu diệt Israel, mặc dù nhà nước Do Thái chỉ cách đó 1.000 dặm và người Ba Tư đã có mối quan hệ tốt đẹp với người Do Thái từ hàng nghìn năm trước.

Cuộc chiến Iran không phải là không được lòng dân. Tình trạng kinh tế hiện nay không được lòng dân, và trước chiến tranh cũng không kém phần tồi tệ, khi 53% người dân cho rằng nền kinh tế đang đi sai hướng. Trong cuộc thăm dò gần đây nhất của Harvard CAPS/Harris, 54% cử tri cho rằng các cuộc tấn công vào Iran là chính đáng. Hai phần ba tin rằng đây là một chế độ độc ác không nhận được sự ủng hộ của chính người dân mình. Cử tri ủng hộ MAGA (Make America Great Again) ủng hộ mạnh mẽ các cuộc tấn công.

Nếu đảng Dân chủ phản đối chiến tranh, thì đó là do các lãnh đạo của họ đã cố tình biến cuộc xung đột thành vấn đề đảng phái. Người ta đã nói nhiều về sự sụt giảm tỷ lệ ủng hộ/phản đối của Israel, nhưng không ai đề cập đến việc tỷ lệ ủng hộ Iran giảm tới 60 điểm. Với tỷ lệ 3 chọi 1, người Mỹ ủng hộ Israel và Mỹ trên chân Iran trong cuộc chiến này. Điều đó bao gồm hầu hết các cử tri dao động cần thiết để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Thưa ngài Tổng thống, nếu ngài thắng cuộc chiến, ngài sẽ thắng chức tổng thống. Giá dầu sẽ giảm. Trung Quốc sẽ rút lui vì ngài kiểm soát dầu mỏ của họ. Nền kinh tế sẽ bùng nổ và mở ra con đường rõ ràng cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Nếu ngài thua cuộc chiến này, chức tổng thống của ngài sẽ gặp rắc rối lớn. Đó sẽ là sự lặp lại kiểu chủ nghĩa bi quan đã dẫn đến việc Joe Biden giao Afghanistan cho Taliban. Tương lai của gần 100 triệu người dân Iran đang bị đe dọa. Quan trọng hơn, một Iran mạnh lên sẽ trở thành mối đe dọa lớn hơn nữa đối với hòa bình và ổn định toàn cầu.

Lịch sử không hề ghi nhận công lao của việc tiến hành một cuộc chiến không trọn vẹn. Chừng nào chế độ này còn tin rằng nó có thể kiểm soát nền kinh tế thế giới bằng cách thu phí đường thủy quốc tế, thì mối đe dọa của nó càng lớn hơn – ngay cả khi uranium của nó bị mắc kẹt dưới lòng đất.

Cho đến nay, các giáo chủ Hồi giáo đã không giữ lời hứa nào, không đưa ra đề nghị hòa bình nào có ý nghĩa, và đã coi thường nước Mỹ và các ông. Đã đến lúc phải hoàn thành công việc, giành quyền kiểm soát hoàn toàn eo biển, và tìm kiếm hòa bình từ vị thế sức mạnh tối đa.

https://www.wsj.com/opinion/dont-leave-the-iran-war-half-won-5555e858?st=Kf2qSS

Ông Penn từng là nhà thăm dò dư luận và cố vấn cho Bill và Hillary Clinton, từ năm 1995 đến năm 2008. Ông là chủ tịch của Harris Poll và CEO của Stagwell Inc. Ông Stein từng giữ chức chủ tịch Hội đồng thành phố New York từ năm 1986 đến năm 1993.

NVV

 

 

 2026-05-14  

Sau thời Ayatollah
Với Iran bị tàn phá về quân sự và bị bóp nghẹt về kinh tế, Trump nắm giữ mọi lợi thế. Nhưng liệu một thỏa thuận có khả thi hay có đáng giá với một chế độ bị chia rẽ như vậy?


(Jason Greenblatt, Tablet, 14/5/2026)


 

Có điều gì đó đã thay đổi trong cuộc đàm phán hạt nhân với Iran mà nhiều nhà phân tích chưa hoàn toàn hiểu rõ. Cán cân quân sự giữa Hoa Kỳ và Iran đã dịch chuyển mạnh mẽ hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ khi Cộng hòa Hồi giáo sở hữu những máy ly tâm đầu tiên. Lá chắn phòng không của Iran, cơ sở hạ tầng đã che giấu và bảo vệ chương trình hạt nhân của nước này trong nhiều năm, đã bị phá hủy. Các lực lượng ủy nhiệm của Iran bị suy yếu nghiêm trọng. Nền kinh tế của nước này đang chịu áp lực trừng phạt và phong tỏa hải quân chưa từng có. Các địa điểm hạt nhân của Iran đã bị hư hại. Ông Trump đã tạo ra đòn bẩy mà chưa một tổng thống Mỹ nào có thể sánh kịp, và ông đang mang nó đến bàn đàm phán.

Câu hỏi không phải là liệu ông Trump có sẽ thúc ép các điều khoản của mình hay không. Ông đã nói rõ rằng ông sẽ làm vậy, và những điều khoản đó - chủ yếu là việc loại bỏ uranium làm giàu khỏi lãnh thổ Iran và cấm vĩnh viễn vũ khí hạt nhân - là thỏa thuận mà Hoa Kỳ và khu vực Trung Đông rộng lớn hơn cần đến. Câu hỏi là liệu Iran có chấp nhận chúng hay không. Và ẩn sâu bên dưới đó là một câu hỏi khó hơn: Liệu Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), với lý thuyết răn đe riêng và lợi ích thể chế riêng trong chương trình hạt nhân, có cho phép bất kỳ thỏa thuận nào được duy trì hay không?

Cả hai câu hỏi đều quan trọng. Cả hai đều không có câu trả lời rõ ràng.

Bức tranh chiến lược hiện nay hầu như không giống với năm 2015, khi thỏa thuận cuối cùng được ký kết. Khi chính quyền Obama kết thúc Kế hoạch Hành động Toàn diện chung (JCPOA), sức mạnh khu vực của Iran vẫn còn nguyên vẹn. Hezbollah là lực lượng quân sự phi nhà nước đáng gờm nhất ở Trung Đông. Lực lượng Houthi chỉ là một cuộc nổi dậy, chứ không phải là một lực lượng có khả năng đe dọa các tuyến đường vận chuyển trên Biển Đỏ. Hamas cai trị Gaza với quyền tự do hoạt động. Hệ thống phòng không của Iran, được xây dựng trong nhiều thập kỷ với sự hỗ trợ của Nga và Trung Quốc, đã cung cấp sự bảo vệ thực sự cho cơ sở hạ tầng hạt nhân nằm sâu bên trong lãnh thổ Iran. Áp lực lên Tehran là về kinh tế — có thật, nhưng không phải là áp lực sống còn.

Không điều nào trong số đó đúng ngày nay.

Hệ thống phòng không của Iran đã bị phá hủy. Các khẩu đội S-300 và cơ sở hạ tầng radar từng làm tăng chi phí các cuộc tấn công vào lãnh thổ Iran đã biến mất. Hải quân của nước này phần lớn đã bị phá hủy. Lực lượng không quân bị suy yếu nghiêm trọng. Cơ sở hạ tầng chỉ huy và kiểm soát, các cơ sở của Lực lượng Vệ binh Cách mạng và mạng lưới tình báo đều bị tấn công. Những gì còn lại của năng lực quân sự thông thường của Iran chỉ là một phần nhỏ so với trước khi cuộc xung đột bắt đầu. Đó là một sự thay đổi cơ bản trong phương trình quân sự.

Mạng lưới ủy nhiệm đã chịu thiệt hại nặng nề. Hezbollah đã chịu tổn thất nặng nề trong chiến dịch năm 2024, cấu trúc chỉ huy bị phá vỡ, kho tên lửa cạn kiệt, sự kiểm soát đối với miền nam Lebanon bị lung lay. Họ đã tập hợp lại và điều đó rất quan trọng. Hamas vẫn tồn tại và đã chứng tỏ rất khó bị đánh bật, nhưng họ không còn cai trị Gaza hoặc thể hiện quyền lực như trước ngày 7 tháng 10. Lực lượng Houthi vẫn giữ khả năng gây ra thiệt hại thực sự và không nên bị đánh giá thấp. Điều đã thay đổi là toàn bộ cấu trúc mà Iran đã xây dựng trong nhiều thập kỷ để mở rộng khả năng răn đe ra bên ngoài, với cái giá khổng lồ, đang chịu áp lực đồng thời. Cánh cửa đó sẽ không tự mở ra. Đó là một lý do nữa tại sao một thỏa thuận, hoặc một sự tiếp tục gây áp lực quân sự, phải xảy ra ngay bây giờ chứ không phải là sau này. Tuy nhiên, eo biển Hormuz vẫn giữ nguyên vai trò như trước: điểm nghẽn mà một phần ba lượng dầu mỏ của thế giới đi qua, và là van xả áp tiềm năng của Iran mà lệnh phong tỏa của Trump đang hạn chế nhưng chưa hoàn toàn vô hiệu hóa. Bất kỳ thỏa thuận nào cũng không được kết thúc với việc Iran vẫn giữ nguyên khả năng ngăn chặn tại eo biển này.

Thiệt hại kinh tế có thể là nghiêm trọng nhất mà Iran phải đối mặt kể từ cuộc cách mạng. Các lệnh trừng phạt, hạn chế xuất khẩu dầu mỏ và việc thực thi lệnh phong tỏa đã đẩy giá trị đồng rial vượt quá 1 triệu rial đổi 1 đô la. Ngay cả theo thống kê của Tehran, các cuộc không kích đã tấn công hơn 23.000 nhà máy và doanh nghiệp, khiến hơn 1 triệu người mất việc làm trực tiếp, theo Thứ trưởng Bộ Lao động và An sinh Xã hội Iran. Tờ báo Etemad Online của Iran ước tính thêm một triệu người nữa bị mất việc làm do hậu quả lan rộng. Số đơn xin trợ cấp thất nghiệp đã tăng gấp ba lần so với năm ngoái. Đối với một dân số vốn đã phải sống trong tình trạng lạm phát trên 40% và một đồng tiền gần như mất hết giá trị, hậu quả này ảnh hưởng đến mọi hộ gia đình trong cả nước.

Thỏa thuận thời Obama chấp nhận việc Iran làm giàu uranium trên lãnh thổ Iran, áp đặt giới hạn về mức độ làm giàu và số lượng máy ly tâm, dựa vào chế độ thanh tra mà Iran nhanh chóng học được cách hạn chế và né tránh, và bao gồm điều khoản tự động cho phép Iran theo đuổi khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân hoàn chỉnh sau khoảng 15 năm. Nó giữ nguyên cơ sở hạ tầng cơ bản. Đó là lý do tại sao Iran có thể nhanh chóng tiến tới làm giàu uranium tới cấp độ vũ khí sau khi thỏa thuận sụp đổ. Trump đang tìm kiếm một điều hoàn toàn khác: loại bỏ vật lý các kho dự trữ uranium đã làm giàu, giảm thực sự công suất máy ly tâm, kiểm chứng có hiệu lực thực sự, và cấm vĩnh viễn vũ khí hạt nhân, không có điều khoản tự động, không có giai đoạn loại bỏ. Đó là khuôn khổ đúng đắn. Đòn bẩy để yêu cầu điều đó chưa bao giờ mạnh mẽ hơn.

Câu hỏi đặt ra là liệu Iran có chấp nhận các điều khoản đó hay không. Các nhà đàm phán của họ sẽ tiếp tục thăm dò, đưa ra các nhượng bộ chiến thuật và cố gắng kéo dài thời gian, tìm cách giảm bớt áp lực để tồn tại mà không từ bỏ chương trình. Đó là kịch bản từ mọi vòng đàm phán trước đây. Đề nghị gần đây nhất của Iran, theo đánh giá công khai của chính Trump gần đây, là vô giá trị.

Nhưng sức ép cưỡng chế chỉ hữu ích nếu phía bên kia có người đủ năng lực chấp nhận các điều khoản và thực thi chúng.

Về phía Iran, câu hỏi ai có thể thực hiện cam kết vẫn còn bỏ ngỏ.

Lần cuối cùng bạn thực sự nhìn thấy Mojtaba Khamenei là khi nào? Không một tuyên bố nào được cho là của ông ấy. Không một bức ảnh tĩnh. Không một hình ảnh ông ấy di chuyển hay phát biểu trước ống kính. Không có video nào về ông ấy được công bố kể từ khi ông ấy được bổ nhiệm. Câu hỏi đó dẫn đến một câu hỏi lớn hơn về việc ai đang điều hành Iran.

Hãy bắt đầu với việc ông ấy lên nắm quyền như thế nào.

Ali Khamenei bị ám sát vào ngày 28 tháng 2. Trong vòng một tuần, Hội đồng Chuyên gia đã chính thức chỉ định con trai ông, Mojtaba, làm người kế nhiệm, dưới áp lực trực tiếp của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) đối với các giáo sĩ, bao gồm cả các chuyến thăm trực tiếp và các cuộc gọi điện thoại mà các nguồn tin mô tả là mang tính tâm lý và chính trị. Ít nhất tám thành viên Hội đồng đã tẩy chay phiên họp cuối cùng để phản đối. Sự phản đối không chỉ liên quan đến chế độ cha truyền con nối, điều mà chính Ali Khamenei đã lên án vào năm 2017 là sự phục hồi chế độ quân chủ. Vấn đề cũng xoay quanh cấp bậc giáo sĩ của Mojtaba: Ông là một giáo sĩ cấp trung, thiếu ba cấp bậc so với cấp bậc đại giáo chủ mà hiến pháp Iran yêu cầu đối với một nhà lãnh đạo tối cao. Ali Khamenei được cho là đã phản đối việc thăng chức cho con trai mình khi còn sống. Chỉ vài ngày sau khi cha ông qua đời, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) vẫn thúc đẩy việc này.

Kể từ đó: không có bất kỳ lần xuất hiện trước công chúng nào. Reuters, trích dẫn ba nguồn tin thân cận với ông, đã đưa tin về những vết thương nghiêm trọng ở mặt và chân do cuộc tấn công khiến cha ông thiệt mạng. Truyền thông nhà nước Iran đã sử dụng từ Janbaaz, danh xưng tôn kính dành cho cựu chiến binh bị thương trong chiến tranh, khi đề cập đến ông. Các tuyên bố xuất hiện dưới tên ông. Người đại diện phát ngôn thay mặt ông.

Lập luận phản bác thẳng thắn đáng được xem xét. Một nhà lãnh đạo thời chiến ẩn mình sau khi cha mình thiệt mạng trong một cuộc tấn công có thể đang sinh tồn theo khuôn phép hơn là báo hiệu sự bất lực. Tình báo Israel và Mỹ được cho là đang săn lùng các cơ hội nhắm mục tiêu. Tránh xuất hiện trước công chúng trong một cuộc xung đột đang diễn ra là điều mà một chế độ có năng lực sẽ làm. Các quan chức Iran nói rằng vết thương của ông không đáng kể. Tổng thống Iran được cho là đã gặp ông. Cách hiểu đó vẫn tồn tại và không nên bị bỏ qua. Nhưng sự sống còn và quyền lực là hai chuyện khác nhau. Một nhà lãnh đạo lẩn trốn không phải là một nhà lãnh đạo nắm quyền.

Hiện tại ở Tehran tồn tại một tập hợp các phe phái chồng chéo: Mojtaba đứng đầu trên giấy tờ, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) điều hành các hoạt động, Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao điều phối, Bộ Ngoại giao đóng vai trò cầu nối ngoại giao. Sự kế vị trong thời chiến đã làm cho sự phân mảnh trở nên sâu sắc hơn và khó nhận biết từ bên ngoài, hoặc từ chính bên trong Iran. Cũng có một khả năng đáng được nêu thẳng: Mojtaba được nâng lên vị trí cao chính xác là vì ông ta có thể duy trì tính liên tục trong khi vẫn chịu ơn, có thể bị kiểm soát bởi, hoặc hoàn toàn phục tùng, bộ máy an ninh đã đưa ông ta lên nắm quyền. Còn một khả năng khó lường hơn nữa mà không thể loại trừ: Liệu ông ta còn sống và có còn hoạt động hay không vẫn thực sự là điều không chắc chắn.

Khi Bộ trưởng Ngoại giao Iran ký một thỏa thuận, câu hỏi không chỉ là liệu ông ta có ý định hay có quyền lực để thực hiện nó hay không. Mà còn là liệu chữ ký đó có ràng buộc chỉ huy IRGC kiểm soát các cơ sở hạt nhân hay không. Liệu nó có ràng buộc sĩ quan Lực lượng Quds quản lý các mạng lưới ủy nhiệm hay không. Liệu thỏa thuận đó có ràng buộc các kỹ sư tại các địa điểm làm giàu uranium, những người có thể phải tuân theo một chuỗi mệnh lệnh chạy qua Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), chứ không phải qua Bộ Ngoại giao. Thỏa thuận JCPOA, được đàm phán khi Iran có một nhà lãnh đạo tối cao hoạt động hiệu quả và vững chắc, vẫn bị phản đối ngay từ ngày đầu tiên trong nội bộ IRGC. Những người theo đường lối cứng rắn phản đối thỏa thuận này đã tìm cách phá bỏ các ràng buộc của nó ngay khi có vỏ bọc chính trị. Đó là vấn đề đối tác khi có một nhà lãnh đạo mạnh mẽ tại vị. Vấn đề đối tác hiện nay mang tính cấu trúc nghiêm trọng hơn.

Ông Trump không thừa hưởng vị thế đàm phán này. Ông đã xây dựng nó thông qua áp lực quân sự và kinh tế bền bỉ, làm suy yếu năng lực của Iran đến mức mà không chính quyền nào trước đây đạt được. Các chiến dịch quân sự của Israel là không thể thiếu để đạt được kết quả đó. Ông đến bàn đàm phán với nhiều đòn bẩy hơn bất kỳ tổng thống Mỹ nào từng nắm giữ về vấn đề này kể từ cuộc cách mạng.

Vấn đề là đòn bẩy chỉ bền vững khi áp lực duy trì nó đủ mạnh, và một thỏa thuận chỉ bền vững khi bên cam kết có thẩm quyền. Liệu Iran hiện có một nhà lãnh đạo tối cao có thể buộc hệ thống phải tôn trọng cam kết hay không, hay liệu những gì tồn tại là một tập hợp các phe phái cạnh tranh có thể tan vỡ ngay khi áp lực giảm bớt hoặc động lực quyền lực nội bộ thay đổi, thực sự vẫn chưa rõ ràng.

Đó không phải là lý do để từ bỏ đàm phán. Đó là lý do để xây dựng bất kỳ thỏa thuận nào trên giả định rằng đối tác có thể không giữ lời hứa. Việc xác minh không thể phụ thuộc vào thiện chí. Việc thực thi không thể đòi hỏi phải đưa vụ việc ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nơi mà một số nước trong lịch sử đã che chở Tehran khỏi hậu quả. Châu Âu không thể là người ra quyết định ở đây. Lịch sử thực thi thỏa thuận với Iran của Mỹ là một chuỗi những hành động nhượng bộ được ngụy trang dưới danh nghĩa ngoại giao, và họ đã dành hai thập kỷ ưu tiên sự hợp tác hơn là trách nhiệm giải trình. Hậu quả của việc vi phạm cần phải được tự động hóa, được thỏa thuận trước và có thể thực thi bởi Hoa Kỳ. Nếu Iran phá vỡ thỏa thuận, phản ứng không thể phụ thuộc vào việc những người có quyền bỏ phiếu tại Hội đồng Bảo an có hợp tác trong tháng đó hay không.

Cơ hội tốt nhất trong một thế hệ đáng để nắm bắt. Nhưng bạn cần một cái bàn, những lá bài và những người chơi đối diện có thể đảm bảo thắng cược. Hiện tại, ít nhất một trong những điều kiện đó vẫn còn thực sự đáng nghi ngờ.

https://www.tabletmag.com/sections/news/articles/after-ayatollah-trump-deal-iran

NVV

 

 2026-05-06  

'Never' đối với Iran phải là Never thật sự

(Stephen D. Cook, RCD, 6/5/2026)

Trong những đường hầm sâu dưới lòng đất Isfahan, Cộng hòa Hồi giáo Iran tiếp tục bảo vệ phần lớn kho dự trữ uranium được làm giàu cao của mình, theo đánh giá mới nhất của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Bất chấp gần một tháng phong tỏa do Mỹ dẫn đầu sau các cuộc tấn công chính xác liên tục, chế độ này vẫn không bị buộc phải từ bỏ những tài sản nguy hiểm nhất của mình.

Đây là thực tế cấp bách mà Hoa Kỳ đang phải đối mặt. Chính quyền đã nhiều lần tuyên bố rằng Iran sẽ không bao giờ được phép sở hữu vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, chỉ tuyên bố thôi thì không đảm bảo được kết quả. Như tôi đã cảnh báo trong hai bài bình luận trước đây trên RealClearDefense, thời gian để hành động quyết đoán đang dần khép lại. Ngay cả khi chế độ này ký một thỏa thuận “phi hạt nhân” mới vào ngày mai, lịch sử cho thấy lời nói của họ chẳng đáng giá gì. Các biện pháp nửa vời và chiến thuật đối đầu đã giúp kéo dài thời gian, nhưng chúng không loại bỏ được mối đe dọa. Nếu “never” có nghĩa là không bao giờ, Washington phải vượt qua việc phủ nhận vật liệu và đối mặt với trọng tâm quyền lực của chế độ: sự nắm giữ quyền lực về mặt ý thức hệ. Con đường phía trước bắt đầu từ chính người dân Iran.

Lập trường hiện tại — ngăn chặn trên biển, không kích vào cơ sở làm giàu uranium và trừng phạt — phản ánh bản năng đúng đắn nhằm ngăn chặn sự bùng phát. Tuy nhiên, nó không thể tự mình thành công. Việc ngăn chặn vật chất chưa bao giờ đánh bại được đối thủ về ý thức hệ. Chế độ thần quyền không chủ yếu dựa vào máy ly tâm hay kho dự trữ uranium được làm giàu cao, mà dựa vào tuyên bố về tính hợp pháp thiêng liêng bắt nguồn từ Hồi giáo Shia.

Cuộc cách mạng năm 1979 của Ayatollah Ruhollah Khomeini thành công bởi vì một mạng lưới kỷ luật gồm các giáo sĩ, sinh viên và thương nhân chợ búa đã tạo cấu trúc và định hướng cho sự phẫn nộ của quần chúng. Ngược lại, các cuộc biểu tình ngày nay diễn ra trên toàn quốc nhưng vẫn thiếu người lãnh đạo và mang tính chất rời rạc — các cuộc biểu tình tự phát bùng lên rồi lắng xuống mà không có sự phối hợp hay bảo vệ. Sự tuyệt vọng về kinh tế, cộng thêm nhiều năm quản lý yếu kém và cô lập, đã tạo ra mảnh đất màu mỡ cho bất ổn. Giới trẻ thuộc thế hệ Z, những người đã tràn ngập đường phố Tehran, Isfahan và Shiraz trong làn sóng biểu tình năm 2025-2026, sở hữu nguồn năng lượng dồi dào và sự minh bạch về đạo đức. Tuy nhiên, nếu thiếu tổ chức, năng lượng đó có nguy cơ bị tiêu tán hoặc bị các phần tử cực đoan hơn lợi dụng. Lịch sử cho thấy các cuộc cách mạng không có cấu trúc sẽ sụp đổ hoặc bị lợi dụng. Hoa Kỳ không thể chờ đợi một trong hai kết quả đó.

Do đó, hành động cấp bách là rõ ràng: ưu tiên xây dựng một lực lượng kháng chiến nội bộ đáng tin cậy trước khi leo thang áp lực quân sự hơn nữa. CIA và Mossad của Israel phải tăng cường các hoạt động tình báo con người để xác định, bảo vệ và kết nối các nhà lãnh đạo mới nổi trong số những người biểu tình trẻ tuổi ở thành thị. Đây không phải là những nhà cách mạng trừu tượng; họ là sinh viên đại học, những người trẻ có chuyên môn và các nhà hoạt động vì quyền phụ nữ, những người đã thể hiện sự sẵn sàng mạo hiểm tất cả trong các cuộc bất ổn gần đây. Bảo vệ họ khỏi Lực lượng Vệ binh Cách mạng và các cơ quan tình báo của chế độ là bước đi nền tảng. Một khi đã có một nhóm lãnh đạo nòng cốt, sự hỗ trợ từ bên ngoài có thể giúp họ phát triển.

Những điểm khởi đầu cho nỗ lực này đã tồn tại trong bối cảnh đối lập bị chia rẽ của Iran, nhưng chúng phải được tiếp cận với sự thực tế sáng suốt. Các mạng lưới như Mujahedin-e Khalq và cánh chính trị của nó, Hội đồng Kháng chiến Quốc gia Iran, sở hữu hàng chục năm kinh nghiệm tổ chức và tuyên bố có các đơn vị kháng chiến hoạt động tích cực trong nước; Họ có thể đóng vai trò là xương sống tổ chức quan trọng, chứ không phải là bộ mặt công khai, dưới sự lãnh đạo của giới trẻ người Ba Tư đang nổi lên. Ở phía tây bắc, các tổ chức người Kurd, bao gồm Đảng Dân chủ Kurdistan của Iran và Đảng vì Cuộc sống Tự do ở Kurdistan, mang đến những chiến binh giàu kinh nghiệm và đã cho thấy thành công gần đây trong việc phối hợp các hoạt động biểu tình.

Những nguồn lực này là có thật và có giá trị. Tuy nhiên, chúng không thể trở thành nền tảng duy nhất của chiến lược Mỹ. Nhiều người Kurd ở Iran, giống như những người cùng dân tộc mà tôi đã làm việc cùng ở Iraq sau cuộc xâm lược năm 2003, coi thời điểm hiện tại là cơ hội để thúc đẩy khát vọng lâu dài về quyền tự trị lớn hơn hoặc thậm chí là độc lập. Năng lượng đó là điều dễ hiểu và không nên bị bỏ qua. Tuy nhiên, bất kỳ nhận thức nào cho rằng Hoa Kỳ đang ủng hộ chủ nghĩa ly khai dân tộc sẽ trao cho chế độ một chiến thắng tuyên truyền tàn khốc. Nó sẽ làm xa lánh giới trẻ người Ba Tư ở thành thị, những người đã tạo nên xương sống của các cuộc biểu tình năm 2025-2026 và vẫn là những người thiết yếu đối với bất kỳ hy vọng nào về sự thay đổi trên toàn quốc.

Mục tiêu không thể là một tập hợp các khu vực dân cư biệt lập theo sắc tộc. Phải tạo ra một phong trào kháng chiến đáng tin cậy, hướng đến toàn quốc, chuyển hóa sự phẫn nộ chính đáng của những người biểu tình thuộc thế hệ Z ở Tehran, Isfahan và Shiraz thành một giải pháp thay thế thống nhất cho chế độ thần quyền. Phong trào kháng chiến này phải thể hiện bản sắc dân tộc Ba Tư, chứ không phải chia rẽ nó – khôi phục niềm tự hào văn hóa và lịch sử thời tiền cách mạng mà chế độ thần quyền năm 1979 đã cố tình hạ thấp để phục vụ cho dự án ý thức hệ của mình. Nó phải đưa ra một tầm nhìn về một quốc gia thế tục, có tính đại diện.

Mục tiêu không thể là một tập hợp các khu vực biệt lập theo sắc tộc. Mục tiêu phải là tạo ra một phong trào kháng chiến đáng tin cậy, hướng đến toàn quốc, chuyển hóa sự phẫn nộ chính đáng của những người biểu tình thuộc thế hệ Z ở Tehran, Isfahan và Shiraz thành một giải pháp thay thế thống nhất cho chế độ thần quyền. Phong trào kháng chiến này phải nói lên bản sắc dân tộc Ba Tư, chứ không phải chia rẽ nó – khôi phục niềm tự hào văn hóa và lịch sử trước cách mạng mà chế độ thần quyền năm 1979 đã cố tình hạ thấp để phục vụ cho dự án ý thức hệ của mình. Nó phải đưa ra tầm nhìn về một chính phủ thế tục, đại diện, tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của Iran đồng thời chấm dứt việc xuất khẩu cách mạng và theo đuổi vũ khí hạt nhân. Chỉ có một phong trào như vậy mới có thể giành được tính chính đáng rộng rãi cần thiết để lật đổ các giáo sĩ từ bên trong.

Một hướng nỗ lực song song và có mức độ ưu tiên cao không kém là tập trung vào việc tách rời các bộ phận của lực lượng vũ trang chính quy của Iran, được gọi là Artesh. Với khoảng 350.000 quân, Artesh lớn hơn đáng kể so với Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, lực lượng có cam kết về mặt ý thức hệ. Lực lượng này mang tính chuyên nghiệp và theo chủ nghĩa dân tộc cao hơn, với tỷ lệ lính nghĩa vụ cao phải phục vụ theo các điều khoản bắt buộc từ 18 đến 24 tháng và các sĩ quan cấp thấp đến trung bình thường xuyên cảm thấy mình là công dân hạng hai—nhận lương thấp hơn, trang thiết bị cũ hơn và ít uy tín hơn so với các đồng nghiệp trong Lực lượng Vệ binh Quốc gia.

Các báo cáo gần đây từ tháng 3 và tháng 4 năm 2026 cho thấy bức tranh về sự sụp đổ tinh thần và đào ngũ tập trung trong các đơn vị này, do siêu lạm phát của đồng rial và tình trạng chậm trả lương kinh niên đối với lính nghĩa vụ. Lính nghĩa vụ đã bỏ vị trí, từ chối mệnh lệnh bắn vào người biểu tình, và trong một số trường hợp đã công khai đốt chân dung của Lãnh tụ Tối cao. Các chỉ huy đã được ghi nhận bỏ trốn khỏi doanh trại trong các cuộc đình công hoặc biểu tình, khiến binh lính cấp dưới gặp nguy hiểm. Các nhà phân tích liên tục nhận thấy rằng Lực lượng Vệ binh Quốc gia Iran (Artesh) gắn bó mạnh mẽ hơn với dân tộc Iran so với chế độ thần quyền. Điều này khiến nó trở thành lực lượng quân sự có nhiều khả năng đầu hàng, đào ngũ, hoặc thậm chí tham gia một phong trào kháng chiến — nếu họ nhận thấy một lựa chọn khả thi, đáng tin cậy, có khả năng chiến thắng hoặc ít nhất là bảo vệ những người đào ngũ và gia đình của họ.

Cả CIA và Mossad đều đã chứng minh khả năng thâm nhập cần thiết để thực hiện việc tiếp cận này. Hồ sơ của họ bao gồm các vụ ám sát các nhà khoa học hạt nhân, vụ đánh cắp kho lưu trữ hạt nhân của Iran năm 2018 từ trung tâm Tehran, và các hoạt động phá hoại lặp đi lặp lại. Các báo cáo công khai từ cùng kỳ tháng 3-tháng 4 năm 2026 xác nhận rằng các điệp viên Mossad đã trực tiếp liên lạc với các chỉ huy Iran, thúc giục họ ngừng chiến hoặc đào tẩu, trong khi CIA đã tiến hành các chiến dịch truyền thông song song để khuyến khích đào tẩu. Các sĩ quan cấp thấp của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran (Artesh) và các đơn vị gồm nhiều lính nghĩa vụ là mục tiêu hợp lý: lòng trung thành của họ mang tính thực dụng hơn là ý thức hệ, được thúc đẩy bởi sự sống còn, an toàn gia đình và sự bất mãn đối với sự ưu ái của chế độ dành cho Lực lượng Vệ binh.

Một phong trào kháng chiến đáng tin cậy, tập trung vào toàn quốc — được neo giữ bởi sự lãnh đạo của thanh niên thành thị và được tăng cường bởi xương sống tổ chức của Mujahedin-e Khalq — tạo ra chính xác “lựa chọn thay thế khả thi” mà những người lính này cần. Khi họ thấy sự lãnh đạo có kỷ luật, được bảo vệ nổi lên từ Tehran và các thành phố khác có đa số người Ba Tư, thay vì sự phân mảnh sắc tộc ở vùng ngoại vi, thì tính toán của họ sẽ thay đổi. Việc đào ngũ không chỉ làm tăng thêm lực lượng kháng chiến bằng nhân lực được huấn luyện và trang thiết bị; mà còn cung cấp thông tin tình báo địa phương, bí quyết tác chiến và một tín hiệu mạnh mẽ về sự yếu kém của chế độ, đẩy nhanh sự sụp đổ hơn nữa. Quan trọng hơn, một lực lượng Artesh bị lật đổ cũng sẽ vô hiệu hóa khả năng phối hợp hiệu quả của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo với các lực lượng ủy nhiệm khu vực trong giai đoạn chuyển tiếp. Bởi vì Artesh kiểm soát phần lớn hậu cần thông thường và an ninh biên giới mà các lực lượng ủy nhiệm đó dựa vào, những vụ đào ngũ như vậy sẽ tương đương với một bản án tử hình về mặt hậu cần đối với các nhóm như Hezbollah hoặc Houthi - cắt đứt các tuyến đường tiếp tế bên ngoài của chế độ vào thời điểm mà họ cần chúng nhất.

Một khi căn cứ hoạt động được bảo vệ tồn tại bên trong Iran - được củng cố bởi các thành phần Artesh này - Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ có thể đóng một vai trò cố vấn chiến đấu hạn chế nhưng quan trọng. Nhiệm vụ của họ sẽ là huấn luyện về liên lạc an toàn, an ninh hoạt động và các kỹ năng cơ bản, cũng như phối hợp hỗ trợ không quân tầm gần, để giữ cho các thủ lĩnh sống sót và các nhóm của họ được kết nối. Dựa trên các thiết bị đầu cuối Starlink đã hoạt động bên trong Iran và các cuộc tấn công đang diễn ra nhằm vào các mạng lưới gây nhiễu của chế độ, nỗ lực cố vấn này sẽ đảm bảo lực lượng kháng chiến duy trì các liên kết chỉ huy và kiểm soát mạnh mẽ, điều cần thiết để mở rộng hoạt động trên toàn quốc. Sự hiện diện của các cố vấn Mỹ, cùng với các đơn vị Artesh đào ngũ, sẽ thể hiện sự nghiêm túc đối với cả lực lượng kháng chiến và chính quyền mà không cần phải triển khai lực lượng mặt đất quy mô lớn quá sớm. Trình tự ưu tiên lực lượng kháng chiến, việc tiếp cận có mục tiêu với Artesh, và vai trò cố vấn chiến đấu cho Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ đều phù hợp với các tiền lệ lịch sử (ví dụ: Liên minh phương Bắc năm 2001 ở Afghanistan và U.S.

Như Carl von Clausewitz đã hiểu, kết quả quyết định trong chiến tranh đạt được bằng cách tấn công vào trọng tâm thực sự của kẻ thù bằng các biện pháp chính trị và quân sự phối hợp, chứ không phải thông qua sự hao mòn liên tục ở vùng ngoại vi. Các nhà phê bình sẽ cảnh báo về sự leo thang, sa lầy hoặc hậu quả không lường trước được. Những lo ngại này đáng được tôn trọng, đặc biệt là khi nhiều người Mỹ - kiệt sức vì cuộc chiến kéo dài - đã tin rằng cuộc xung đột này nên được tuyên bố "kết thúc". Cảm xúc đó là bản chất con người và dễ hiểu. Tuy nhiên, một tuyên bố chiến thắng sớm sẽ là ảo tưởng nguy hiểm. Nỗ lực này sẽ cần thời gian, nhưng chiến thắng thực sự - đảm bảo chế độ thần quyền thực sự không bao giờ theo đuổi vũ khí hạt nhân nữa - đòi hỏi nhiều hơn là các hoạt động đối đầu, sự sụp đổ kinh tế hoặc một văn bản vô giá trị. Chỉ riêng hành động được nêu ra ở đây đã loại bỏ cả kho dự trữ uranium làm giàu ở Isfahan và những người theo chủ nghĩa ý thức hệ quyết tâm nắm giữ chúng, ngay cả với cái giá tàn khốc là làm tê liệt quốc gia của họ và làm nghèo người dân Iran. Bởi vì Hoa Kỳ đã công khai cam kết đảm bảo Iran không bao giờ có được vũ khí hạt nhân, chúng ta có một mệnh lệnh chiến lược và đạo đức phải hoàn thành công việc một cách đúng đắn và thực hiện mục tiêu cuối cùng đã tuyên bố một cách triệt để. Chỉ riêng sức mạnh đối đầu đã không đủ để thay đổi hành vi của chế độ. Sự mệt mỏi vì các lệnh trừng phạt là có thật. Các cuộc tấn công ủy nhiệm vẫn tiếp diễn. Cỗ máy tư tưởng của chế độ thần quyền vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ bằng cách kết hợp một lực lượng kháng chiến nội bộ đáng tin cậy — với sức mạnh mới có được từ Artesh — với sự hỗ trợ bên ngoài có mục tiêu, Hoa Kỳ mới có thể biến chính sách “không bao giờ” của mình thành hiện thực lâu dài.

Các cuộc biểu tình năm 2025–2026 đã chứng minh rằng người dân Iran không đầu hàng các giáo sĩ. Lòng dũng cảm của họ, giờ đây được kết hợp với triển vọng thực tế về các cuộc đào ngũ quân sự, đã tạo ra một cơ hội rộng lớn hơn bất kỳ cơ hội nào trong bốn thập kỷ qua. Giờ đây, nhiệm vụ cấp thiết của Mỹ là cung cấp cấu trúc, sự bảo vệ và trình tự các bước có thể biến cơ hội đó thành sự thay đổi không thể đảo ngược. Isfahan không chỉ là một mục tiêu; nó là một điểm then chốt. Bằng cách xây dựng lực lượng kháng chiến trước tiên — bảo vệ các nhà lãnh đạo trẻ, chuyên nghiệp hóa các mạng lưới và thuyết phục những người theo chủ nghĩa thực dụng của Artesh — và sau đó tạo điều kiện cho một chiến dịch quyết định tại Isfahan, Hoa Kỳ cuối cùng có thể biến “không bao giờ” thành không bao giờ. Lựa chọn khác là chứng kiến ​​các đường hầm ở Isfahan trở thành nơi khai sinh ra cuộc khủng hoảng hạt nhân tiếp theo. Lịch sử sẽ phán xét liệu chúng ta đã chọn con đường khó khăn nhưng cần thiết hay chấp nhận thất bại lâu dài quen thuộc.

https://www.realcleardefense.com/articles/2026/05/06/make_never_actually_mean_never_for_iran_1180986.html

NVV

 

 2026-05-07  

Sự kết thúc của chủ nghĩa Khomeini và tương lai của Hồi giáo Shia

(Ayaan Karan, RCD, 7/5/2026)

Từ năm 1979, chế độ Iran đã đầu tư mạnh vào việc định hình bản sắc chính trị của người Shia xung quanh chủ nghĩa Khomeini, lan rộng từ Bahrain đến Hoa Kỳ. Dựa trên các nguồn tư liệu Shia không thuộc phái Mười Hai Imam [thuộc giáo phái Ali - Imam là chức đại giáo sĩ], Khomeini đã đóng vai trò quyết định trong việc biến một cộng đồng vốn có truyền thống ôn hòa thành một cộng đồng cách mạng về chính trị. Nhưng sự sụp đổ của đế chế khu vực Iran và cái chết của Khamenei đặt ra câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo với đạo Shia? Liệu người Shia sẽ quay trở lại tư duy chính trị ôn hòa hơn, hay một phong trào cực đoan hơn sẽ xuất hiện sau sự sụp đổ của phe Trục (the Axis - gồm Lebanon, Gaza và Houthis)? Câu trả lời là cả hai.

Theo truyền thống, đạo Shia Mười Hai Imam chưa bao giờ là một tôn giáo am hiểu chính trị. Chờ đợi sự xuất hiện của Imam thứ mười hai (Đấng Messiah), người Shia Mười Hai Imam có xu hướng ôn hòa và thực dụng về chính trị. Tuy nhiên, chủ nghĩa cực đoan dị giáo không phải là điều xa lạ với đức tin Shia. Trong phần lớn lịch sử Hồi giáo sơ khai, đa số người Shia không phải là người thuộc phái Mười Hai Imam, nhánh chiếm ưu thế ngày nay. Tôn giáo này là một mạng lưới các giáo phái khác nhau, nhiều trong số đó được gọi là Ghulat (Những kẻ quá khích). Các giáo phái Ghulat khác nhau về nhiều vấn đề, nhưng đặc điểm chung bao gồm chủ nghĩa tận thế, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa cứu thế tập trung vào một nhà lãnh đạo lôi cuốn. Nhà lãnh đạo này hoặc sẽ tự xưng là đấng cứu thế hoặc được tôn vinh như vậy sau khi chết, buộc các Imam Shia Twelver phải dành thời gian để bác bỏ các nhánh Ghulat này và giữ cho Shia theo chủ nghĩa ôn hòa và dựa trên niyyah (ý định) chân chính. Nhưng sự trỗi dậy của một học giả lôi cuốn và năng động về chính trị đã đảo ngược tình thế và đe dọa chia rẽ Shia một lần nữa.

Ít nhất từ ​​những năm 1960, ý tưởng về một chính phủ do giáo sĩ Shia lãnh đạo, được gọi là Velayat-e-Faqih (Sự giám hộ của nhà luật học Hồi giáo), đã chiếm giữ tâm trí của giáo sĩ Ruhollah Khomeini. Ông ta lập luận rằng cho đến khi Imam thứ mười hai tái xuất hiện, tầng lớp giáo sĩ nên nắm quyền kiểm soát toàn diện chính phủ và xã hội với tư cách là đại diện của Imam. Tầng lớp giáo sĩ Shia coi chính trị là lĩnh vực của nhà lãnh đạo chính trị và bác bỏ lý thuyết của Khomeini là dị giáo.

Để ngăn chặn sự chia rẽ, các đối thủ giáo sĩ của Khomeini đã bị bắt giữ và các trường dòng của họ bị đóng cửa. Trường dòng Hawza ở Qom bị chiếm đoạt, và chương trình giảng dạy của nó nhanh chóng được thay đổi để phù hợp với Velayat-e-Faqih. Theo thời gian, Iran bắt đầu đào tạo các giáo sĩ theo chủ nghĩa Khomeini và bịt miệng các giáo sĩ Shia truyền thống.

Nhưng sự nắm quyền của Khomeini không chỉ mang tính tôn giáo; nó còn mang tính chính trị. Chủ nghĩa Khomeini áp dụng một chiến lược tập trung vào "sự kháng cự vĩnh cửu". Như lãnh đạo Hezbollah Naim Qassem đã nói, "Đối với chúng tôi, sự kháng cự là một tầm nhìn xã hội trên mọi phương diện, bởi vì đó là sự kháng cự về quân sự, văn hóa, chính trị và truyền thông." Theo quan điểm của Khomeini, xã hội Shia nên phục tùng người đại diện của Imam trên Trái đất, chính là ông ta, người sẽ lãnh đạo một cuộc kháng chiến được khoác lên mình lớp vỏ tôn giáo chống lại những kẻ áp bức phương Tây. Về mặt bản thể học, đó không phải là triết lý Ghulat vì Khomeini đã không tự xưng mình là đấng cứu thế hay thần thánh. Nhưng chính quan điểm cho rằng chế độ là tiền thân của Imam thứ mười hai đã ngầm gieo vào đó ý niệm rằng thời kỳ tận thế đang đến gần, đặt nền móng cho một Ghulat hiếu chiến trỗi dậy trở lại để chuẩn bị cho sự xuất hiện của Imam thứ mười hai.

Để thực hiện thông điệp về “sự kháng chiến vĩnh cửu”, các cộng đồng Shia ở Lebanon và vùng Vịnh đã được hỗ trợ vật chất để tổ chức các nhóm chiến binh theo chủ nghĩa Khomeini. Những người Shia vốn yếu thế trước đây đang hình thành một bản sắc chính trị tập trung vào việc chống lại sự áp bức. Mặc dù hầu hết các Imam đều cố tình tránh xa chính trị, chế độ Iran vẫn được tôn vinh như là đại diện trần gian của Imam thứ mười hai. Hơn nữa, các phong trào do người Sunni lãnh đạo như phong trào Palestine đã bị Khomeini lợi dụng để giành được sự ủng hộ từ người Hồi giáo và các phong trào chống thực dân trên toàn thế giới. Kết hợp các yếu tố của Hồi giáo Shia Mười Hai phái, chủ nghĩa cứu thế và chủ nghĩa Thế giới thứ ba, Khomeini đã xây dựng một chế độ toàn trị lấy chính ông làm hiện thân của công lý thiêng liêng chống lại sự áp bức.

Tuy nhiên, sau những tổn thất lớn trong khu vực và tình trạng bất ổn trong nước, chế độ Iran và phe Trục dường như đang ở thế yếu cuối cùng. Vậy còn lại gì cho bản sắc chính trị của người Shia? Hiện tại có hai con đường. Thứ nhất là quay trở lại chủ nghĩa im lặng. Không có chế độ, người Shia có thể từ bỏ chủ nghĩa Khomein và hội nhập vào Trung Đông mới, ưu tiên tiến bộ và phát triển hơn là kháng chiến vĩnh viễn. Thứ hai là khả năng cực đoan hóa hơn nữa của những người Shia theo chủ nghĩa Khomein. Trong lịch sử, cái chết của các thủ lĩnh Ghulat đã dẫn đến sự gia tăng chủ nghĩa tận thế. Trong kịch bản này, đức tin Shia sẽ bị chia rẽ bởi những nhóm dị giáo có niềm tin tương tự như chủ nghĩa tận thế của ISIS, tin rằng sự thất bại của Iran là dấu hiệu của ngày tận thế và nhiệm vụ của họ là đẩy nhanh sự xuất hiện của Imam thứ mười hai.

Khi người Shia ở Trung Đông bắt đầu phải đối mặt với sự giận dữ của các nhóm khác vì sự ủng hộ ngầm hoặc công khai của họ đối với tham vọng đế quốc của Iran, nguy cơ cực đoan hóa của người Shia tăng lên theo cấp số nhân. Tại Lebanon, người Shia đang bị chính những người Lebanon khác đổ lỗi và quấy rối vì cho rằng Hezbollah đã kéo cả nước vào cuộc xung đột. Các nhóm dân quân Sunni cực đoan tiếp tục quấy rối và giết hại người Alawite ở Syria mà hầu như không có biện pháp pháp lý nào để đối phó. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất gần đây đã bắt đầu trục xuất công dân Iran. Ở nhiều nơi, người Shia đã tự gây ra sự bị gạt ra ngoài lề và bị đàn áp cho chính mình. Như đã thấy với cuộc cách mạng Sunni ở Iraq và Syria, sự cô lập nhóm kết hợp với chủ nghĩa cực đoan tôn giáo có thể dẫn đến nổi dậy.

Để ngăn chặn sự trỗi dậy của một cuộc nổi dậy "Khameneist", hai bên phải can thiệp: giáo sĩ Hawza ở Najaf và Hoa Kỳ.

Sau Chiến dịch Tự do Iraq, giáo sĩ ở Najaf, đứng đầu là Ayatollah Sistani, đã được các quan chức chính quyền Bush coi là một thể chế quan trọng trong việc làm giảm bớt sự phản đối của người Shia Iraq đối với lực lượng liên quân. Sistani nổi tiếng với việc khuyên người Shia Iraq không nên cản trở cuộc xâm lược của Mỹ và chấm dứt tình trạng bế tắc giữa quân đội Mỹ và lực lượng của Muqtada al-Sadr tại Thánh đường Imam Ali năm 2004.

Nhánh Hồi giáo Shia ôn hòa, đại diện bởi Hawza của Najaf, vẫn được coi là nguồn tư vấn tôn giáo đáng tin cậy nhất đối với người Shia trên toàn thế giới. Sistani chưa bao giờ tán thành hệ thống kiểm soát của giáo sĩ được áp dụng ở Iran và bác bỏ quan điểm về sự kháng chiến vĩnh viễn trên toàn thế giới, ông thích làm việc một cách hòa bình trong khuôn khổ hệ thống quốc gia. Mặc dù có ảnh hưởng này, Ayatollah Sistani nhìn chung đã tránh chỉ trích chế độ Iran để ngăn chặn sự chia rẽ nội bộ trong cộng đồng Shia. Tuy nhiên, trong các cuộc trò chuyện riêng, ông đã nói rõ rằng ông phản đối những hành động khiêu khích liên tục của phe Trục Iran gây nguy hiểm cho người Shia.

Trong cuộc chiến Lebanon năm 2024, Sistani đã gửi một thông điệp riêng cho Hezbollah nói rằng, “Lebanon không nên bị lôi kéo vào các cuộc chiến phục vụ các chương trình nghị sự nước ngoài làm sâu sắc thêm nỗi đau khổ của người dân nước này.”

Nếu Sistani thực sự muốn bảo vệ người Shia, đã đến lúc phải bác bỏ trò hề về sự thống nhất nội bộ này và nhận ra rằng do sự kiêu ngạo của Khomeini và Khamenei, Hồi giáo Shia đang có nguy cơ tan rã thành hỗn loạn. Coi chủ nghĩa Khomeini như một sự lệch lạc tạm thời trong Hồi giáo Shia sẽ là tốt nhất. Do đó, các bước tiếp theo của Sistani nên là ra lệnh thanh trừng những người theo chủ nghĩa Khomeini khỏi tất cả các thể chế ở Najafi, ra lệnh cho Hezbollah và Hashd al-Shaabi (các lực lượng ủy nhiệm của Iran ở Lebanon và Iraq) giải giáp và công khai từ bỏ hệ thống Velayat-e-Faqih.

Về mặt chính trị, Hoa Kỳ, quốc gia bảo đảm an ninh cho khu vực, phải thực hiện mọi biện pháp có thể để ngăn chặn một cuộc nổi dậy thảm khốc của người Shia có thể đẩy toàn bộ khu vực vào hỗn loạn. Trong lịch sử, Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách nhân đạo để bảo vệ những người dễ bị tổn thương trên thế giới, như người Hồi giáo Bosnia, người Yazidi ở Iraq và người Kitô giáo Nigeria. Những bước đầu tiên sẽ là gây áp lực lên chính quyền Syria của al-Sharaa để bảo vệ các nhóm thiểu số Alawite và Shia khỏi sự quấy rối và sát hại, khuyên các đồng minh rằng những lời lẽ mô tả cuộc xung đột Iran hiện tại như một liên minh Mỹ-Sunni chống lại người Shia sẽ chỉ tạo ra thêm khủng bố, và thông báo cho Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC), Israel và khu vực rộng lớn hơn rằng Hoa Kỳ sẽ không dung thứ cho việc nhắm mục tiêu vào người Shia trong khu vực vì lý do giáo phái.

Tóm lại, Trung Đông đang đứng trước ngã ba đường, không chỉ về địa chính trị mà còn về tôn giáo. Bóng dáng khủng bố của Khomeini có thể đang mờ dần, nhưng hệ tư tưởng của ông ta vẫn còn in đậm trong tâm trí người Shia bình thường. Nếu những người theo chủ nghĩa hòa bình không nắm quyền kiểm soát, tôn giáo này có thể bị chia rẽ trong tương lai gần. Đồng thời, nếu Hoa Kỳ không giúp tạo ra các điều kiện vật chất để ngăn chặn chủ nghĩa cực đoan, mối đe dọa lớn cuối cùng trong khu vực đang trên bờ vực sụp đổ có thể không còn quan trọng về lâu dài. Đã đến lúc hợp tác với những người bạn cũ của chúng ta ở Najaf và tạo ra một Trung Đông mới. Thành công sẽ quyết định liệu khu vực này sẽ trở thành một vùng đất hòa bình mới hay một vùng đất chiến tranh cũ.

https://www.realcleardefense.com/articles/2026/05/07/the_end_of_khomeinism_and_the_future_of_shiism_1181168.html

 

NVV

 

 2026-04-30  

Iran đang thua trong cuộc chiến này, và cán cân quyền lực toàn cầu đang dịch chuyển.

(Victor Davis Hanson, podcast, 30/4/2026)

Chúng ta sắp bước sang ngày thứ 60 của cái gọi là cuộc chiến tranh Iran, và vẫn còn những tiếng nói lớn cho rằng Donald Trump đã thất bại, rằng cuộc chiến không diễn ra tốt đẹp.

Điều đó hoàn toàn phi thực tế. Nó trái ngược với bằng chứng.

Hiện đã 60 ngày trôi qua, và Iran đang mất khoảng 500 triệu đô la mỗi ngày do thiếu nguồn cung. Trong một hoặc hai tuần nữa, không gian chứa dầu của họ sẽ cạn kiệt, và nếu vậy, họ buộc phải ngừng bơm dầu hoặc nếu không ngừng bơm, các giếng dầu của họ sẽ sụp đổ.

Họ hoặc phải ngừng bơm, hoặc phải xây dựng, càng nhanh càng tốt, các cơ sở chứa đựng, mà chúng ta sẽ biết và có thể loại bỏ.

Vì vậy, họ đang đứng trên bờ vực kinh tế. Họ không có khả năng quân sự. Diễn biến của cuộc chiến, kết cục của nó, hoàn toàn nằm trong tay Hoa Kỳ. Điều đó phụ thuộc vào việc bạn muốn đầu hàng vô điều kiện và sẵn sàng trả thêm một cái giá – có thể thêm một hoặc hai tháng – bằng cách bóp nghẹt nền kinh tế, hay bạn muốn sử dụng không quân để phá hủy các cây cầu, và bạn hoàn toàn có thể làm được điều đó.

Ý tôi muốn nói là đây không phải là vấn đề quân sự như Afghanistan và tỉnh Helmand, hay việc thủy quân lục chiến phải tiến vào Fallujah ở Iraq. Đây hoàn toàn là vấn đề chính trị. Nó không phải là vấn đề quân sự. Vấn đề quân sự đã được giải quyết. Vấn đề chỉ là Tổng thống Donald Trump muốn trả giá chính trị bao nhiêu – hay nói đúng hơn là rủi ro bao nhiêu – để có được sự đầu hàng vô điều kiện và lật đổ chế độ đó.

Ông ấy không cần phải làm vậy. Đó không phải là một trong những kế hoạch trước chiến tranh của ông ấy. Kế hoạch trước chiến tranh là vô hiệu hóa sự phổ biến vũ khí hạt nhân của Iran, lực lượng tên lửa và máy bay không người lái, làm suy yếu quân đội của nước này để nó không còn khả năng tiến hành chiến tranh, ngăn chặn việc trợ cấp cho các lực lượng khủng bố ủy nhiệm của nó, và đảm bảo rằng nó không còn tấn công người Mỹ và các đồng minh của chúng ta như đã làm trong 47 năm qua. Hầu hết các mục tiêu này đã được đáp ứng, không hoàn toàn, nhưng phần lớn là vậy.

Vậy, những tác động chiến lược là gì? Mới đây, OPEC đã tuyên bố – tôi nên nói thêm là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và có lẽ cả Oman nữa – rằng họ không muốn tham gia OPEC. Hãy nhớ về OPEC: Tổ chức này được thành lập năm 1973, và mục đích chính là đẩy giá dầu lên cao, và họ đã làm được điều đó bằng cách không bơm lượng dầu mà họ có thể bơm.

Hiện tại, mỗi quốc gia đó đều có hạn ngạch riêng, và con số đó chỉ bằng khoảng 70% hoặc 80% lượng dầu họ có thể bơm nếu không tham gia liên minh. Đó là lượng dầu mà Hoa Kỳ đang bơm hiện nay – ở mức tối đa. Nga có lẽ cũng sẽ sớm bơm ở mức tối đa. Venezuela cũng sẽ sớm bơm ở mức tối đa.

Nhưng điều bạn đang nói đến có lẽ là 2 triệu thùng dầu chỉ riêng từ UAE. Có thể nếu Ả Rập Xê Út rút lui, họ có thể bơm thêm 20%. Ý tôi là giá trị chiến lược dài hạn của eo biển Hormuz sẽ giảm sút vì tất cả các quốc gia này, một khi thấy một bên rút lui và tận dụng lợi thế giá cao, họ sẽ ồ ạt tìm cách rút lui theo.

Nhưng một khi họ khai thác được thêm dầu — và họ hoàn toàn có khả năng làm điều đó ngay lập tức — giá dầu sẽ giảm, và eo biển Hormuz sẽ không còn quan trọng như trước nữa. Và điều đó sẽ không tốt cho Iran nếu nước này vẫn còn giếng dầu trong vòng hai hoặc ba tuần tới.

Một điều khác cần nhớ là Trung Quốc. Ai cũng nói về, "Trung Quốc, Trung Quốc, Trung Quốc."

Trung Quốc đã không thể hiện tốt trong mắt công chúng. Suốt thời chính quyền Biden, nước này đã đe dọa xâm lược Đài Loan. Năm này qua năm khác, Trung Quốc liên tục tung ra các video quay cảnh ném bom Nhật Bản, đe dọa chiếm Đài Loan, và rao giảng với người dân: “Đừng nói với chúng tôi rằng chúng tôi không thể làm được”.

Các chuyên gia nói rằng họ được người Nga khuyến khích. Tôi chưa bao giờ hiểu điều đó – Nga đang sa lầy trong một vũng lầy giống như Stalingrad. Nhưng một khi họ nhìn vào kiểu chiến tranh này – chiến tranh trên không ở vùng vịnh – và họ nghĩ, chúng ta phải điều động khoảng 300.000 quân vượt qua 23 km biển khơi. Và từ những gì chúng ta thấy từ người Mỹ, người Israel, các cường quốc phương Tây này có khả năng khổng lồ để tràn ngập khu vực bằng máy bay không người lái, tên lửa, hệ thống phòng không hiện đại, tầu ngầm không người lái dưới nước, máy bay không người lái trên mặt nước. Đó có thể là một cơn ác mộng.

Và đó còn chưa kể đến khả năng tự vệ của Đài Loan. Vì vậy, xét về phân tích lợi ích - chi phí, tôi nghĩ thông điệp ở đây là Hoa Kỳ có thể làm hầu hết mọi thứ mình muốn về mặt quân sự, và Trung Quốc sẽ phần nào bị răn đe.

Hãy nhớ rằng họ đã mất ảnh hưởng ở Venezuela và Iran. Về cơ bản, cùng với Nga, họ đã kiểm soát chế độ Maduro, mua dầu bị cấm vận của chúng với giá rẻ, bán vũ khí cho chúng, và cố gắng mở rộng ảnh hưởng của mình ở Mỹ Latinh - kênh đào Panama là một ví dụ điển hình.

Điều tương tự cũng đúng với Iran. Họ mua dầu bị cấm vận với giá chiết khấu rồi bơm vào Iran những vũ khí hiện đại với hy vọng Iran sẽ sử dụng những vũ khí đó để cản trở hoặc vô hiệu hóa Israel và tấn công các cơ sở của Hoa Kỳ, như họ đã làm ở Syria và Iraq. Và sau đó, Trung Quốc muốn Iran – điều mà họ đã làm – cung cấp vũ khí cho Hamas, Hezbollah và Houthi.

Chuyện đó rồi sẽ qua thôi. Iran đang phá sản. Người dân sẽ không chấp nhận — hoặc chính phủ sẽ không ngu ngốc đến mức bắt đầu chi khoảng 50-60 triệu đô la mỗi tháng cho các nhóm khủng bố Ả Rập chỉ để chúng gây hỗn loạn trong khi người dân đang chết đói.

Và họ có lẽ đã mất nửa nghìn tỷ đô la trong khoản đầu tư 50 năm vào các ngành công nghiệp quân sự, công nghiệp và hạt nhân của mình.

Vì vậy, Trung Quốc đang ở thế bất lợi. Nga đã mất chế độ Assad. Họ bị đẩy ra khỏi Trung Đông. Họ chỉ có một chút lợi nhuận tạm thời vì giá dầu đang tăng lên. Nhưng như tôi đã nói, với sự tan rã của OPEC và việc gia tăng sản lượng ở Venezuela và Hoa Kỳ, ngay khi mọi thứ lắng xuống, giá dầu sẽ sụp đổ, và Nga sẽ là bên thua thiệt lớn trong chuyện này.

Quan trọng hơn, họ lại một lần nữa chứng kiến ​​màn trình diễn sức mạnh không quân của Mỹ, và có lẽ, từ đó, họ liên hệ nó với năng lực của NATO. Vì vậy, tôi nghĩ họ sẽ cố gắng rút khỏi cuộc chiến và giành được càng nhiều lãnh thổ càng tốt dọc theo chiến trường hiện tại — có thể gọi đó là khu phi quân sự (DMZ). Nhưng họ đang cạn kiệt nhân lực và tiền bạc. Họ đã mất một triệu rưỡi binh sĩ.

Và vì vậy, cuộc chiến này có lẽ đã nhắc nhở họ rằng họ không có nhiều lựa chọn chiến lược ở những nơi khác, và họ không thể phát triển chúng chừng nào còn bị ràng buộc ở Ukraine.

Châu Âu là bên thua cuộc lớn, rất lớn. Họ đã thiết lập mối quan hệ với Donald Trump. Họ đã đồng ý mức đầu tư 2% GDP cho quốc phòng và đã thực hiện đúng cam kết đó, nhưng họ đang bàn đến mức 5%. NATO đã gọi Trump là "Ông bố", và rồi đột nhiên Trump cho rằng họ là những đồng minh bình thường.

Vì vậy, khi ông ấy vào cuộc chiến, ông ấy không muốn tiết lộ những gì mình định làm vì ông ấy cảm thấy phe cánh tả Mỹ và Quốc hội, hoặc người châu Âu sẽ tiết lộ — và họ sẽ vạch trần bất kỳ điều bất ngờ nào.

Nhưng quan trọng hơn, ông cảm thấy rằng người Tây Ban Nha, người Ý, người Anh, người Pháp — tất cả bọn họ — sẽ chỉ nói, “Không bình luận,” hoặc “Đây là nỗ lực của Hoa Kỳ. Chúng tôi ủng hộ đồng minh NATO của mình,” rồi sau đó gọi điện cho ông và nói “Donald, chúng tôi sẽ không nói về chuyện này nhưng sẽ sử dụng không phận của chúng tôi, sử dụng các căn cứ NATO của chúng tôi, ông trả tiền cho hầu hết chúng. Và đây là những gì chúng tôi sẽ làm nhưng chúng tôi sẽ làm một cách bí mật.”

Không. Thay vào đó, họ chiều lòng các cử tri Hồi giáo, các cử tri cánh tả của mình. Ở Tây Ban Nha, thậm chí cả ở Ý với Meloni, họ nói: Không cho phép máy bay ném bom ở Sicily. Không cho phép máy bay ở Tây Ban Nha. Không cho phép bay qua Pháp. Không cho phép sử dụng căn cứ Diego Garcia trừ khi đó là vì mục đích phòng thủ.

Tấn công (để) phòng thủ là gì? Điều đó có nghĩa là gì? Chúng tôi sẽ cho phép các bạn sử dụng hệ thống tên lửa nếu ai đó cố gắng phá hủy căn cứ của chúng tôi — chúng tôi sẽ cho phép các bạn bảo vệ căn cứ của chúng tôi — nhưng đừng cất cánh bay đi đâu đó và tấn công bất cứ ai.

Điều đó thật nực cười. Châu Âu đã chịu thiệt hại nặng nề - thực sự rất nặng nề.

Và rồi họ làm mọi chuyện tồi tệ hơn khi nói rằng họ sẽ tuần tra eo biển, nhưng sau đó họ nhận ra rằng eo biển có thể là một khu vực nguy hiểm, và họ sẽ phải sử dụng vũ lực nếu chúng ta giao nó cho họ, mà họ lại không có đủ lực lượng đó. Vì vậy, tất cả chỉ là lời nói suông, và nó dựa trên sự đố kỵ và tức giận đối với Hoa Kỳ.

Và đó là một trò chơi rất nguy hiểm mà họ đang chơi, bởi vì đến một lúc nào đó, Hoa Kỳ sẽ nói: Chúng tôi yêu quý các bạn. Châu Âu là một nơi tuyệt vời. Các bạn có vấn đề - hãy tự giải quyết chúng đi. Có lẽ chúng ta sẽ có một liên minh tự nguyện, giống như các bạn đã làm ở Serbia.

Các bạn đã đến Serbia — đó không phải là một quốc gia thành viên NATO. Kosovo — các bạn không bảo vệ một quốc gia NATO. Các bạn đã đến Libya — người dân ở đó không phải là thành viên NATO. Nhưng các bạn lại hoạt động độc lập liên tục — ở Chad, ở quần đảo Falkland — và chúng tôi luôn giúp đỡ các bạn. Rồi khi chúng tôi muốn hoạt động độc lập, các bạn lại lưỡng lự.

Vậy thì cứ làm những gì các bạn muốn, nhưng đừng lôi chúng tôi vào.

Và cuối cùng, phe tả Mỹ cứ liên tục nói rằng cuộc chiến đã thua, cuộc chiến đã thua, cuộc chiến đã thua. Donald Trump đã làm hỏng tất cả.

Đừng vội đánh giá thấp ông ấy. Chúng ta còn sáu tháng nữa trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Giá dầu có thể giảm mạnh. Rất nhiều điều mà Donald Trump đã thực hiện – với dự luật lớn và tuyệt vời, việc bãi bỏ quy định, cắt giảm thuế, lượng đầu tư nước ngoài khổng lồ – tất cả những điều đó đều có đủ thời gian để phát huy tác dụng vào tháng Tám hoặc tháng Bảy và tạo ra một nền kinh tế mạnh mẽ hơn hiện tại, khi giá dầu còn rẻ.

Quan trọng hơn, ông ta có thể nói rằng trong chế độ, lãnh thổ và nhiệm kỳ của mình, ông ta đã vô hiệu hóa mối đe dọa từ Venezuela. Đó là việc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lan rộng khắp Nam Mỹ - Mỹ Latinh, và ông ta đã vô hiệu hóa Trung Đông theo cách mà cả bảy vị tổng thống tiền nhiệm đều từng mơ ước nhưng chưa bao giờ làm được.


https://www.theepochtimes.com/opinion/iran-is-losing-this-war-and-the-global-balance-of-power-is-shifting-6020660

Victor Davis Hanson là một nhà nghiên cứu văn học cổ điển và sử gia quân sự. Ông là giáo sư danh dự về văn học cổ điển tại Đại học bang California, nghiên cứu viên cao cấp về văn học cổ điển và lịch sử quân sự tại Đại học Stanford, thành viên của trường Hillsdale College, và thành viên ưu tú của Trung tâm về Sự vĩ đại của nước Mỹ. Ông Hanson đã viết 17 cuốn sách, bao gồm “Phương thức chiến tranh phương Tây”, “Những cánh đồng không ước mơ”, “Lý lẽ ủng hộ Trump” và “Người công dân sắp chết”.

NVV

 

 2026-04-13  

BẢY HUYỀN THOẠI VỀ CHIẾN TRANH IRAN

(Michael Doran, Hudson Institute, 13/4/2026)

Tại sao rất nhiều người, cả cánh tả và cánh hữu, cứ hiểu sai về Trump?

Hành động của Donald Trump ở Trung Đông liên tục gây ngạc nhiên cho giới chính sách đối ngoại và giới tinh hoa truyền thông. Theo các nhà bình luận ở cả cánh hữu và cánh tả, lý do là Trump là một kẻ cuồng nhiệt - hoặc, như Jon Stewart và cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Jake Sullivan gần đây đã đồng ý trên The Daily Show, có lẽ nghiện cocaine.

Tuy nhiên, trong khi Trump đã nhiều lần thách thức sự đồng thuận của Washington DC về Iran và các đồng minh của họ trong một năm rưỡi qua, không có hậu quả thảm khốc nào mà các nhà bình luận có ảnh hưởng dự đoán đã xảy ra. Chiến tranh thế giới thứ ba đã không nổ ra. Nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa sụp đổ. Thay vào đó, giới lãnh đạo Iran đã chết hoặc bị chặt đầu, chương trình vũ khí hạt nhân của họ bị chôn vùi dưới những ngọn núi đổ nát, và hầu hết hải quân của họ nằm dưới đáy biển. Trong khi sự mất mát của 13 quân nhân Mỹ là một vấn đề nghiêm trọng, hầu như không phải hàng ngàn người chết và bị thương thường được dự đoán là hậu quả của bất kỳ hành động lớn nào của Mỹ. Israel vẫn tồn tại. Ả Rập Saudi, UAE và Kuwait, cùng với trữ lượng dầu mỏ của họ cũng vậy.

Trump đã trừng phạt nặng nề để đổi lấy những hậu quả tương đối nhẹ, nhưng các chuyên gia khẳng định rằng một Iran bậc thầy đang ra lệnh cho các sự kiện. Chiến thuật chiến đấu "thành công" của Tehran được cho là đã buộc ông Trump phải chấp nhận một lệnh ngừng bắn. Những người chứng kiến sau đó đã bối rối khi Mỹ rút khỏi các cuộc đàm phán ở Islamabad và thực hiện các bước để mở lại eo biển Hormuz, gây thiệt hại chiến lược cho Trung quốc và lợi ích của các nhà sản xuất năng lượng Mỹ.

Một phần, những bất ngờ tiếp tục đến, bởi vì những người hiểu biết (cognoscenti) từ chối ghi nhận Trump và Netanyahu đã giành chiến thắng. Vào ngày 11 tháng 4, nhà báo Tom Friedman của New York Times đã nói to phần im lặng trên Smerconish của CNN. Ông thừa nhận rằng trong khi ông muốn thấy chế độ Iran bị đánh bại về mặt quân sự "bởi vì chế độ này là một chế độ khủng khiếp đối với người dân và khu vực", vấn đề thực sự đối với ông là một điều hoàn toàn khác: "Tôi thực sự không muốn thấy Bibi Netanyahu hoặc Donald Trump được củng cố về mặt chính trị bởi cuộc chiến này vì họ là hai con người khủng khiếp. Cả hai đều tham gia vào các dự án phản dân chủ ở đất nước của họ [Mỹ]. Cả hai đều bị cáo buộc là kẻ lừa đảo. Họ là những người khủng khiếp, khủng khiếp đang làm những điều khủng khiếp đối với vị thế của Mỹ trên thế giới và vị thế của Israel trên thế giới".

Thái độ của Friedman không phải là đặc biệt. Trên phần lớn các phương tiện truyền thông Mỹ và Israel, các học giả dày dạn kinh nghiệm không thể gạt bỏ sự khinh miệt của họ đối với Trump và Netanyahu và đã tham gia vào điệp khúc miêu tả chiến dịch này như một chủ nghĩa phiêu lưu không mục đích. Khi làm như vậy, họ thúc đẩy chính những lập luận phục vụ kẻ thù của Mỹ, làm suy yếu uy tín của một hành động răn đe thành công và làm suy yếu vị thế của các liên minh mạnh mẽ chia sẻ gánh nặng trong thế kỷ 21.

Chiến dịch của Trump về Iran đang tỏ ra rất khó để phân tích đối với nhiều nhà quan sát vì đó là hai cuộc xung đột trong một. Trên chiến trường, nó đưa lực lượng Mỹ và Israel chống lại Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran. Ở trong nước, trong lĩnh vực chiến tranh ý thức hệ, nó đặt hai hệ thống niềm tin chiến lược đối địch của Mỹ chống lại nhau – nhưng với một sự thay đổi (twist). Ở một góc là những người bảo thủ truyền thống, đại diện ngày nay là Donald Trump và Benjamin Netanyahu. Ở phía khác là những người tiến bộ xuyên quốc gia liên kết với Barack Obama và Joe Biden. Nhưng phía này rất đông đúc: đứng bên cạnh họ là những nhân vật theo chủ nghĩa cô lập có ảnh hưởng như Tucker Carlson và các tổ chức định hướng kiềm chế như Viện Cato và Ưu tiên Quốc phòng (Defense Priorities), những người thường xuyên lặp lại cùng một lập luận, thường là lặp lại nguyên văn (verbatim).

Tại sao cánh hữu theo chủ nghĩa biệt lập lại kề vai sát cánh với cánh tả toàn cầu? Cùng với một nhóm kẻ thù chung là Trump và Netanyahu, những người cấp tiến và những người ưu tiên nước Mỹ chia sẻ sự không thích sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ và việc sử dụng lực lượng quân sự, và do đó cả hai đều bào chữa cho hành vi của kẻ thù của Mỹ trong khi đổ lỗi cho bất kỳ cuộc xung đột nào. Khi nói đến việc giải thích chính sách đối ngoại của Trump và kết quả của nó, hai nhóm thường hoạt động như một.

Ngược lại, quan điểm cô lập tiến bộ không tương thích với chủ nghĩa bảo thủ truyền thống của Mỹ sau chiến tranh. Những người bảo thủ coi Cộng hòa Hồi giáo là một chế độ thần quyền cách mạng cam kết mở rộng khu vực, tiêu diệt Israel và trục xuất Hoa Kỳ khỏi Trung Đông. Cùng với Trung quốc, Nga và Triều Tiên, Cộng hòa Hồi giáo tìm cách lật đổ trật tự toàn cầu do Mỹ lãnh đạo - sử dụng chương trình hạt nhân của họ như một sự bảo đảm an toàn cho các hành động gây hấn của họ. Do đó, Hoa Kỳ không có lựa chọn nào khác ngoài việc giành lấy chương trình từ móng vuốt của chế độ.

Những người cấp tiến và những người bạn đồng hành của họ trong phong trào Nước Mỹ trên hết thúc đẩy một quan điểm thay thế dựa trên ba nguyên tắc chính. Thứ nhất, lực lượng quân sự không thể giải quyết thách thức hạt nhân của Iran. Iran sở hữu các lựa chọn bất đối xứng, chẳng hạn như đóng cửa eo biển Hormuz, vượt trội hơn lợi ích của hành động tấn công. Thứ hai, ngoại giao vẫn là công cụ tốt nhất để kiểm soát Cộng hòa Hồi giáo. Thứ ba, ổn định khu vực đòi hỏi Mỹ phải tạo khoảng cách giữa mình và các đồng minh, đặc biệt là Israel. Hoa Kỳ nên cư xử ít hơn với tư cách là đồng minh thời chiến của Israel và nhiều hơn là một trung gian hòa giải giữa Jerusalem và Tehran.

Trong cuộc tranh luận công khai, những người cấp tiến và "những người kiềm chế" (restrainers) MAGA trình bày ba nguyên tắc của họ như bản chất của chủ nghĩa hiện thực cứng đầu. Họ lập luận rằng có những giới hạn nghiêm ngặt về những gì sức mạnh quân sự của Mỹ có thể đạt được ở Trung Đông. Một chính sách đối ngoại khôn ngoan nên thừa nhận chúng. Chỉ những người ngây thơ hoặc bị định hướng bởi ý thức hệ mới tin rằng ý chí và sức mạnh có thể bẻ cong thực tế theo mục đích của họ.

Tuy nhiên, sự cúi đầu thận trọng và kiềm chế nhân danh "chủ nghĩa hiện thực" chủ yếu là một loại giả tạo. Điều đầu tiên không phải là sự tôn trọng thực tế, mà là ý thức hệ. Thông điệp luôn giống nhau: rút lui quân sự khỏi Trung Đông, lập ngoại giao với Iran và tách Mỹ khỏi Israel. Không có quan điểm nào phát xuất một số logic chiến lược bất biến hoặc các sự kiện trên thực địa. Chúng là những nguyên tắc cố định, cung cấp ống kính thông qua các sự kiện được tường thuật.

Dưới đây là bảy điểm cốt lõi mà những người cấp tiến và các phần tử kiềm chế trong MAGA đang xây dựng một câu chuyện sai lầm về cuộc chiến tranh Iran.

HUYỀN THOẠI MỘT: Đây là cuộc chiến tự chọn

Trong năm tuần qua, những người phản đối chính quyền Trump đã nhiều lần gọi đây là "một cuộc chiến tự chọn", một cuộc xung đột mà tổng thống phát động mà không có lý do hoặc mục đích chính đáng (coherent). "Khi chúng tôi hỏi, chính quyền đang làm gì? Họ không thể trả lời câu hỏi đó vì họ không biết tại sao họ lại ở đó ngay từ đầu," Jake Sullivan nói với người dẫn chương trình cấp tiến Jon Stewart. "Họ đã không thể cho chúng tôi câu trả lời về tất cả những gì về điều này."

Trên thực tế, chính quyền đã đưa ra một lý do rõ ràng và thuyết phục. Nó giảm xuống còn hai mệnh lệnh lồng vào nhau. Đầu tiên là lằn ranh đỏ lâu đời của Trump. Như tổng thống đã tuyên bố nhiều lần trong nhiều năm, "Iran không thể có vũ khí hạt nhân. Nó rất đơn giản." Thứ hai là điều kiện cho phép khiến lằn ranh đỏ này trở nên khẩn cấp: vượt trội (overmatch). Máy bay không người lái và hỏa tiễn đạn đạo của Iran có thể áp đảo hệ thống phòng không và hỏa tiễn của Israel, Mỹ, và các đồng minh vùng Vịnh của họ.

Trong "Chiến tranh 12 ngày" tháng 6/2025, Iran đã chịu tổn thất nặng nề đối với kho vũ khí đạn đạo của mình, với khoảng 1.500 hỏa tiễn và các cơ sở sản xuất quan trọng. Tổng thống Trump hy vọng rằng những tổn thất đó sẽ làm dịu hành vi của Iran và đưa Tehran đến bàn đàm phán. Hy vọng đó đã được chứng minh là vô căn cứ.

IRGC ngay lập tức chuyển sang xây dựng lại. Công việc được nối lại tại các nhà máy sản xuất, và kho dự trữ ở các thành phố hỏa tiễn ngầm tăng lên. Tư lệnh Lực lượng Hàng không Vũ trụ IRGC Majid Mousavi tuyên bố vào tháng 1 năm 2026 rằng kho vũ khí trên thực tế đã phát triển mạnh mẽ kể từ cuộc chiến tháng 6 và sản lượng trên nhiều lĩnh vực đã vượt quá mức trước chiến tranh. Tình báo Israel đánh giá rằng Iran đang trên đà dự trữ khoảng 8.000 hỏa tiễn đạn đạo vào năm 2027.

Khi bắt đầu cuộc chiến, Ngoại trưởng Marco Rubio mô tả sự vượt trội là yếu tố thúc đẩy Mỹ hành động. "Mỹ đang tiến hành một chiến dịch để loại bỏ mối đe dọa từ hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn của Iran và mối đe dọa từ hải quân của họ, đặc biệt là đối với các tài sản hải quân", ông nói tại một cuộc họp báo ngày 2 tháng 3. Sau đó, ông định lượng mối đe dọa. "Theo một số ước tính, họ đang sản xuất hơn 100 hỏa tiễn mỗi tháng. So sánh với sáu hoặc bảy hỏa tiễn đánh chặn có thể được chế tạo mỗi tháng".

Con số đã tự nói lên điều đó, và nó đặt ra hai mối đe dọa đan xen vào nhau. Đầu tiên là thông thường. Iran sẽ sớm có đủ hỏa tiễn và máy bay không người lái để áp đảo hệ thống phòng thủ của Israel và mọi căn cứ của Mỹ trong khu vực. Thứ hai là hạt nhân. Kho vũ khí khổng lồ loại thông thường sẽ đóng vai trò như một lá chắn mà Iran có thể theo đuổi vũ khí hạt nhân mà không sợ bị trả đũa - trực tiếp vi phạm lằn ranh đỏ của tổng thống. Nếu Iran không được kiểm soát, ông Rubio giải thích, họ sẽ sớm "có quá nhiều hỏa tiễn thông thường, rất nhiều máy bay không người lái, và có thể gây ra nhiều thiệt hại, đến mức không ai có thể làm bất cứ điều gì về chương trình hạt nhân của họ". Một khi Iran vượt qua ngưỡng đó, mà Rubio gọi là "điểm miễn trừ" (point of immunity), sẽ vĩnh viễn không ai có thể làm gì được họ.

Do đó, nước Mỹ có ba lựa chọn. 1) Không làm gì cả và Iran sẽ sớm bước vào vùng miễn trừ được đảm bảo bởi vượt trội (overmatch). 2) Để Israel tấn công một mình thì Iran sẽ tấn công lực lượng Mỹ và gây thương vong đáng kể. 3) Hoặc hợp tác với Israel để loại bỏ mối đe dọa không thể chấp nhận được đối với cả hai nước.

HUYỀN THOẠI 2: Hiệp ước JCPOA đã trung hòa và ổn định Iran trước khi Trump phá vỡ nó


Trong khi tranh luận về chiến tranh, các cựu nhân viên của chính quyền Obama và Biden cũng đang cố gắng biện minh cho thỏa thuận hạt nhân của Obama và chiến lược đã tạo ra nó. Sullivan nói với Stewart rằng JCPOA đã hoạt động hiệu quả. Iran đã "tuân thủ thỏa thuận. Ngay cả tình báo Israel cũng nói rằng họ đang tuân thủ thỏa thuận." Sullivan cho rằng việc Trump đơn phương rút khỏi thỏa thuận năm 2018 đã phá vỡ tình trạng thành công này.

Câu chuyện này không phù hợp với thực tế theo ba cách quan trọng. Đầu tiên, dòng thời gian không hoạt động. Trump đã rút khỏi thỏa thuận hạt nhân vào tháng 5 năm 2018. Tehran đã không bắt đầu làm giàu uranium của mình đến 60%, một ngưỡng lớn rút ngắn đáng kể con đường dẫn đến vũ khí hạt nhân, cho đến tháng 4 năm 2021. Nói cách khác, Tehran đã thực hiện bước nhảy vọt quan trọng này dưới sự theo dõi của Biden, không phải của Trump.

Và Biden đã phản ứng như thế nào? Với sự hòa giải. Chính quyền đã ngừng thực thi các biện pháp trừng phạt (dầu mỏ), đặc biệt là đối với người mua là Trung quốc. Xuất khẩu dầu mỏ của Iran tăng vọt, và cùng với đó là doanh thu của chế độ. Khi thời gian đột phá của Iran thu hẹp xuống còn vài tuần, Biden và nhóm của ông đã mô tả mối đe dọa ngày càng tăng mà nó đã tạo ra là lỗi của Trump. Theo họ, mọi bước tiến hạt nhân của Iran không chỉ trở thành hậu quả của việc rút khỏi thỏa thuận năm 2018 mà còn là lời biện minh cho việc hòa giải lần nữa. Sau đó, Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan đã nói rõ ràng như vậy vào tháng 4 năm 2022, khi Iran đang chạy đua về phía trước dưới nhiệm kỳ tổng thống của Biden. Ông giải thích, tiến trình của nó "là tác động trực tiếp của việc [Trump] rút khỏi thỏa thuận hạt nhân, khiến chúng ta kém an toàn hơn, khiến chúng ta ít được nhìn thấy hơn. Và đó là một trong những lý do chúng tôi theo đuổi con đường ngoại giao, một lần nữa, khi tổng thống nhậm chức".

Biden đã đơn phương khôi phục logic cốt lõi của thỏa thuận JCPOA. Các biện pháp trừng phạt được nới lỏng trong khi các hạn chế hạt nhân sụp đổ. Tehran đã vượt qua các hạn chế về quy mô kho dự trữ uranium và mức độ làm giàu uranium trong khi Washington nới lỏng áp lực và theo đuổi ngoại giao theo các điều khoản của Iran. Những gì Sullivan trình bày như sự sụp đổ của thỏa thuận là sự tiếp tục của nó trên các điều khoản bất đối xứng, là việc Washington ngoan ngõan chiều theo mà không có đi có lại về phía Tehran.

Khi việc thực thi các biện pháp trừng phạt suy yếu và doanh thu từ dầu mỏ từ Trung quốc chảy vào, chế độ này đã không ôn hòa. Iran đã tăng tốc các chương trình hỏa tiễn và máy bay không người lái, tăng cường hỗ trợ cho các lực lượng ủy nhiệm và củng cố các khả năng hiện đang xác định chiến trường. Việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt đã tạo ra doanh thu. Hỏa tiễn, máy bay không người lái và ủy nhiệm được tài trợ bởi doanh thu. Những khả năng đó đã tạo ra sự vượt trội làm xói mòn khả năng răn đe.

JCPOA và việc thực hiện trên thực tế của Biden đã tài trợ và cho phép các khả năng đẩy khu vực đến xung đột quy mô lớn. Dưới thời Biden, Iran đạt mức làm giàu 60%, mở rộng chương trình hỏa tiễn và máy bay không người lái. Vụ thảm sát ngày 7 tháng 10 ở Israel là kết quả trực tiếp của tư thế chiến lược ngày càng thuận lợi của Iran.

Do đó, Mỹ phải đối mặt với sự lựa chọn chiến lược tương tự vào cuối tiến trình JCPOA như lúc đầu, nhưng trong điều kiện tồi tệ hơn và chống lại một đối thủ mạnh hơn. Chính sách này, có nghĩa là, bảo đảm rằng cuộc đối đầu sẽ diễn ra sau khi Iran tiến gần hơn đến quyền miễn trừ.

HUYỀN THOẠI 3: Biden đã rút nước Mỹ khỏi các cuộc chiến Trung Đông

"Khi chúng tôi rời nhiệm sở, nước Mỹ không có chiến tranh lần đầu tiên sau 25 năm", Jake Sullivan nói với Jon Stewart. Trong câu chuyện này, Biden đã dũng cảm chấm dứt "cuộc chiến vĩnh viễn" ở Trung Đông. Ông Sullivan lưu ý, ông Trump đã vận động tranh cử vào năm 2024 với tư cách là "ứng cử viên hòa bình", chỉ để thay đổi hướng đi, một cách sai lầm và đẩy nước Mỹ trở lại vào cuộc xung đột không cần thiết.

Tuyên bố này trái ngược với thực tế, nói ra để duy trì việc bảo vệ JCPOA, kiềm chế giải pháp quân sự và cho rằng ngoại giao với Iran đã có hiệu quả. Bằng cách tránh đối đầu trực tiếp với Tehran và giảm bớt sự can dự quân sự của Mỹ, chính quyền Biden đã mang lại sự ổn định trong khu vực và mang lại cho người kế nhiệm một sự bình yên chưa từng có.

Thực tế kể một câu chuyện khác, chương bạo lực nhất bắt đầu vào ngày 7-10-2023, khi Lãnh tụ tối cao Ali Khamenei đẩy không chỉ Israel mà cả Hoa Kỳ vào một trong những cuộc chiến tranh quan trọng nhất của kỷ nguyên hiện đại. Cuộc xung đột đó vẫn chưa kết thúc và nó đang định hình lại toàn bộ Trung Đông. Nhóm Biden đã đóng khung ngày 7 tháng 10 là một cuộc xung đột Palestine - Israel. Khung hình này đã thúc đẩy viễn tưởng rằng chính nước Mỹ không tham gia vào cuộc chiến. Nó cũng không đổ lỗi cho Iran đối với các hành động tàn bạo hàng loạt và bắt cóc con tin của Hamas, do đó cho phép chính quyền duy trì sự tiếp cận ngoại giao của mình với Tehran.

Trong khi đó, Khamenei đã huy động toàn bộ Trục kháng chiến trong một cuộc chiến bất đối xứng chống lại hệ thống liên minh của Mỹ. Hezbollah đã tham gia cuộc chiến vào ngày 8 tháng 10, khi họ bắt đầu các cuộc tấn công hàng ngày vào biên giới phía bắc của Israel, được hiệu chỉnh để làm giảm dân số ở phía bắc Israel, làm chảy máu lực lượng Israel và gây áp lực buộc Mỹ buộc phải ngừng bắn để duy trì quyền lực của Hamas. Vài tuần sau, Houthi đã phóng hỏa tiễn và máy bay không người lái vào Israel trong khi ngăn chặn các hoạt động vận chuyển quốc tế ở Biển Đỏ. Các lực lượng dân quân do Iran kiểm soát ở Iraq và Syria đã mở một chiến dịch trực tiếp chống lại các căn cứ của Mỹ. Không có động thái nào trong số này có vẻ rất hòa bình.

Từ tháng 1/2021 đến tháng 1/2025, các lực lượng do Iran hậu thuẫn đã tiến hành hàng trăm cuộc tấn công vào nhân viên và tài sản của Mỹ trên khắp Trung Đông, với phần lớn diễn ra sau ngày 7/10/2023. Chúng bao gồm hơn 170 cuộc tấn công vào các căn cứ của Mỹ ở Iraq, Syria và Jordan, cộng với hàng chục nỗ lực chống lại các tàu của Hải quân Mỹ ở Biển Đỏ và Vịnh Aden. Ba quân nhân Mỹ đã thiệt mạng và hàng chục người khác bị thương.

Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin đã công khai thừa nhận 83 cuộc tấn công vào lực lượng Mỹ chỉ tính đến trước tháng 10/2023. Sau vụ thảm sát ngày 7 tháng 10 của Hamas, giết chết 46 công dân Mỹ, các lực lượng ủy nhiệm của Iran đã phóng thêm hàng trăm hỏa tiễn, rockets và máy bay không người lái. Chỉ riêng Houthi đã tiến hành hàng chục chiến dịch chống lại tàu chiến Mỹ.

Trong bất kỳ thời đại nào trước đây, một chiến dịch kéo dài ở quy mô này chống lại các căn cứ và tàu hải quân của Mỹ sẽ được gọi là chiến tranh mở. Chính quyền Biden gọi đó là hòa bình lịch sử.

HUYỀN THOẠI 4: Tehran sẵn sàng thỏa hiệp


Sullivan nói với Stewart rằng, chỉ vài ngày trước khi Mỹ và Israel chặt đầu chế độ ở Tehran, Iran đã đưa ra một đề xuất nghiêm túc trên bàn. Với sự giúp đỡ của các nhà hòa giải Oman ở Geneva, Tehran đã đưa ra những nhượng bộ "đã đi một chặng đường dài để giải quyết vấn đề hạt nhân". Tuy nhiên, theo Sullivan, nhóm Trump chỉ đơn giản là không hiểu những gì đang được đề nghị.

Trong các cuộc phỏng vấn truyền thông, Ngoại trưởng Oman Badr al-Busaidi mô tả đề xuất của Iran là một bước đột phá đưa một thỏa thuận "trong tầm tay của chúng tôi". Tehran đề xuất không dự trữ uranium làm giàu, với vật liệu hiện có được pha trộn xuống mức tự nhiên và chuyển đổi thành nhiên liệu lò phản ứng. Nó cung cấp cho IAEA quyền truy cập đầy đủ vào tất cả các địa điểm liên quan, giảm hoặc tạm dừng làm giàu và thậm chí khả năng Mỹ tham gia vào chương trình hạt nhân dân sự trong tương lai. Đổi lại, họ tìm cách nới lỏng các biện pháp trừng phạt và giải phóng tài sản. Nhìn một cách riêng biệt, những thuật ngữ này nghe có vẻ có ảnh hưởng sâu rộng, nhưng chúng không làm thay đổi cấu trúc căn bản của JCPOA.

Chế độ coi chương trình hạt nhân, kho vũ khí hỏa tiễn và máy bay không người lái, và mạng lưới ủy nhiệm của mình như một tổ hợp quyền lực duy nhất. Trong các cuộc đàm phán, họ đưa ra những nhượng bộ tạm thời và có thể đảo ngược về mức độ làm giàu và kho dự trữ để đổi lấy việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt, trong khi vẫn duy trì những gì quan trọng. Uranium pha loãng có thể được làm giàu lại. Kho dự trữ có thể được xây dựng lại. Trong khi đó, cơ sở công nghiệp, chuyên môn kỹ thuật và hệ thống quân sự rộng lớn hơn của Iran mà chương trình hạt nhân là một phần không thể thiếu sẽ vẫn không bị ảnh hưởng.

Theo JCPOA ban đầu, việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt không làm dịu chế độ. Iran đã tăng tốc các chương trình hỏa tiễn và máy bay không người lái, tăng cường mạng lưới ủy nhiệm và xây dựng các khả năng hiện cho phép chế độ này giữ 20% nguồn cung cấp năng lượng của thế giới làm con tin. Một thỏa thuận mới với các điều khoản cũ sẽ chỉ đơn giản là chuyển thêm đòn bẩy cho Tehran trong khi họ chờ đợi một chính quyền mới của đảng Dân chủ ở Washington sẽ chấp nhận một cuộc đột phá.

HUYỀN THOẠI 5: Israel kéo Mỹ vào cuộc chiến

Trong cuộc phỏng vấn với Stewart, Jake Sullivan đã tách mình ra khỏi thuyết âm mưu thô thiển rằng đuôi Israel đang vẫy Mỹ. "Tôi chưa bao giờ tin chuyện đó," ông nói. Nhưng sau đó ông nhanh chóng tiết lộ sự liên kết của mình với chủ nghĩa chống đế quốc tiến bộ, trong đó nước Mỹ vĩnh viễn là Satan vĩ đại: "Tôi cảm thấy như [người Israel] là vật tế thần thuận tiện cho Hoa Kỳ để tiếp tục cuộc phiêu lưu đế quốc của chúng ta ở khu vực đó của thế giới."

Đồng thời, ông xác nhận tiền đề căn bản rằng Israel dắt mũi nước Mỹ và chống lại lợi ích của mình. Chính quyền Trump, ông nhấn mạnh, không thể giải thích "cuộc chiến này là gì". Trump và nhóm của ông "không biết tại sao họ lại ở đó ngay từ đầu". Ngược lại, Netanyahu biết chính xác những gì ông muốn: "phá vỡ Iran" và gây hỗn loạn. Sullivan sau đó đã đưa ra một sự khác biệt về lợi ích. Israel, ông gợi ý, có thể sống chung với một Iran đổ vỡ. Hoa Kỳ thì không thể. Một Iran đổ vỡ sẽ đe dọa eo biển Hormuz, đẩy giá dầu toàn cầu tăng vọt, kích hoạt dòng người tị nạn và gây bất ổn cho nền kinh tế thế giới. Trong câu chuyện này, mục đích rõ ràng của Israel đã lôi kéo Mỹ vào một cuộc chiến phục vụ lợi ích của Israel, không phải lợi ích của Mỹ.

Một bài báo quan trọng của New York Times vào ngày 7 tháng 4 về cuộc họp Phòng Tình huống ngày 11 tháng 2, 2026 đã củng cố ấn tượng tương tự. Netanyahu đến với một lời chào hàng tự tin cho sự thay đổi chế độ, hoàn chỉnh với một đoạn video dựng phim về các nhà lãnh đạo tiềm năng hậu thần quyền, và Trump phản ứng tích cực. "Nghe có vẻ tốt đối với tôi," ông ấy nói. Tình báo Mỹ sau đó bác bỏ một số phần trong kế hoạch của Israel là "lố bịch". Ngụ ý rõ ràng là một Netanyahu diều hâu đã gây sức ép trong nhiều tháng trong khi một đội ngũ Mỹ bị chia rẽ bị kéo theo bởi một nhà lãnh đạo tách rời khỏi thực tế đến mức ông hầu như không thể tiếp thu những gì ông được nói bởi những người suy nghĩ khôn ngoan của mình.

Huyền thoại này bỏ qua thực tế trung tâm là dự luật trao quyền cho Iran được hỗ trợ bởi JCPOA đã được đưa lên bàn làm việc của Trump. Đầu tiên, mối đe dọa vượt trội của Iran, mối nguy hiểm được mô tả trong HUYỀN THOẠI Một, gây nguy hiểm cho cả Israel và Hoa Kỳ cùng một lúc. Hỏa tiễn của Iran nhắm vào Tel Aviv có thể dễ dàng nhắm mục tiêu vào các tài sản và căn cứ hải quân của Mỹ trên khắp khu vực. Vào đêm trước của cuộc chiến, mối đe dọa đã xảy ra ngay lập tức, được chia sẻ và ngày càng tăng. Do đó, lợi ích chiến lược của Mỹ và Israel đã được liên kết: làm suy giảm mối đe dọa của Iran trước khi nó trở nên không thể kiểm soát được. Không có sự đồng tâm nào về "cuộc phiêu lưu đế quốc" có thể thay đổi những con số cơ bản đó.

Thứ hai, Tổng thống Trump được ghi nhận là coi Cộng hòa Hồi giáo là một mối đe dọa chết người kể từ đầu những năm 1980 - rất lâu trước khi Netanyahu trình bày vào tháng 2 năm 2026 tại Bạch Cung. Ông đã vận động trong ba cuộc bầu cử riêng biệt về việc ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân, lặp lại quyết tâm hành động hàng chục lần. Trong khi Barack Obama đã bày tỏ sự ngưỡng mộ của mình đối với trùm khủng bố Iran, Qassem Soleimani, Trump đã ám sát ông. Bản năng của ông phù hợp với Netanyahu vì cả hai nhà lãnh đạo đều nhận ra mối nguy hiểm không thể chấp nhận được do thái độ chống phương Tây hung hăng của Iran gây ra, giờ đây được nhấn mạnh bởi các mối đe dọa vượt trội và đột phá hạt nhân. Thay vì bị kéo vào chiến tranh, Mỹ đã dẫn đầu chiến dịch với tư cách là đối tác cấp cao trong một chiến dịch đồng bộ mà Trump hoàn toàn chịu trách nhiệm và ghi nhận.

Chính quyền Trump đã nhiều lần mô tả mối quan hệ quân sự Mỹ-Israel là khuôn mẫu lý tưởng cho các liên minh thế kỷ 21. Chiến lược Quốc phòng năm 2026 gọi Israel là một "đồng minh kiểu mẫu", "sẵn sàng và có thể tự vệ với sự hỗ trợ quan trọng nhưng hạn chế từ Mỹ", một đồng minh không yêu cầu Mỹ chiến đấu thay mặt mình. Israel nổi bật gần như độc nhất vô nhị trong số các đối tác của Mỹ: đây là một trong số rất ít đồng minh có khả năng độc lập tiến hành các chiến dịch quân sự cường độ cao, bền vững mà không yêu cầu bộ binh Mỹ giúp hoặc tham gia chiến đấu trực tiếp. Sự tự lực này, cho phép Israel hoạt động như một lực lượng mạnh mẽ, trái ngược hoàn toàn với nhiều đồng minh khác phụ thuộc vào sự hiện diện rộng rãi của lực lượng Mỹ, hậu cứ và các yếu tố hỗ trợ.

HUYỀN THOẠI 6: Đối đầu với Iran thì lơ là Trung quốc

Tổng thống Biden đã chỉ đạo nhân viên của mình chấm dứt "chiến tranh vĩnh viễn", Jake Sullivan nói với Jon Stewart, bởi vì "Trung quốc vô cùng hạnh phúc khi thấy Hoa Kỳ bị trói buộc trong chiến tranh ở Trung Đông trong khi họ đi vòng quanh thế giới với sự hào phóng của mình, cố gắng giành ảnh hưởng". Xung đột với Iran, ông ngụ ý, chuyển hướng sự chú ý của Mỹ khỏi cuộc cạnh tranh thực sự, không tập trung ở Trung Đông mà ở Thái Bình Dương.

Tuyên bố dựa trên một giả định đơn giản: Trung Đông và sự cạnh tranh với Trung cộng là những chiến trường riêng biệt. Họ không phải vậy.

Trung quốc đóng vai trò là huyết mạch kinh tế chính của Iran thông qua việc mua hàng loạt dầu bị trừng phạt và quan trọng hơn là nhà cung cấp các thành phần quan trọng duy trì sức mạnh quân sự của Iran: natri perchlorate cho nhiên liệu hỏa tiễn rắn, sợi carbon và thiết bị điện tử lưỡng dụng. Những đầu vào này cho phép Iran xây dựng lại và mở rộng kho vũ khí hỏa tiễn hiện đang đe dọa các lực lượng và đồng minh của Mỹ.

Vai trò của Bắc Kinh vượt ra ngoài nguồn cung. Các công ty Trung quốc đã cung cấp hình ảnh vệ tinh và dữ liệu nhắm mục tiêu được Houthi sử dụng để tấn công các tàu Mỹ và đồng minh ở Biển Đỏ. Khi những cuộc tấn công đó làm gián đoạn hoạt động vận chuyển toàn cầu, các tàu Trung quốc và Nga đã được phép đi lại an toàn trong khi tàu bè phương Tây phải đối mặt với hỏa tiễn, máy bay không người lái và việc thay đổi lộ trình tốn kém. Bắc Kinh không phải là người ngoài cuộc. Nó cố tình kích động và thu lợi từ chính sự gián đoạn mà các lực lượng Mỹ được khai triển để ngăn chặn.

Minh họa rõ ràng nhất về động lực này là vào tháng 1/2024, khi Sullivan bay đến Bangkok để gặp Ngoại trưởng Vương Nghị và yêu cầu Bắc Kinh sử dụng "đòn bẩy thiết yếu với Iran" để kiềm chế Houthi. Bạch Cung cho biết họ sẽ "chờ xem kết quả".

Kết quả đến nhanh chóng. Theo Thứ trưởng Ngoại giao Kurt Campbell, Bắc Kinh không chỉ từ chối mà còn khuyến khích Houthi nhắm mục tiêu vào tàu bè của các quốc gia khác. Khi giao thông Biển Đỏ sụp đổ, các tàu có liên hệ với Trung quốc đã tăng cường quá cảnh và đạt được lợi thế thương mại. Sullivan đã yêu cầu Trung quốc đóng cửa một hoạt động phục vụ lợi ích của Trung quốc. Nhưng họ gia tăng mánh mung của họ.

Đoạn này phơi bày lỗ hổng ở trung tâm của phe cấp tiến, coi Iran và Trung quốc là đối tác tiềm năng trong việc ổn định hệ thống, thay vì là các tác nhân phối hợp khai thác hệ thống đó. Trong khi đó, Bắc Kinh đã xây dựng đòn bẩy đối với hai điểm nghẽn hàng hải quan trọng nhất ở Ấn Độ Dương: eo biển Bab al-Mandab, neo đậu bởi căn cứ của họ ở Djibouti, và eo biển Hormuz, do đối tác Iran kiểm soát. Trong bất kỳ tình huống bất ngờ nào của Đài Loan, những điểm nghẽn này trở nên quyết định. Nhật Bản phụ thuộc vào họ cho khoảng 90% lượng dầu nhập khẩu, Hàn Quốc khoảng 70% và Đài Loan khoảng 60%. Sự gián đoạn sẽ làm tê liệt các đồng minh của Mỹ trong khi khiến Trung quốc tương đối bị cô lập.

Sự yếu kém ở Trung Đông không giúp Mỹ bảo tồn sức mạnh quân sự của mình cho châu Á. Nó trao cho Bắc Kinh đòn bẩy đối với các dòng chảy năng lượng và các tuyến đường hàng hải duy trì các liên minh châu Á mà chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương phụ thuộc vào.

Chiến dịch của Trump và Netanyahu chống lại Iran phải được hiểu trong bối cảnh này. Việc sản xuất hỏa tiễn, khả năng hải quân và mạng lưới ủy nhiệm của Iran làm giảm áp lực lên các lực lượng Mỹ, bảo đảm các tuyến năng lượng quan trọng và không cho Trung quốc một công cụ bất đối xứng mà họ đã vun đắp cẩn thận.

Tuyên bố rằng đối đầu với Iran sẽ làm mất tập trung khỏi Trung quốc là đảo ngược thực tế. Các chính sách ưu tiên về kiềm chế (quân sự), không làm gì và giữ khoảng cách với Israel đã củng cố Iran, mở rộng đòn bẩy của Trung quốc và khiến cuộc chiến hiện tại không thể tránh khỏi. Những gì ngày nay cho thấy, như một kỷ luật chiến lược, đã giúp tạo ra chính những tình huống đòi hỏi sức mạnh.

HUYỀN THOẠI 7: Trump và Netanyahu là những kẻ hiếu chiến cuồng nhiệt


Theo những kẻ cấp tiến, những bệnh lý cá nhân của Trump và Netanyahu đã kéo Hoa Kỳ vào một cuộc chiến không cần thiết và nguy hiểm. "Bạn có thực sự nghĩ rằng [Trump] tin... Ông ấy đã bẻ khóa mật mã và bây giờ ông ấy là bất khả chiến bại không?" Jon Stewart hỏi Jake Sullivan. "Tôi thề với Chúa, tôi biết mọi người - cocaine đã làm điều này với họ. Đây cũng giống vậy. Đây là cách một người sử dụng cocaine hành động. Một người nghiện cocaine giống như, tôi là người giỏi nhất. Không, tôi không thể bị ngăn cản." Jake Sullivan trả lời không do dự: "Tôi không thể nói tốt hơn. Có đấy."

Thay vì thừa nhận rằng nhiều năm theo đuổi một thỏa hiệp với Iran đã tạo ra một đối thủ mạnh hơn, nguy hiểm hơn, những người cấp tiến cho rằng sự sụp đổ trong cách tiếp cận của họ là do tính cách phi lý của đối thủ của họ. Giá như các nhà lãnh đạo lạnh lùng hơn, kiềm chế hơn vẫn tiếp tục nắm quyền, sự hòa hoãn mong manh với Tehran sẽ tiếp tục không bị gián đoạn.

Chủ nghĩa giản lược tâm lý này bây giờ đã trở thành một bản cáo trạng rộng lớn hơn. Trump và Netanyahu, những người chỉ trích khẳng định họ "không có chiến lược". Sự thất bại của họ trong việc đạt được thành công hoàn toàn - thay đổi chế độ, loại bỏ hoàn toàn mọi cơ sở ngầm, hoặc xóa bỏ hoàn toàn cơ sở hạ tầng quân sự của Iran - được cho là chứng minh quan điểm đó.

Hồ sơ kể một câu chuyện khác. Chiến dịch Mỹ - Israel đã đạt được các mục tiêu chiến lược cốt lõi của mình: ngăn chặn sự tiến bộ của Iran đối với khả năng vũ khí hạt nhân và làm suy giảm đáng kể chương trình hỏa tiễn đạn đạo của họ, cùng nhau đã đặt ra mối đe dọa hiện hữu ngày càng tăng đối với Israel và khu vực. Trước chiến dịch, Iran đã nhanh chóng thúc đẩy cả hai chương trình, với phần lớn cơ sở hạ tầng quan trọng của họ đang trên bờ vực bị chôn vùi quá sâu dưới lòng đất để có thể tấn công hiệu quả.

Chiến dịch không kích chung đã giáng một đòn tàn khốc vào ngành công nghiệp vũ khí của Iran, loại bỏ các nhà khoa học chủ chốt và đã khiến mốc thời gian hạt nhân lùi lại nhiều năm. Đồng thời, phần lớn mạng lưới sản xuất hỏa tiễn mới của Iran đã bị phá hủy trước khi chúng có thể được bảo vệ hoàn toàn.

Kết quả không phải là loại bỏ hoàn toàn mọi cơ sở ngầm hoặc bệ phóng hỏa tiễn, mà là sự gián đoạn dứt khoát các khả năng nguy hiểm nhất của Iran. Khi bụi lắng xuống, Iran cũng bị tê liệt về kinh tế.

Kết quả này tạo thành một thành công rõ ràng vì nó làm giảm đáng kể mối nguy hiểm trước mắt mà không đòi hỏi tiêu chuẩn "chiến thắng hoàn toàn" không thể đạt được, thường được yêu cầu bởi các nhà phê bình, những người ở Jerusalem và Washington sẽ khăng khăng phủ nhận chiến thắng của họ bằng bất cứ giá nào đối với cảm giác thực tế của chính họ. Chiến dịch này cũng tạo ra những tác động thứ cấp quan trọng: mạng lưới ủy nhiệm của Iran đã bị suy yếu rõ rệt. Bản thân chế độ phải đối mặt với áp lực nội bộ ngày càng tăng có thể dẫn đến sự sụp đổ từ bên trong.

Cuối cùng, Israel và Hoa Kỳ đã bước vào cuộc xung đột đối mặt với một mối đe dọa nghiêm trọng, và nó đã giảm bớt một cách có ý nghĩa và có thể kiểm chứng được. Đó là thước đo căn bản của chiến thắng trong chiến tranh. Điều mà những người phản đối gạt bỏ nhưng lại phải thừa nhận rõ ràng rằng thời gian (window) cho hành động hiệu quả đang đóng lại. Trump đã hành động trước khi nó đóng sầm lại.

Tehran tự cho chiến dịch này như một thất bại với hy vọng tập hợp sự đồng cảm của quốc tế trong khi hạ thấp những lỗ hổng ngày càng sâu sắc của chính chế độ. Họ cũng tham gia với Moscow và Bắc Kinh để ngăn chặn quan hệ đối tác quân sự mới mà Trump và Netanyahu đã tạo ra. Nếu liên minh thành công, nó sẽ không chỉ làm suy yếu một thành viên chủ chốt của trục chống Mỹ mà còn minh chứng cho tầm nhìn bảo thủ về các liên minh được xây dựng dựa trên các đối tác có năng lực, tự lực. Việc Chiến lược Quốc phòng Quốc gia năm 2026 chỉ ra một tương lai mà Mỹ gánh vác gánh nặng toàn cầu ít hơn. Kết quả đó trực tiếp làm suy yếu sở thích của đối thủ về một nước Mỹ suy yếu, bị phân tâm bị trói buộc bởi các cuộc xung đột khu vực bất tận.

Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Bắc Kinh, Moscow và Tehran phát sóng cốt truyện "những kẻ cuồng vọng không có chiến lược". Điều đáng thất vọng hơn nhiều là rất nhiều phe đối lập trong nước và đồng minh – phần lớn Đảng Dân chủ, phe chống Netanyahu ở Israel, The New York Times, và phần lớn báo chí châu Âu – lặp lại cùng một kịch bản gần như nguyên văn, bỏ qua thực tế rằng chính các chính sách ưa thích của họ đã tạo ra một tình huống để vũ lực không thể hoạt động. Mô hình tiến bộ chứng minh thiệt hại do tự nó gây ra cho chính nó - một động thái võ jujitsu hoàn hảo [dùng sức của địch thủ đánh lại địch thủ].

Lịch sử sẽ ghi điều ngược lại: những người nhận ra mối đe dọa và hành động trước khi quá muộn (before the window closed) đã đối phó với thế giới như nó vốn có và bảo vệ lợi ích quốc gia. Những người yêu cầu kiềm chế cho đến khi kiềm chế không còn là một lựa chọn đã xây dựng chính sách của họ dựa trên những tưởng tượng gây nguy hiểm cho tất cả chúng ta.

https://www.hudson.org/foreign-policy/seven-myths-about-iran-war-michael-doran

https://www.tabletmag.com/sections/news/articles/seven-myths-iran-war-michael-doran

Michael Doran là một thành viên cao cấp và giám đốc Trung tâm Hòa bình và An ninh ở Trung Đông tại Viện Hudson, thành viên cao cấp tại Viện Brookings, giảng viên Đại học New York, Đại học Princeton và Đại học Central Florida, và là nguyên giám đốc cao cấp trong Hội đồng An ninh Quốc gia thời TT Bush

 

NVV

 

 

 2026-04-29  

Người dân Iran đang cảm nhận nỗi đau khi nền kinh tế của họ rơi vào vòng xoáy tử thần
Các doanh nghiệp đóng cửa, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt và thực phẩm ngày càng trở nên đắt đỏ.


(Wall Street Journal, 29/4/2026)

Chiến tranh đã gây ra tổn thất nặng nề cho nền kinh tế Iran: hơn một triệu người thất nghiệp, giá lương thực tăng vọt và việc internet bị gián đoạn kéo dài đã gây thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp trực tuyến.

Câu hỏi đặt ra là các nhà lãnh đạo Iran sẵn sàng chịu đựng thêm bao nhiêu khó khăn nữa khi họ cố gắng đàm phán để chấm dứt chiến tranh một cách có lợi.

Các cuộc đàm phán giữa Mỹ và Iran đã bế tắc. Các quan chức Mỹ đang đặt cược rằng Iran sẽ sớm nhượng bộ vì cuộc khủng hoảng kinh tế ngày càng trầm trọng. Iran lại đặt cược rằng Mỹ sẽ nhượng bộ trước và chấm dứt việc phong tỏa các cảng của Iran để ổn định thị trường toàn cầu và giảm giá xăng dầu ở Mỹ.

Để kiềm chế hậu quả kinh tế, chính phủ Iran đã tăng lương, trợ cấp hàng hóa thiết yếu và phát tiền mặt cho người nghèo. Nhưng theo người dân, chính quyền đang phải đối mặt với mức độ khó khăn chưa từng thấy trong nhiều thập kỷ.

“Đó là một chế độ độc tài, và họ có thể tuyên bố rằng việc chống lại áp lực kinh tế là vấn đề tự hào dân tộc”, Alex Vatanka, một chuyên gia cao cấp về Iran tại Viện Trung Đông, cho biết. Đồng thời, ông nói, “khi nguồn tiền cạn kiệt do lệnh phong tỏa, chúng ta có thể thấy ngày càng nhiều người không còn lựa chọn nào khác ngoài việc huy động lực lượng chính trị”.

Trọng tâm của cuộc xung đột là việc tiếp tục đóng cửa eo biển Hormuz, tuyến đường vận chuyển khoảng một phần năm lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hóa lỏng của thế giới.

Iran đã đóng cửa eo biển ngay từ đầu cuộc xung đột, sử dụng tuyến đường thủy này để kìm kẹp nền kinh tế thế giới. Mỹ đã đáp trả bằng một lệnh phong tỏa hải quân của riêng mình, giáng một đòn nặng nề vào nền kinh tế vốn đã suy yếu của Iran.

* Những khó khăn hàng ngày

Doanh thu của chính phủ đã cạn kiệt trong khi nhu cầu của người dân ngày càng tăng.

Chiến tranh đã khiến khoảng một triệu người mất việc trực tiếp và một triệu người khác mất việc gián tiếp, theo ước tính ban đầu được trích dẫn bởi Gholamhossein Mohammadi, một quan chức tại Bộ Lao động và Xã hội Iran. Đó là một phần đáng kể trong số khoảng 25 triệu người thường xuyên có việc làm ở Iran.

Chi phí sinh hoạt đã tăng vọt, với tỷ lệ lạm phát hàng năm đạt 67% trong tháng tính đến giữa tháng Tư so với cùng kỳ năm ngoái, theo ngân hàng trung ương Iran. Giá thịt đỏ được trợ cấp, chủ yếu được nhập khẩu qua đường biển, đã tăng lên tương đương khoảng 3,60 đô la Mỹ/pound, vượt quá khả năng chi trả của hầu hết người dân trong một quốc gia có mức lương tối thiểu khoảng 130 đô la Mỹ/tháng.

Đồng tiền quốc gia của Iran hôm thứ Tư đã chạm mức thấp kỷ lục 1,8 triệu rial đổi 1 đô la Mỹ.

“Sinh hoạt không còn dễ dàng nữa”, Mahdi Ghodsi thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế Vienna cho biết. “Iran đang ở thời điểm yếu nhất”.

Theo lời người dân, các doanh nghiệp trên khắp đất nước—từ các nhà sản xuất đến các nhà bán lẻ —  đang đóng cửa. Tình trạng thiếu thép và các nguyên liệu thô khác đang cản trở sản xuất trong nhiều ngành công nghiệp. Hàng điện tử, phần lớn được nhập khẩu, đang khan hiếm và đắt đỏ.

* Thiệt hại do chiến tranh

Sự sụp đổ kinh tế của Iran đã diễn ra trước chiến tranh, bị tê liệt bởi nhiều năm trừng phạt của Mỹ và quốc tế. Sự sụp đổ giá trị của đồng nội tệ và giá cả tăng nhanh đã gây ra các cuộc biểu tình chống chính phủ quy mô lớn vào đầu năm. Chính quyền đã đàn áp các cuộc biểu tình bằng vũ lực gây chết người. Những khó khăn kinh tế vốn là nguyên nhân dẫn đến các cuộc biểu tình đã trở nên tồi tệ hơn kể từ khi chiến tranh bắt đầu, làm dấy lên khả năng bất ổn có thể bùng phát trở lại.

Chiến dịch ném bom của Israel và Mỹ đã gây thiệt hại nặng nề về vật chất cho đường sá, cảng biển và các khu dân cư. Nó cũng ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp trọng yếu, bao gồm các nhà máy thép và hóa dầu chính của đất nước. Truyền thông nhà nước Iran ước tính rằng việc tái thiết sau chiến tranh có thể tiêu tốn khoảng 270 tỷ đô la, một khoản tiền khổng lồ đối với một quốc gia có tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm vào năm ngoái là 341 tỷ đô la.

Trước khi bị phong tỏa, phần lớn xuất khẩu dầu mỏ và nhập khẩu của Iran — từ thực phẩm đến dược phẩm và nguyên liệu thô — đều đi qua eo biển Hormuz.

Hiện nay, Iran đang gặp khó khăn trong việc vận chuyển dầu và các mặt hàng khác, vốn là nguồn thu chính của nước này, theo các số liệu vận chuyển. Mới đây nhất là tháng 3, Iran xuất khẩu 1,85 triệu thùng dầu thô mỗi ngày, trị giá 191 triệu đô la theo giá quốc tế. Không có bằng chứng nào cho thấy bất kỳ lô hàng dầu nào của Iran đã vượt qua lệnh phong tỏa của Mỹ và đến tay khách hàng Trung Quốc hoặc các người mua khác, theo Homayoun Falakshahi, một nhà phân tích dầu mỏ cấp cao tại công ty dữ liệu hàng hóa Kpler.

Iran đang thúc đẩy việc nhanh chóng mở lại eo biển Hormuz, một dấu hiệu cho thấy tầm quan trọng của nó đối với nền kinh tế nước này. Tehran đã đưa ra cho các nhà trung gian hòa giải của khu vực một đề nghị ngừng các cuộc tấn công ở eo biển để đổi lấy việc chấm dứt hoàn toàn chiến tranh và dỡ bỏ lệnh phong tỏa các cảng của Iran. Tehran muốn hoãn các cuộc thảo luận về chương trình hạt nhân của Iran.

“Chính phủ coi việc kết thúc chiến tranh là khởi đầu của một vấn đề mới: phải đối phó với một bộ máy dân chúng thất vọng và nghèo khó,” Djavad Salehi-Isfahani, giáo sư kinh tế nghiên cứu về Iran tại Đại học Virginia Tech, cho biết. “Nếu xuất khẩu dầu thô được nối lại, họ sẽ có một khoản dự phòng. Iran có thể vạch ra con đường phục hồi đi lên, và người dân có thể nói: đây là thời điểm tồi tệ, nhưng chúng ta sẽ phục hồi.”

* Các cơ chế ứng phó

Chính phủ Iran đã thực hiện các bước để hạn chế hậu quả kinh tế. Họ đã tăng lương tối thiểu và nâng cao lương cho công chức nhà nước, đồng thời tiếp tục trợ cấp giá bánh mì, nhiên liệu và các mặt hàng thiết yếu khác. Họ đang phát tiền mặt cho người nghèo và phát phiếu mua gạo, thịt gà, dầu ăn và các mặt hàng khác. Họ đã sử dụng kho dự trữ chiến lược các mặt hàng thiết yếu để giảm bớt tác động kinh tế đối với người dân thường.

Chính phủ đã kêu gọi người dân Iran làm phần việc của mình bằng cách hạn chế tiêu thụ nước, điện và khí đốt. Người dân Tehran được khuyến khích hạn chế lái xe và thay vào đó sử dụng phương tiện giao thông công cộng.

Iran đã thực hiện một số biện pháp bảo hộ, cấm xuất khẩu các sản phẩm thép. Theo truyền thông nhà nước Iran, Rasoul Khalifeh Soltani, thư ký Hiệp hội các nhà sản xuất thép Iran, đã kêu gọi các công ty phân bổ lượng thép tấm sử dụng trong hai tháng tới.

Iran đang cố gắng vượt qua lệnh cấm vận của Mỹ bằng cách dựa vào các tuyến đường thương mại thay thế. Nước này đang sử dụng các tuyến đường sắt và đường bộ kết nối với Thổ Nhĩ Kỳ, Armenia và Azerbaijan cũng như Biển Caspi ở phía bắc để nhập khẩu hàng hóa, Ebrahim Najafi, một nghị sĩ Iran, cho biết gần đây tại Quốc hội nước này.

Theo Kpler, ít nhất 11 tàu chở ngũ cốc, ngô và dầu hướng dương đã đến các cảng Caspi của Iran kể từ khi lệnh cấm vận của Mỹ bắt đầu. chúng đã khởi hành từ Nga, Kazakhstan và Turkmenistan.

Cuối tuần qua, Pakistan tuyên bố đã chỉ định sáu hành lang – bao gồm cả cảng biển và biên giới đường bộ – cho phép hàng hóa Iran vận chuyển không hạn chế. Những tuyến đường này cũng sẽ được sử dụng để nhập khẩu gạo và thịt.

“Người dân Iran sẽ phải chịu nhiều khó khăn,” Mohamed Amersi, một chuyên gia về Iran và thành viên Hội đồng Cố vấn Toàn cầu của Trung tâm Wilson, một viện nghiên cứu ở Washington, cho biết. “Nhưng khả năng chịu đựng khó khăn của họ cao hơn.”

https://www.wsj.com/world/middle-east/iranians-feel-the-pain-as-their-economy-descends-into-a-death-spiral-47dba669?st=3nEQei

NVV

 

 2026-04-28  

TỪ IRAN ĐẾN BẮC KINH: TRUMP CHUẨN BỊ NƯỚC CỜ CUỐI – THẾ GIỚI BƯỚC VÀO GIAI ĐOẠN NGUY HIỂM NHẤT.

1. Iran bên bờ vực: Khi kinh tế trở thành “ngòi nổ” nguy hiểm nhất

Những gì đang diễn ra tại Iran không còn là một cuộc khủng hoảng thông thường. Đó là dấu hiệu của một hệ thống đang tiến gần tới giới hạn chịu đựng cuối cùng.

Sau các lệnh phong tỏa từ phía Donald Trump, nền kinh tế Iran rơi vào tình trạng nghẹt thở. Dầu mỏ – nguồn sống của quốc gia này – không thể xuất khẩu, trong khi các bồn chứa gần như đã đầy. Điều trớ trêu là họ buộc phải… đốt bỏ dầu thô dư thừa, tạo nên những cột lửa khổng lồ trên bầu trời Khuzestan.

Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng.

Ở phía dưới, hai nguy cơ lớn đang âm thầm tích tụ:
Các giếng dầu có thể hỏng vĩnh viễn nếu bị đóng lại
Nền kinh tế suy thoái sâu kéo theo nguy cơ bùng nổ biểu tình
Các chuyên gia ước tính Iran chỉ có thể cầm cự thêm khoảng 6–8 tuần. Khi thời gian này trôi qua, không chỉ kinh tế sụp đổ – mà cả hệ thống chính trị cũng có thể lung lay từ bên trong.
Câu hỏi đặt ra: liệu đây có phải là sự kết thúc của một chu kỳ quyền lực?

2. Nội bộ Iran rạn nứt: Khi quyền lực rơi vào tay phe cứng rắn
 

Một trong những nguyên nhân khiến tình hình trở nên căng thẳng chính là sự thay đổi quyền lực bên trong Iran.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo đã nắm quyền kiểm soát thực sự, khiến phe thực dụng mất tiếng nói. Những nhân vật từng được xem là “cầu nối đàm phán” với phương Tây dần bị loại khỏi cuộc chơi.

Thậm chí, các lãnh đạo cấp cao còn bị chỉ trích nội bộ vì:
- Bí mật tiếp xúc với Mỹ
- Thừa nhận tác động của lệnh trừng phạt
- Kêu gọi người dân tiết kiệm điện – một dấu hiệu yếu kém
Điều này khiến mọi cánh cửa đàm phán gần như đóng sập.

Ở cấp cao nhất, lãnh đạo tối cao vẫn tiếp tục can thiệp sâu vào quyết định, dù trong tình trạng sức khỏe không ổn định. Điều đó cho thấy: hệ thống quyền lực tại Iran không những không linh hoạt, mà còn ngày càng cứng nhắc.

Và khi một hệ thống không còn khả năng tự điều chỉnh, sự sụp đổ chỉ còn là vấn đề thời gian.

3. Pakistan “giải cứu” Iran… nhưng tự đẩy mình vào nguy hiểm
Trong bối cảnh Iran bị phong tỏa đường biển, một “lối thoát” bất ngờ xuất hiện: Pakistan.

Pakistan cho phép hàng hóa đi qua lãnh thổ mình để vào Iran bằng đường bộ, giúp né tránh việc bị Mỹ kiểm soát tại eo biển Hormuz.
Nghe có vẻ là một bước đi thông minh. Nhưng cái giá phải trả lại cực kỳ đắt.

United Arab Emirates lập tức gây áp lực, yêu cầu Pakistan hoàn trả khoản nợ 3,45 tỷ USD từ năm 2019.

Vấn đề là:
Tổng dự trữ ngoại hối của Pakistan chỉ khoảng 16 tỷ USD
Phần lớn đã được “khóa” cho các nghĩa vụ tài chính khác
Điều đó có nghĩa là việc trả nợ có thể làm cạn kiệt dòng tiền của cả quốc gia.
Pakistan đang đứng trước một lựa chọn khó khăn:
Hỗ trợ Iran → đối mặt khủng hoảng tài chính
Từ bỏ Iran → mất đi vị thế chiến lược
Một bước đi sai có thể khiến cả nền kinh tế chao đảo.

4. Mỹ đang chơi “ván cờ kép”: Chiến tranh hay chờ sụp đổ?

Trước tình hình hiện tại, Donald Trump gần như chỉ còn hai lựa chọn chiến lược.

Kịch bản 1: Mỹ và Israel can thiệp quân sự trực tiếp
Kịch bản 2: Chờ Iran tự sụp đổ từ bên trong

Tuy nhiên, có một điều rõ ràng: ông Trump không muốn một cuộc chiến đẫm máu.
Chiến lược hiện tại thiên về việc “bóp nghẹt kinh tế” để buộc Iran phải tự gục ngã.

Một chi tiết đáng chú ý là Iran đang cố gắng “đàm phán từng phần”:
Mở eo biển Hormuz trước
Sau đó mới bàn đến các vấn đề khác
Nhưng Mỹ không chấp nhận.
Bởi nếu Iran xuất khẩu dầu trở lại, dòng tiền sẽ quay về – và toàn bộ áp lực hiện tại sẽ biến mất.
Nói cách khác, đây không còn là đàm phán… mà là cuộc đấu trí về thời gian.

5. Ngoại giao quyền lực: Những bí mật phía sau ánh đèn sân khấu 

Trong khi căng thẳng Mỹ – Iran leo thang, một sự kiện khác cũng đang được chuẩn bị: cuộc gặp giữa Donald Trump và Tập Cận Bình tại Bắc Kinh.

Nhìn bề ngoài, đây chỉ là một chuyến thăm ngoại giao.
Nhưng phía sau đó là một “cỗ máy vận hành” cực kỳ phức tạp:
Chuẩn bị kéo dài từ 6 đến 12 tháng
Mọi chi tiết được tính toán đến từng giây
An ninh kiểm soát gần như tuyệt đối

Một ví dụ gây sốc:
Đội ngũ an ninh của ông Tập lập tức thu gom và tiêu hủy mọi vật dụng ông sử dụng – chỉ để tránh rò rỉ DNA.
Hay trong chuyến thăm năm 2017, vệ sĩ hai bên đã… đánh nhau vì chiếc “cặp hạt nhân” của Mỹ – thiết bị cho phép Tổng thống ra lệnh tấn công hạt nhân.
Chỉ một chi tiết nhỏ, nếu không được thống nhất trước, có thể dẫn đến xung đột nghiêm trọng.
Điều đó cho thấy:
Ngoại giao không chỉ là những cái bắt tay… mà là cuộc chiến của từng chi tiết.

KẾT LUẬN: 

Thế giới đang bước vào giai đoạn bất ổn mới?
Từ Iran đến Pakistan, từ Mỹ đến Trung Quốc – tất cả đều đang bị cuốn vào một vòng xoáy quyền lực phức tạp.
Một bên là nguy cơ sụp đổ nội bộ.
Một bên là áp lực kinh tế toàn cầu.
Và ở giữa là những quyết định có thể thay đổi cục diện thế giới.

Nguyễn Xuân Nghĩa 
28/4/2026