2026-10-23  

Những nhà tài trợ của đảng Dân chủ này đáng khiến người Mỹ lo ngại.

(Kurt Miceli & Naomi Grant Risch, RCP, 23/10/2026)

Các ứng cử viên Dân chủ đang thu về rất nhiều tiền quyên góp trong mùa bầu cử này vì nhiều lý do khác nhau, nhưng có một nguồn tài trợ đáng lo ngại. Những người làm việc tại các hiệp hội y khoa hàng đầu của Mỹ đang ủng hộ mạnh mẽ các chính trị gia, ủy ban đảng và các ủy ban hành động chính trị của đảng Dân chủ. Bất kể đảng nào thắng cử, người dân Mỹ nên hết sức lo lắng về việc chính trị hóa lĩnh vực y tế ở nước này.

Chúng tôi đã xem xét hồ sơ bầu cử liên bang để ghi nhận các khoản quyên góp chính trị từ nhân viên của 10 hiệp hội y khoa hàng đầu quốc gia. Danh sách này bao gồm Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ, Trường Cao đẳng Bác sĩ Hoa Kỳ, và nhiều tổ chức khác. Chỉ có một tổ chức – Hiệp hội Nội tiết Nhi khoa – không có khoản quyên góp nào được ghi nhận. Nhưng tại chín tổ chức còn lại, các khoản quyên góp phần lớn ủng hộ các ứng cử viên theo chủ nghĩa tự do.

Tóm lại, chúng tôi nhận thấy rằng hơn 70% nhân viên các hiệp hội y khoa quyên góp tiền trong chu kỳ bầu cử này ủng hộ đảng Dân chủ hoặc các ứng cử viên, ủy ban đảng và PAC cánh tả khác. Ngược lại, chưa đến 2% nhân viên các hiệp hội y khoa quyên góp cho phe bảo thủ. Điều đáng chú ý hơn nữa là, gần 78% tổng số tiền quyên góp từ nhân viên các hội y khoa thuộc về đảng Dân chủ và cánh tả. Đảng Cộng hòa và các đảng khác thuộc cánh hữu chỉ nhận được 0,24%.

Nếu có điều gì đó, thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi có lẽ đã đánh giá thấp mức độ thiên vị của các hội y khoa đối với đảng Dân chủ, bởi vì chúng tôi đã loại trừ những người quyên góp có liên kết không rõ ràng. Ví dụ, nếu ai đó ghi tên người chủ của họ là AMA (American Medical Association), chúng tôi không đưa họ vào phân tích. Họ có thể làm việc cho bất kỳ tổ chức nào có tên viết tắt đó, chứ không chỉ riêng Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên hệ mật thiết đáng kinh ngạc giữa nhân viên các hội y khoa và các chính trị gia cánh tả, điều mà chúng tôi tin là điềm xấu cho bệnh nhân Mỹ.

Hãy xem xét Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, nơi nhân viên đã thực hiện hơn 300 khoản quyên góp cho cánh tả. AMA là một người ủng hộ mạnh mẽ của DEI (Đa dạng, Công bằng và Hòa nhập), với tất cả các chính sách gây chia rẽ trái ngược với đạo đức lịch sử của ngành y. DEI đã được sử dụng để phân bổ dịch vụ chăm sóc dựa trên chủng tộc và bản sắc chứ không phải nhu cầu y tế cá nhân, trong khi việc tuyển sinh vào trường y lại đặt màu da lên trên năng lực. Đây không phải là y học. Đó là hoạt động vận động chính trị, và nhân viên của AMA đang ủng hộ cùng một hoạt động vận động chính trị đó.

Tương tự như vậy với Học viện Tâm thần Trẻ em và Thanh thiếu niên Hoa Kỳ (American Academy of Child and Adolescent Psychiatry), nơi 95% số tiền quyên góp của nhân viên nghiêng về cánh tả. Học viện này cũng ủng hộ rộng rãi sự đa dạng, công bằng và hòa nhập (DEI) dựa trên lý do “tiếp cận công bằng các nguồn lực sức khỏe tâm thần”. Học viện này cũng kiên quyết ủng hộ việc chuyển đổi giới tính ở trẻ em, khuyến nghị rằng tất cả trẻ em đều được tiếp cận các thủ thuật y tế xâm lấn và không thể đảo ngược. Hãy quên y học dựa trên bằng chứng đi – đây là hoạt động vận động chính trị cực đoan, đơn giản vậy thôi.

Các hiệp hội y tế này đã phản đối rộng rãi những nỗ lực của chính quyền Trump nhằm loại bỏ hệ tư tưởng ra khỏi y học. Họ cũng ngoan cố từ chối lùi bước khỏi hệ tư tưởng dù chỉ một chút. Mùa hè vừa qua, tổ chức của chúng tôi đã gửi thư cho 10 tổ chức này, yêu cầu họ ủng hộ lệnh cấm các thủ thuật chuyển giới cực đoan nhất: phẫu thuật bộ phận sinh dục ở trẻ em. Không một tổ chức nào hồi đáp, chứ đừng nói đến việc đồng ý. Chính quyền Trump hiện đang yêu cầu nhiều hiệp hội y khoa này nêu rõ lập trường của họ về các thủ tục từ chối giới tính đối với trẻ vị thành niên và liệu họ có xem xét lại các thủ tục đó hay không, nhưng dường như họ khó có thể thay đổi quan điểm.

Người Mỹ có quyền tự do ủng hộ bất kỳ chính trị gia và đảng phái nào họ muốn, nhưng bằng chứng cho thấy các hiệp hội y khoa đã trở thành những cánh tay vận động hành lang của phe tả. Tuy nhiên, đó không phải là lý do tồn tại của các tổ chức này. Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ và mọi hiệp hội y khoa khác được thành lập để thúc đẩy các tiêu chuẩn cao nhất về đào tạo và thực hành y khoa. Nói cách khác, họ có nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của cả bác sĩ và bệnh nhân.

Thay vào đó, các hiệp hội y khoa này lại đầy rẫy những người theo phe phái, những người đang thúc đẩy một chương trình nghị sự hẹp hòi. Hồ sơ bầu cử liên bang là bằng chứng mới nhất. Mỗi người Mỹ nên lo lắng, bởi vì những tiếng nói lớn nhất và quyền lực nhất trong ngành y tế vẫn quyết tâm đặt sức khỏe của người dân vào nguy hiểm.

https://www.realclearpolitics.com/articles/2026/10/23/these_democrat_donors_should_concern_americans_154607.html
 

NVV dịch

 

 

 2026-10-23  

Việc ông Trump nắm giữ cổ phần doanh nghiệp là một món quà dành cho tổng thống đảng Dân chủ tiếp theo.
Đảng Cộng hòa nên tận dụng thời gian còn lại để chấm dứt cuộc thử nghiệm thiếu khôn ngoan này.


(Tad DeHaven, Fox News, 23/10/2026)

Chính quyền Trump hiện đã công bố hoặc hoàn tất các thỏa thuận mua cổ phần tại 40 công ty tư nhân. Chỉ trong tuần này, Bộ Thương mại đã bổ sung thêm 4 đề xuất mua cổ phần nữa vào danh sách mà chúng tôi đang theo dõi tại sáng kiến ​​'Restoring Free Enterprise' của Viện Cato. Những người có xu hướng hoan nghênh các thương vụ của tổng thống nên xem xét một tổng thống thuộc đảng Dân chủ có thể làm gì với những cổ phần đó sau khi ông Trump rời nhiệm sở.

Đảng Dân chủ chắc chắn đang cân nhắc điều đó. Semafor đưa tin rằng các cựu quan chức dưới thời Biden đang rất hào hứng với viễn cảnh sử dụng quyền sở hữu của chính phủ để gây áp lực lên các công ty sản xuất súng và dầu khí. Doug Farrar, người từng làm việc cho Chủ tịch Ủy ban Thương mại Liên bang Lina Khan dưới thời chính quyền Biden, nhận thấy một tổng thống tương lai sẽ tận dụng quyền sở hữu của chính phủ để gây sức ép lên các công ty trí tuệ nhân tạo, "đặc biệt là một người thuộc đảng Dân chủ muốn nghiêm túc điều chỉnh ngành công nghiệp này". Hãy nhớ lại khi chính quyền Biden gây sức ép buộc các nền tảng mạng xã hội gỡ bỏ nội dung mà họ không thích trong đại dịch COVID? Điều đó đã được thực hiện mà không cần đến quyền sở hữu của chính phủ.

Tôi đã cảnh báo về điều này hai tuần sau khi ông Trump nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, sau khi ông ký sắc lệnh hành pháp nhằm thành lập một quỹ đầu tư quốc gia, lưu ý rằng một quỹ đầu tư của chính phủ cuối cùng sẽ trở thành công cụ để các chính quyền Dân chủ theo đuổi các chính sách mà đảng Cộng hòa phản đối. Tòa Bạch Ốc đã từ bỏ ý tưởng về một quỹ chính thức và tiến hành thành lập một danh mục đầu tư tổng thống tạm thời mặc dù không có thẩm quyền pháp lý rõ ràng để làm như vậy.

Nếu một chính quyền Dân chủ làm điều này, gần như không thể tưởng tượng được một Quốc hội do đảng Cộng hòa kiểm soát lại cho phép điều đó tiếp diễn. Thế nhưng, các nghị sĩ Cộng hòa, những người không bao giờ bỏ lỡ cơ hội gán cho đảng Dân chủ là những người theo chủ nghĩa xã hội và cộng sản, lại chẳng làm gì để ngăn chặn chính quyền Trump. Trên thực tế, các nghị sĩ Cộng hòa đang tích cực tìm cách trao cho nhánh hành pháp — và do đó là các chính quyền tương lai, chứ không chỉ chính quyền hiện tại — quyền lực pháp lý để tiếp tục làm điều đó.

Những người ủng hộ chính quyền Trump viện dẫn lý lẽ rằng việc nắm giữ cổ phần có lợi cho người đóng thuế hơn là chi tiền không giới hạn, hoặc rằng chúng cần thiết để củng cố chuỗi cung ứng phục vụ an ninh quốc gia. Bỏ qua việc đó không phải là động cơ thực sự của chính quyền, cả hai lý lẽ này đều không biện minh cho việc Washington trở thành cổ đông trong một danh mục các công ty.

Bộ Thương mại sẽ yêu cầu 7 công ty công nghệ góp vốn cổ phần như một điều kiện để được tiếp cận hàng triệu đô la tài trợ từ chính phủ liên bang.

Chắc chắn rồi, nếu chính phủ đã cấp tiền cho một công ty, việc nhận cổ phần đổi lại nghe có vẻ hấp dẫn hơn là cho không. Nhưng những sự đánh đổi là không thể bỏ qua. 

Khi chính phủ chọn một con ngựa đua, con ngựa đó sẽ được hưởng những lợi thế và đặc quyền khiến các đối thủ khác gặp bất lợi. Nhưng mối nguy hiểm không chỉ dừng lại ở các đối thủ hiện tại. Các công ty mới thành lập, kể cả những công ty chưa tồn tại, vốn đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc đưa sản phẩm và ý tưởng của mình ra thị trường. Quyền sở hữu của chính phủ càng làm tăng thêm khó khăn đó, đe dọa bóp nghẹt tinh thần khởi nghiệp vốn rất quan trọng đối với sự thành công kinh tế của Mỹ.

Giá trị cổ phiếu trong sổ sách của chính phủ không giống với doanh thu của ngân khố nhà nước. Để hiện thực hóa lợi nhuận, cần phải bán cổ phiếu và trừ đi số tiền mà người đóng thuế đã đầu tư. Và như đồng nghiệp Scott Lincicome giải thích, lợi nhuận từ cổ phiếu của Intel một phần phản ánh kỳ vọng về sự ưu ái của chính phủ, bao gồm cả áp lực lên các công ty khác để sử dụng sản phẩm của Intel. Điều đó cho thấy khả năng chính phủ đang chuyển hướng đầu tư tư nhân ra khỏi các doanh nghiệp có triển vọng thương mại tốt hơn.

Ngay cả khi chính quyền có thể bán toàn bộ cổ phần Intel của mình ngay hôm nay, họ cũng chỉ thu về khoảng 28 tỷ đô la, ít hơn 1,5% trong tổng số 2 nghìn tỷ đô la thâm hụt ngân sách mà Washington đã phải gánh chịu trong năm tài chính vừa qua dưới thời Tổng thống Trump và Quốc hội do đảng Cộng hòa kiểm soát. Bất kể thế nào, các cổ phần mà chính quyền đã mua nên được thoái vốn. Nhưng nếu chính quyền muốn huy động vốn một cách hiệu quả, họ có thể xem xét lại các khuyến nghị của Cato về việc bán các tòa nhà liên bang dư thừa và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước như Amtrak.

Lý lẽ về an ninh quốc gia nghe có vẻ hợp lý cho đến khi bạn nhận ra rằng chính phủ liên bang đã có rất nhiều cách để hỗ trợ các công ty trên cơ sở đó mà không cần trở thành chủ sở hữu. Sáng kiến ​​"Restoring Free Enterprise" của chúng tôi đưa ra cả các giải pháp dựa trên thị trường và của chính phủ thay thế cho việc nắm giữ cổ phần, giúp củng cố các chuỗi cung ứng quan trọng. Việc nới lỏng các yêu cầu cấp phép và loại bỏ thuế quan đối với các nguyên liệu đầu vào sản xuất sẽ giúp các công ty tư nhân dễ dàng đầu tư và mở rộng nguồn cung. Và chính phủ có thể giải quyết các nhu cầu quốc phòng cụ thể thông qua các hợp đồng mua bán hoặc dự trữ các vật liệu thiết yếu.

Việc viện dẫn "an ninh quốc gia" cũng là một truyền thống lâu đời ở Washington, được các chính trị gia sử dụng như cái cớ để biện minh cho những hành động mà họ có thể không thoát tội nếu không có lý do này. Hồi tháng Tư, chính quyền đã theo đuổi một gói cứu trợ có thể giúp chính phủ nắm giữ 90% cổ phần của Spirit Airlines với lý do an ninh quốc gia không mấy thuyết phục, cho đến khi một nhóm các chủ sở hữu trái phiếu của hãng hàng không này phản đối các điều khoản. 

Tuần trước, Politico đưa tin Cục Hàng không Liên bang (FAA) đang xem xét việc mua cổ phần trong một công ty phát triển phần mềm quản lý kiểm soát không lưu. Cho dù có liên quan đến an ninh quốc gia hay không, việc chính phủ trở thành nhà đầu tư vào một công ty mà lẽ ra họ phải đánh giá một cách khách quan là một ý tưởng tồi.

Những người bênh vực cũng sẽ viện dẫn những lời hứa rằng chính phủ sẽ vẫn là cổ đông thụ động và lập luận rằng những lo ngại về việc chính phủ liên bang kiểm soát hội đồng quản trị doanh nghiệp là quá mức. Đó là một quan điểm ngây thơ đến đau lòng về cách thức hoạt động của Washington. Chính quyền Trump đã và đang sử dụng các hợp đồng và quyền lực quản lý để ưu ái các công ty mà họ sở hữu.

Trong khi những người ủng hộ Trump có thể hoan nghênh sự ưu ái đó ngày hôm nay, liệu họ có còn hoan nghênh khi một Tổng thống Gavin Newsom hay một Tổng thống Alexandria Ocasio-Cortez làm điều tương tự? 

KHÔNG.

Đó là lý do tại sao đảng Cộng hòa nên tận dụng thời gian còn lại để chấm dứt cuộc thử nghiệm sở hữu này thay vì chờ đến khi một tổng thống thuộc đảng Dân chủ khiến họ phải hối hận vì đã làm vậy.

https://www.foxnews.com/opinion/trumps-corporate-stakes-gift-next-democratic-president
 

 

2026 November  

Những người theo chủ nghĩa tiến bộ thực sự muốn gì?

(Lionel Shriver, The New Criterion, tháng 11/2026)

Về tư duy cánh tả cấp tiến.

1.
Tôi e rằng sẽ phải trả giá khi yêu cầu một tiểu thuyết gia cho một bài giảng chính thức. Tôi dự định sẽ sử dụng những khái quát hóa quá mức, suy luận không có căn cứ và hoàn toàn là suy đoán. Tôi là một tiểu thuyết gia. Tôi bịa đặt ra mọi thứ.

Câu hỏi đặt ra trước chúng ta là: những người theo chủ nghĩa tiến bộ thực sự muốn gì? Luôn đáng để chú ý đến những gì mọi người nói với bạn rằng họ muốn và trước hết hãy chấp nhận điều đó một cách khách quan – như sự đa dạng, công bằng và hòa nhập, vân vân. Nhưng các tiểu thuyết gia thích nhìn sâu vào vấn đề.

Bây giờ, nếu có những người theo chủ nghĩa tiến bộ trong khán giả, tôi hy vọng rằng việc nghe những gì những người từng là đảng viên Dân chủ xa lánh như tôi nghĩ về các bạn như một thương hiệu ít nhất cũng mang tính thông tin. Tôi cũng thừa nhận sự dễ dàng mà những người theo chủ nghĩa tiến bộ có thể đưa ra những lời chỉ trích gay gắt và hoàn toàn thuyết phục hơn đối với phe cánh hữu ủng hộ Trump.

Chủ nghĩa tiến bộ không chỉ là một tập hợp các quan điểm mà còn là một tư duy. Một tính khí, một khuynh hướng. Một tập hợp các cảm xúc chủ đạo. Một tập hợp các bản năng, một hồ sơ tính cách. Trong cuốn tiểu thuyết gần đây nhất của tôi, A Better Life, tôi đã cố gắng nắm bắt sự tổng hợp tính cách này trong người mẹ của nhân vật chính, Gloria Bonaventura — người đã mời một người nhập cư chưa được kiểm tra vào nhà ở Brooklyn của mình, với những hậu quả bi thảm. Gloria trong sự ngây thơ của mình có nguy cơ trở thành một hình mẫu rập khuôn; tôi thích dùng từ "nguyên mẫu" hơn. Xét đến bản chất của nguyên mẫu đó, điều mà cuộc bầu cử thị trưởng gần đây của thành phố này thường cho thấy, chân dung Gloria mà tôi khắc họa, nếu có thể nói, là quá nhân từ.

Tôi có thể nói điều này một cách chắc chắn, đó là vì tôi lớn lên trong một gia đình "tiến bộ" trước khi nhãn hiệu này trở thành một từ viết tắt cho cánh tả hiện đại của Mỹ. Cha mẹ tôi là những người theo đảng Dân chủ tự do suốt đời. Hơn nữa, chính thế hệ bùng nổ dân số của tôi phải chịu trách nhiệm rất lớn về tình trạng hiện tại của Đảng Dân chủ, lĩnh vực từ thiện, khu vực công, các nhà thờ, các trường đại học, giới nghệ thuật, và thậm chí cả nhiều hội đồng quản trị doanh nghiệp. Trong sự ngây thơ, phù phiếm, kiêu ngạo, thiếu hiểu biết lịch sử, tính cục bộ, sự thiếu nhận thức về tâm lý, sự thịnh vượng được cho là có quyền và sự cả tin về chính trị, tôi và những người cùng trang lứa đã gieo mầm cho cả chủ nghĩa "thức tỉnh" và chủ nghĩa xã hội dân chủ - DSA có vẻ là một trường hợp riêng biệt, nhưng vẫn có liên quan mật thiết. Khi còn là thiếu niên, tôi đeo vòng hạt và mặc quần ống loe, tôi tham gia các cuộc biểu tình, và tôi thành tâm lên án đất nước mình. Tình trạng của cánh tả Mỹ một phần là lỗi của tôi.

Vậy bản chất của những gì mà những người chỉ trích gọi một cách thiếu thiện chí là "những kẻ tiến bộ ngu ngốc" là gì? Mặc dù họ luôn miệng nói bảo vệ "những người dễ bị tổn thương", nhưng động lực chính của những người tiến bộ lại là tiêu cực. Những người này không hướng đến việc hiện thực hóa một Shangri-la mà là phá hủy những gì, và đặc biệt là những người mà họ căm ghét. Nguồn gốc thời kỳ hippie đó thật đáng xấu hổ, nhưng ít nhất những lời sáo rỗng "love-not-war" của thập niên 60, tình dục thử nghiệm và cuộc sống tốt đẹp hơn nhờ hóa học, đã tạo nên một tia hy vọng le lói về vùng đất tươi sáng đầy nắng. Chủ nghĩa cấp tiến giai đoạn cuối đã đánh mất những chiếc băng đô họa tiết paisley, những trò hề trong chương trình Laugh-In, và cả sự nghỉ hưu sớm lười biếng của Timothy Leary với câu nói "Turn on, tune in, drop out". Hơn một thập kỷ qua của chủ nghĩa tiến bộ theo kiểu "văn hóa tẩy chay" (cancel-culture) đã chứng tỏ sự tàn bạo hơn, hung hãn hơn, trừng phạt hơn và chắc chắn nguy hiểm hơn nhiều. Nó bị ám ảnh bởi khái niệm quyền lực, và do đó bị ám ảnh bởi việc đạt được nó.

2.
Vì vậy, trong khi những người theo chủ nghĩa tiến bộ thường bị buộc tội lạc quan một cách cả tin về bản chất con người, thì những cuộc biểu tình ồn ào của họ trên đường phố lại ít mang tính hòa giải, ít những lời ca ngợi hòa bình. Bản chất của các cuộc biểu tình cánh tả thường là thù địch, oán giận, trả thù, buộc tội, hung hăng nếu không muốn nói là giết người, cay độc và giận dữ. Các hoạt động chống ICE có tổ chức bao gồm việc nhổ nước bọt và chửi bới cảnh sát, đá vào xe của họ, đốt xe, ném những mảnh bê tông và la hét những lời tục tĩu. Hãy xem những tấm biển của các nhà hoạt động vì quyền của người chuyển giới nhắm vào “những người theo chủ nghĩa nữ quyền cực đoan bài trừ người chuyển giới” (trans exclusionary radical feminists - TERF): TERF tốt duy nhất là TERF bị treo cổ chết; Một TERF, một viên đạn; Cứu một người chuyển giới, giết một TERF. Mặc áo thung in hình những người chơi dù lượn sát nhân, những người biểu tình ủng hộ Palestine hô vang “There is only one solution: intifada revolution,” “By any means necessary,”, và “Death to Israel, Death to Zionists”. Đối với nhóm người này, những cảm xúc tích cực hơn như vui vẻ, hân hoan và ăn mừng chỉ xuất hiện sau vụ ám sát Charlie Kirk, vụ sát hại CEO của United Healthcare, vụ thảm sát 1.200 người Israel và vụ bắt cóc 250 người khác, và các âm mưu ám sát tổng thống Mỹ.

Ở những vị trí có quyền lực, họ cũng thích thú trong việc phá hỏng cuộc vui của người khác: tước đoạt đặc quyền, cấm đoán thú vui, kiểm soát và làm khổ đồng bào mình. Việc cấm người Mỹ đi nghỉ mát, sưởi ấm nhà cửa, sử dụng bếp ga, lái xe, ăn gan ngỗng hay thậm chí cả sườn heo là ý tưởng niềm vui của những người này. Tại Hoa Kỳ, những người tự phong thực thi các hạn chế do Covid-19 phần lớn là đảng viên Dân chủ. Đại dịch là một dịp thú vị để thỏa mãn khát vọng chuyên chế của phe cấp tiến – luật lệ càng ngớ ngẩn càng tốt, bởi vì việc bắt người dân tuân theo những quy định nhỏ nhặt, vô nghĩa là điều đặc biệt thú vị. Trong giới cấp tiến, năng lượng hạt nhân là một giải pháp không được ưa chuộng để từ bỏ nhiên liệu hóa thạch vì nó hứa hẹn sự dồi dào năng lượng và do đó làm giảm đáng kể cơ hội phá hỏng cuộc vui.

Nội dung của cương lĩnh cấp tiến chỉ là thứ yếu so với lập trường – tức là lập trường phản kháng. Phong trào này mắc chứng rối loạn phản kháng tập thể. Biến đổi khí hậu đã cung cấp một cái cớ tuyệt vời để bắt nạt người khác và phá hỏng cuộc vui của họ. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa tiến bộ đã chuyển đổi liền mạch từ sự cuồng loạn về “global boiling” sang sự cuồng loạn về “Palestine” mà không hề gián đoạn. Sự phẫn nộ, sự tự cho mình là đúng, cơn thịnh nộ say sưa là mục đích chính, mà việc phục vụ cho mục đích đó chỉ là thứ yếu nếu không muốn nói là không liên quan. Bạn có thể chắc chắn rằng khi tình yêu giả tạo dành cho người Palestine lụi tàn, một nỗi ám ảnh khác sẽ thay thế nó, và đám đông thậm chí sẽ không nhận ra rằng khẩu hiệu của họ đã thay đổi.

Những người theo chủ nghĩa tiến bộ cần một kẻ thù (và, ở một mức độ nào đó, có lẽ hầu hết chúng ta đều cần; hãy xem bài giảng này). Không có từ nào nổi bật hơn trong từ vựng cánh tả ngày nay ngoài từ “ghét”. Những kẻ phản diện của thời đại BLM—những kẻ phân biệt chủng tộc, những kẻ phủ nhận biến đổi khí hậu, và những kẻ bài Hồi giáo, kỳ thị người chuyển giới, người nước ngoài — gần đây đã nhường chỗ cho một thế lực duy nhất, Israel. Mà hầu hết những người này chưa từng đến và hầu hết những người này không biết gì về lịch sử của Israel, sự thiếu hiểu biết lại là một lợi thế. Sự thật thì nhức nhối và dai dẳng; Niềm đam mê thiếu hiểu biết có khả năng thích ứng vô hạn, không bị lý trí chi phối và không thể bị bác bỏ.

Phần lớn, các nhóm thiểu số mà những người theo chủ nghĩa tiến bộ da trắng tuyên bố đại diện chỉ là những con tốt hoặc đạo cụ. Tôi tin chắc rằng những người theo chủ nghĩa tiến bộ ở Mỹ thực sự ghét Israel, hoặc chắc chắn là người Do Thái; tôi ít tin rằng họ có bất kỳ mối quan tâm thực sự nào đến người Palestine. Cha tôi, người gốc Virginia, đã tích cực tham gia phong trào dân quyền ban đầu — một phong trào mà những người theo chủ nghĩa tiến bộ trẻ tuổi ghen tị và dường như quyết tâm sao chép hoặc vượt qua sự chính trực đích thực của nó. Tôi tin rằng cha tôi và những người cộng sự của ông thực sự quan tâm đến các nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc và kỳ thị. Nhưng trong thời điểm mà sự bình đẳng chủng tộc chưa bao giờ công bằng hơn, nếu không muốn nói là nghiêng về phía thiểu số, quá nhiều người theo chủ nghĩa tiến bộ da trắng đã sử dụng người da đen làm cái cớ để tự quảng bá bản thân—để quỳ gối trong bộ vải kente trên truyền hình.

3.
Ngày nay, chúng ta thường cáo buộc những người theo chủ nghĩa tiến bộ về khái niệm “sự đồng cảm tự sát” của nhà tâm lý học Gad Saad. Đó là một cách diễn đạt sắc sảo. Tuy nhiên, cách đặt tên này lại quá đề cao mục tiêu của nó. Nó không nhìn sâu vào bản chất vấn đề. Ồ, tôi không phản đối phần "tự sát". Nhưng người Mỹ theo chủ nghĩa tiến bộ điển hình khó có thể bị dày vò bởi lòng thương hại thái quá dẫn đến tự hủy hoại bản thân. Người khác cũng hữu ích. Nhưng điểm mấu chốt của chủ nghĩa tiến bộ là nuôi dưỡng một trạng thái nội tâm: cảm giác ưu việt, chắc chắn, khinh miệt những kẻ không tin, và sự phù phiếm về mặt đạo đức. Và khi bạn nhìn vào danh sách những cảm xúc đó — một lần nữa: cảm giác ưu việt, chắc chắn, khinh miệt những kẻ không tin, và sự phù phiếm về mặt đạo đức — bạn sẽ hiểu tại sao, bất chấp những khác biệt rõ ràng về chủ nghĩa, cánh tả cực đoan đương đại lại liên minh với Hồi giáo cực đoan. Cả những người Hồi giáo cực đoan và những người Dân chủ cánh tả đều nuôi dưỡng chủ nghĩa tự yêu bản thân tập thể. Cả hai đều nuôi dưỡng sự xa lánh những kẻ ngoại đạo, lòng tự tôn sùng đạo đức, và niềm tin rằng chỉ có nhóm họ mới được hưởng sự giác ngộ và tiếp cận với chân lý thiêng liêng hoặc chân lý thần thánh trên thực tế. "Những người đồng tính ủng hộ Palestine" có thể hài hước về mặt nhân chủng học, nhưng nó hoàn toàn có lý về mặt cảm xúc.

Những người theo chủ nghĩa tiến bộ dường như đặc biệt quan tâm đến đức hạnh của chính họ. Nhưng tôi nghĩ mối quan tâm thường là để được nhìn nhận là người có đức hạnh. Việc trở nên tốt bụng khó hơn nhiều so với việc tỏ ra tốt bụng, đơn giản vì con đường dẫn đến sự tốt bụng thực sự vô cùng khó khăn để vạch ra. Sự tốt bụng thực sự thường mang tính riêng tư và không được thừa nhận, bởi vì nó không được theo đuổi chỉ để được công nhận. Đức hạnh chân chính không phải là điều bạn cảm thấy cần phải thể hiện ra bên ngoài.

Rõ ràng, những người theo chủ nghĩa tiến bộ thường có xu hướng ganh đua về sự tốt đẹp nhằm nâng cao địa vị của mình so với người khác. Nhưng công bằng mà nói, ai lại không muốn có địa vị? Hầu hết chúng ta, bất kể khuynh hướng chính trị nào, đều thích sự ngưỡng mộ, công nhận và tôn trọng. Hầu hết chúng ta đều thích cảm thấy mình quan trọng. Vì vậy, sự khác biệt về chính trị ở đây là tại sao chúng ta muốn cảm thấy mình quan trọng — nghĩa là, chúng ta tìm kiếm sự công nhận vì điều gì. Tôi đã nhận ra từ lâu rằng tôi ít quan tâm đến những lời khen ngợi vì mình tốt — nhưng tôi rất vui khi được công nhận là mình giỏi. Tôi hạnh phúc khi được gọi là một nhà văn giỏi. Tuy nhiên, tôi không thèm khát danh hiệu "người tốt", điều đó có nghĩa là về tính cách, tôi không bao giờ có thể là gì khác ngoài một người theo chủ nghĩa tiến bộ tồi tệ. Ở tuổi già, tôi miễn cưỡng chấp nhận nhãn hiệu bảo thủ, chỉ vì những người bảo thủ thường không bị thúc đẩy bởi mong muốn quá mức về sự thánh thiện trước công chúng này. Theo quy luật, những người theo chủ nghĩa tiến bộ muốn được coi là tốt, và những người bảo thủ muốn được coi là đúng.

Đương nhiên, những người thẳng thắn ở cả hai phía của sự chia rẽ chính trị ở Mỹ đều tin rằng họ đúng, nếu không thì họ đã im miệng rồi. Tôi nghĩ mình đúng. Tôi đã khoanh vùng các chủ đề riêng biệt trong đầu mình như những vấn đề còn chưa chắc chắn: trong nhiều năm, đó là học thuyết về khí hậu, mặc dù hiện tại thì không còn nữa; gần đây hơn, là cuộc chiến với Iran. Nhưng vào bất kỳ thời điểm nào, giống như nhiều người trong số các bạn, tôi cho rằng mình đúng về mọi thứ.

Tuy nhiên, cảm giác chắc chắn phi lý này, vốn là một điểm yếu của con người chứ không phải của một phe phái nào, lại mang một sắc thái và cảm nhận khác nhau giữa những người theo chủ nghĩa tiến bộ và những người theo chủ nghĩa bảo thủ. Hiện nay, người ta đều cho rằng những người theo chủ nghĩa tiến bộ nghĩ rằng đối thủ của họ là xấu xa; còn những người theo chủ nghĩa bảo thủ nghĩ rằng đối thủ của họ là ngu ngốc. Theo đó, phe tả dễ tỏ ra đạo đức giả (sanctimony); phe hữu dễ chế giễu (derision).

Tuy nhiên, thói quen tỏ ra đạo đức giả dường như mâu thuẫn với điệp khúc của những người theo chủ nghĩa tiến bộ tự nhận mình là "người da trắng tội lỗi" (white guilt) trong hậu quả hỗn loạn của vụ George Floyd. Đây là một cảm xúc của cánh tả mà chúng ta không nên tin tưởng một cách mù quáng.

Trước hết, những người này đã từng làm gì với đồng bào da đen của họ mà họ lại cảm thấy tồi tệ đến vậy? Chế độ nô lệ kết thúc năm 1865. Rất ít người còn sống ngày nay đủ tư cách là người lớn có trách nhiệm trong thời kỳ Jim Crow. Phong trào BLM đã quá dễ dàng phủ nhận giáo lý cốt lõi của Cơ đốc giáo rằng tội lỗi của cha không đổ lên đầu con cái. Nếu tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm cho mọi tội ác mà tổ tiên chúng ta đã gây ra từ thuở sơ khai, có lẽ chúng ta nên cùng nhau tự thiêu trên toàn nhân loại.

Thay vào đó, hãy nhìn nhận thực tế. Những lời than phiền về "tội lỗi của người da trắng" từ những người mua sách da trắng dễ bị lợi dụng của Robin DiAngelo chỉ là những hình thức phô trương đạo đức — những dịp để khoe mẽ trước công chúng, giống như những điệu múa quạt trong nghệ thuật tạp kỹ. Hãy suy nghĩ một chút về bản chất cay đắng và không thể chịu đựng được của nỗi xấu hổ sâu sắc — gần đây nhất được thể hiện ở học giả Jason Arday của Cambridge, người chuyên bịa đặt. Ông ta có phô trương sự ô nhục của mình không? Không, ông ta đã tự sát. Bởi vì tội lỗi thực sự khiến bạn muốn co rúm lại và biến mất. Đó không phải là điều bạn nên công khai. Trong cơn cuồng loạn hậu Floyd, những người tiến bộ da trắng có cảm thấy xấu hổ không? Không, họ cảm thấy tự hào về bản thân vì đã tuyên bố mình cảm thấy xấu hổ. Họ công khai tội lỗi của mình để tự giải thoát khỏi nó. Không ai trong số những người này cảm thấy mình có lỗi cá nhân về những tội lỗi được cho là bẩm sinh của chủng tộc họ. Nếu bạn tuyên bố mình có tội, thì bạn không có tội.

4.
Cùng một logic, hoặc sự thiếu logic, cũng áp dụng cho việc bôi nhọ phương Tây nói chung và Hoa Kỳ nói riêng — bởi chính những người là người phương Tây và người Mỹ. Sự phỉ báng hăng hái này nhằm mục đích tránh cho những người chỉ trích khỏi chính sự chỉ trích của họ. Nếu bạn nói xấu đất nước và đồng bào của mình, bạn ngầm bước ra khỏi đất nước và tách mình khỏi đồng bào của mình. Do đó, điều nghe có vẻ như là tự phê bình thực chất lại không phải. Điều thường bị gán nhãn sai là "tự ghét bỏ"(self-loathing) đóng vai trò như một cách trốn tránh khéo léo và tiện lợi. Đó là sự giả định về một bản sắc lơ lửng trên quốc tịch tầm thường mà những người Mỹ đáng ghê tởm khác đã được sinh ra một cách bất biến (immutably).

Tôi đã sử dụng kỹ thuật này khi còn trẻ và đi du lịch, rồi sau đó sống ở châu Âu. Tôi từng nghĩ rằng càng chỉ trích gay gắt những người Mỹ "đồng hương" và càng xin lỗi về những thiếu sót của "chúng ta" - sự thô lỗ, ồn ào, ngu dốt, ngây thơ, thiếu văn hóa và béo phì - thì tôi càng chắc chắn sẽ tự khẳng định mình là người trái ngược hoàn toàn với những định kiến ​​đó. Tôi nghĩ mình đang chơi trò "thoát khỏi việc là người Mỹ". Tất nhiên, tôi đã chẳng làm được gì cả. Việc chê bai người Mỹ lại là điều đậm chất Mỹ nhất mà tôi từng làm. Thành thật mà nói, người ngoài thấy những người coi thường chính đồng bào mình thật khó coi và thậm chí đáng thương. Tôi không còn làm vậy nữa.

Sự thôi thúc né tránh này cũng mở rộng đến các chính sách tiến bộ. Mặc dù rất coi trọng sự đa dạng, nhưng những người này không muốn con cái mình bị từ chối vào các trường đại học danh tiếng, cũng như chính những đứa trẻ đó không muốn bị từ chối để nhường chỗ cho nhiều sinh viên da đen và gốc Latinh hơn. Không ai trong số họ từ chức khỏi những vị trí lương cao và trở nên thất nghiệp, để một ứng viên thiểu số có thể thay thế họ. Ngược lại, giới tinh hoa da trắng ồn ào ủng hộ các ưu đãi dựa trên chủng tộc với giả định sai lầm rằng việc làm đúng đắn (right-on) một cách đáng khen ngợi như vậy sẽ bảo vệ họ khỏi bị gạt ra ngoài lề bởi việc tuyển dụng đa dạng.

Về vấn đề đó, những người theo chủ nghĩa tiến bộ không muốn sống với hậu quả của hầu hết các chính sách mà họ ủng hộ. Họ yêu thích việc thừa nhận chủ quyền đất đai, nhưng tôi chưa bao giờ đọc về bất kỳ ai trong số họ bị dày vò bởi cảm giác tội lỗi của người da trắng đến mức họ trao quyền sở hữu ngôi nhà năm phòng ngủ, ví đã chiếm đất định cư, cho người bản địa. Ca sĩ Billie Eilish nổi tiếng đã tuyên bố tại lễ trao giải Grammy rằng "không ai là bất hợp pháp trên vùng đất bị đánh cắp"; Sau đó, bộ tộc Tongva cho biết họ vẫn đang chờ nữ ca sĩ tự nguyện trả lại vùng đất tổ tiên bên dưới căn biệt thự trị giá ba triệu đô la của cô. Việc cổ vũ cắt giảm ngân sách cảnh sát là một hành động rẻ tiền. Không ai kêu gọi giải tán lực lượng cảnh sát địa phương thực sự mong đợi rằng sự thiếu đồng cảm đến mức tự sát này sẽ thành công — đặc biệt là khi gánh nặng chính của một cuộc hỗn loạn bạo lực sau đó sẽ đổ dồn lên chính những “sinh mạng người da đen” mà những người theo chủ nghĩa tiến bộ giả vờ quan tâm.

Hãy xem, tôi đang dành lời khen cho những người theo chủ nghĩa tiến bộ ở đây vì họ là những con người bình thường. Trong cuộc sống thực, họ muốn kẻ nào đột nhập vào nhà họ hoặc lừa đảo tiền tiết kiệm của họ phải bị bắt. Họ nói về việc “giảm số lượng người bị giam giữ”. Nhưng nếu một thành viên trong gia đình họ — giả sử họ vẫn còn liên lạc với bất kỳ thành viên nào trong gia đình — bị một kẻ phạm tội tái phạm vừa được thả ra giết hại dã man, chắc chắn họ cũng sẽ đau khổ như bất kỳ người Cộng hòa bình thường nào. Hãy lấy ví dụ ứng cử viên Quốc hội New York, Darializa Avila Chevalier. Người tự xưng là “người phản đối nhà tù” đã từ chối thừa nhận rằng những kẻ giết người bị kết án nên bị giam giữ, ngay cả khi bị Ban Biên tập báo New York hỏi thẳng thừng bốn lần. Về mặt tâm lý, có thể dự đoán rằng một khi kẻ giết người đó không còn là một khái niệm trừu tượng mà là kẻ đồ tể tàn nhẫn đã giết hại người thân yêu của cô, thì người phụ nữ trẻ này sẽ muốn thủ phạm bị giam giữ. Những người theo chủ nghĩa tiến bộ ủng hộ ưu tiên chủng tộc trên lý thuyết. Tuy nhiên, họ cũng không hề háo hức được điều trị bởi một bác sĩ ung thư chỉ dựa vào màu da để tốt nghiệp trường y. Những người trẻ theo chủ nghĩa tiến bộ lên án quyền sở hữu tài sản nhưng vẫn muốn được ở nhờ nhà mà cha mẹ họ tưởng tượng rằng họ vẫn sở hữu. Khi đi qua những cảnh quan đô thị hỗn loạn, đầy rẫy nguy hiểm do các chính sách cánh tả cực đoan tạo ra – với các khu trại vô gia cư được nhà nước và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ, việc sử dụng ma túy công khai và những lời lẽ đáng lo ngại của những người “rối loạn thần kinh” không được điều trị – những người theo chủ nghĩa tiến bộ cũng cảm thấy ghê tởm, ác cảm và sợ hãi. Tôi cá là họ cũng bực bội như chúng ta khi giẫm phải phân người trên đường đến xe. Họ cũng khó chịu như bất kỳ khách hàng nào khác khi phải liên tục nhấn nút để được hỗ trợ tại CVS, bởi vì, do nạn trộm cắp tràn lan không bị trừng phạt, mọi sản phẩm có giá trị hơn một gói kẹo bạc hà đều bị khóa kín. Tôi chỉ muốn nói rằng, mặc dù lập trường của họ có vẻ ngược lại, nhưng hầu hết những người theo chủ nghĩa tiến bộ, khi bạn tìm hiểu kỹ hơn, đều là những người bình thường - với sự đạo đức giả của người bình thường.

Những người theo chủ nghĩa tiến bộ lên án chủ nghĩa tư bản nhưng lại muốn hưởng lợi từ nó. Chúng ta hầu như chưa từng thấy hàng triệu người thuộc đảng Dân chủ ném điện thoại của họ xuống sông Hudson vì máy tính bỏ túi là kết quả của hàng thế kỷ phát minh và động lực tài chính của chủ nghĩa tư bản. Họ sẽ phẫn nộ nếu những tập đoàn độc ác này đột nhiên ngừng gửi cho họ các bản cập nhật bảo mật và tất cả dữ liệu của họ trở thành con mồi của tin tặc hoặc bị tội phạm ở Kazakhstan tống tiền. Những người theo chủ nghĩa tiến bộ sẽ suy sụp nếu Trader Joe's đóng cửa. Giữa những lời bàn tán về cách mạng, tôi không cảm thấy có chút hứng thú nào đối với sự hỗn loạn nguy hiểm đến tính mạng và chủ nghĩa Darwin "cá lớn nuốt cá bé" mà các khu dân cư đông đúc thường rơi vào chỉ năm phút sau khi đèn tắt hoặc người bán tạp hóa địa phương không còn chấp nhận những đồng đô la vô giá trị của bạn để đổi lấy một cân thịt bò băm. (Để có một bức tranh sống động về sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản Mỹ, tôi hy vọng bạn sẽ đọc cuốn tiểu thuyết năm 2016 của tôi, The Mandibles.)

5.
Vấn đề là ở chỗ này: những người này không nghiêm túc. Họ chỉ đang diễn kịch. Họ hướng tới một tương lai mà họ không hề muốn sống trong đó. Những người cực đoan trong phong trào này công khai muốn phá bỏ chính nền văn minh mà họ dựa vào và xây dựng nên toàn bộ cuộc sống của họ. Vâng, điều này dẫn chúng ta đến với những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ, một số người ủng hộ họ giàu có và hào nhoáng với những món đồ hiệu xa xỉ. Hãy giả vờ xem xét cương lĩnh của họ một cách nghiêm túc trong giây lát. Không nhà tù, không cảnh sát. Nhà ở là quyền con người. Quốc phòng bị giảm xuống gần như bằng không. Nhà nước thâu tóm các ngành công nghiệp lớn. Cấp quốc tịch cho tất cả người nhập cư bất hợp pháp, có lẽ bao gồm cả nhiều du khách chưa đến. Thân thiết với Triều Tiên.

Không cần phải nói, những người theo chủ nghĩa xã hội muốn mọi thứ đều miễn phí: nhà ở miễn phí, chăm sóc sức khỏe miễn phí, chăm sóc trẻ em miễn phí, mẫu giáo miễn phí; ít nhất là thực phẩm dưới giá gốc. Tất cả sự miễn phí này sẽ được trả bởi "người giàu". Than ôi, dường như chẳng có kế hoạch nào cho việc gì sẽ xảy ra khi nguồn tiền cạn kiệt vì bạn vừa tịch thu hết tài sản của những người đã làm cho xã hội vận hành. Những lập luận sơ sài lặp đi lặp lại rằng "người giàu" không đủ khả năng chi trả cho mọi thứ ngay cả khi bạn hút cạn đồng xu cuối cùng của họ chẳng bao giờ làm những người này nao núng. Không, nếu chỉ cần "giới tài phiệt" ngừng móc túi mọi người, tất cả chúng ta sẽ sống sung sướng. "Medicare cho tất cả" cũng nghe rất hấp dẫn. Tuy nhiên, tỷ lệ hoàn trả của Medicare cho các bệnh viện trung bình thấp hơn 10% so với điểm hòa vốn; nếu không có sự chi trả vượt mức từ các công ty bảo hiểm tư nhân, toàn bộ hệ thống y tế Hoa Kỳ sẽ sụp đổ. Những người theo chủ nghĩa tiến bộ không giỏi toán. Những người bảo thủ quan tâm đến những gì hiệu quả; những người cánh tả quan tâm đến những gì nên có hiệu quả.

Những thứ này đều là chủ nghĩa xã hội cũ rích, không có gì thay đổi. Điều thú vị hơn đối với tôi là đề xuất của DSA về việc loại bỏ Thượng viện Hoa Kỳ, chức vụ tổng thống và Cử tri đoàn; việc loại bỏ ICE chỉ là một phần nhỏ. Việc sửa đổi Hiến pháp một cách quyết liệt như vậy sẽ đòi hỏi vô số điều khoản bổ sung, tất cả đều phải được thông qua bởi hai phần ba Hạ viện và hai phần ba Thượng viện (những người sẽ bỏ phiếu cho sự sụp đổ của chính mình), cũng như ba phần tư cơ quan lập pháp tiểu bang phê chuẩn tất cả. Thật vậy sao? Trên thực tế, đề xuất này là xé bỏ Hiến pháp, một viễn cảnh hiện tại đòi hỏi không gì khác ngoài một cuộc nổi dậy vũ trang của quần chúng, có lẽ là một cuộc chiến giữa Quân đội New Mamdani và chính phủ liên bang. Không phải những người này đang chịu trách nhiệm cho việc thúc đẩy điều đó. Xét cho cùng, hầu hết mọi cuộc cách mạng, ngoại trừ cuộc cách mạng văn minh của Mỹ, đều kết thúc trong thảm họa.

Tuy nhiên, đây cũng là những người, bất chấp những lời lẽ kích động quần chúng, thực sự không thích xung đột. Hãy hỏi bất kỳ người dẫn chương trình podcast bảo thủ nào về việc khó khăn, thậm chí là bất khả thi, như thế nào để thuyết phục những người theo chủ nghĩa tiến bộ tham gia vào một cuộc trò chuyện với người thực sự không đồng ý với họ [hãy nhớ Charlie Kirk]. Các nhà hoạt động vì quyền của người chuyển giới luôn né tránh các cơ hội truyền thông liên quan đến việc đối đầu trực tiếp với những người chỉ trích họ. Quan điểm tiến bộ — về biến đổi khí hậu, Palestine, tôn giáo, bồi thường, luật không cho phép bảo lãnh tại ngoại, nam giới tham gia thể thao nữ, phá thai, phúc lợi xã hội và nhập cư — đều là một thực đơn cố định. Các cá nhân cánh tả hầu như không bao giờ đi chệch khỏi "con gà cao su" ý thức hệ này. Vì vậy, những người theo chủ nghĩa tiến bộ không chỉ tránh xung đột với đối thủ của họ; họ còn tránh xung đột với nhau.

Ít nhất thì sự đồng nhất chính trị kỳ lạ này thể hiện động lực tích cực chân thành duy nhất của những người theo chủ nghĩa tiến bộ: khao khát một từ ngữ bị lạm dụng nhiều như "cộng đồng". Cũng hợp lý thôi, họ muốn có bạn đồng hành — tình đoàn kết, tình thân, tình đồng nghiệp. Và đến một mức độ nào đó, chẳng phải hầu hết chúng ta đều vậy sao? Trong vài năm đầy căng thẳng vừa qua, bản thân tôi đã tìm thấy sự an ủi phần nào khi tìm được những người bạn và đồng nghiệp cùng chí hướng. Những người bảo thủ cũng tìm kiếm những người cùng chí hướng. Nhưng khao khát được gia nhập một câu lạc bộ dường như đặc biệt mãnh liệt ở cánh tả. Than ôi, động lực xã hội lành mạnh này để giao lưu với anh em của mình lại phải trả giá bằng tư duy độc lập. Hãy xem: bất kỳ khuôn viên trường đại học lớn nào của Mỹ trong mười lăm năm qua, thậm chí là năm mươi năm qua.

Liệu những người theo chủ nghĩa tiến bộ có thực sự mong muốn một xã hội lý tưởng, giống như thế giới Hồi giáo mong chờ một đế chế Hồi giáo? Liệu họ có đang liên tục hoàn thiện một viễn cảnh tươi sáng về sự hòa hợp, công bằng, hòa hợp chủng tộc và bình đẳng cho tất cả mọi người? Một thế giới tốt đẹp hơn, an yên, hiểu biết lẫn nhau, hạnh phúc toàn cầu và tình yêu thương anh em, nơi mọi nhu cầu được đáp ứng, mọi nỗi thất vọng được xoa dịu, mọi sự thù địch được hóa giải?

Tôi không dám nói thay cho những người Hồi giáo cực đoan, nhưng tôi không tin rằng hầu hết những người theo chủ nghĩa tiến bộ đều nuôi dưỡng ảo tưởng về một thiên đường tươi sáng, nơi bồn tắm nước nóng hoạt động bằng tua bin gió và những công dân hòa thuận gảy đàn lyre và ăn nho. Tôi e rằng tư duy của những người theo chủ nghĩa tiến bộ là một nơi đen tối hơn. Ví dụ, tôi nhiều lần nhận thấy rằng những người cuồng tín về biến đổi khí hậu không kỳ vọng rằng ngay cả những hạn chế đối với việc đi lại bằng đường hàng không hoặc chủ nghĩa ăn chay toàn cầu cũng có thể thực sự ngăn chặn được sự gia tăng nhiệt độ trung bình của hành tinh. Sức hấp dẫn của viễn cảnh tận thế mà họ vẽ ra cho tương lai của chúng ta là quá lớn. Họ không thực sự tin rằng các chính sách phi công nghiệp hóa và phá sản của họ sẽ hiệu quả theo đúng nghĩa của chúng. Tại sao, chính sự vô hiệu của các quy định về xe điện và việc hủy bỏ các đường ống dẫn dầu lại là một phần sức hấp dẫn của chúng. Trong khi đó, thảm họa sắp xảy ra giải phóng những người trẻ tuổi khỏi trách nhiệm đối với cuộc sống trưởng thành mà họ cho rằng sẽ không bao giờ xảy ra, giúp họ tránh khỏi những bất tiện khi theo đuổi sự nghiệp và sinh con. Những người theo chủ nghĩa tiến bộ lớn tuổi có thể tự mãn rằng khi họ chết, họ sẽ mang theo phần còn lại của nền văn minh của họ. Ở một mức độ nào đó, những người liên tục gợi lên viễn cảnh ngày tận thế đang mong chờ màn kịch đó.

6.
Vì vậy, cuối cùng, đây là luận điểm của tôi: Tôi tin rằng điều mà những người theo chủ nghĩa tiến bộ muốn nhất là thất bại. Họ cảm thấy thoải mái nhất khi chống lại mọi thứ. Họ cảm thấy thoải mái nhất khi vận động cho những mục tiêu sẽ không bao giờ thành hiện thực. Họ phụ thuộc vào việc duy trì các tệ nạn xã hội như phân biệt chủng tộc đến mức, trong tình thế khó khăn, họ sẽ bịa đặt ra những "hành vi vi phạm nhỏ" không thể nhận ra bằng mắt thường; khi thiếu vắng sự phân biệt chủng tộc, họ sẽ tự tạo ra sự phân biệt chủng tộc. Đối với những người theo chủ nghĩa tiến bộ, một xã hội lý tưởng đúng nghĩa, không còn gì và không còn ai để lên án, sẽ là địa ngục.

Hơn nữa, điều cuối cùng họ muốn là được đặt vào những vị trí có quyền lực để kiểm chứng tính khả thi của những ý tưởng ngớ ngẩn của họ. Họ có thể thuyết phục nhất khi quảng bá những ý tưởng ngớ ngẩn này bằng cách phản đối. Một khi nắm quyền, họ buộc phải đưa những chính sách vô nghĩa của mình vào thực tiễn. Hãy tưởng tượng một nước Mỹ không có cảnh sát, không có nhà tù và không có biên giới quốc gia, nơi mọi thứ đều miễn phí nhưng bất cứ ai có khả năng sản xuất ra những thứ miễn phí đó đều bị cướp bóc, phỉ báng và làm cho nghèo đói; nơi một nửa dân số đã trao đổi giới tính với nửa còn lại, với nhược điểm nhỏ là toàn bộ dân số đều vô sinh. Rõ ràng, bất kỳ thành công tiến bộ nào trên diện rộng cũng sẽ quá khủng khiếp để có thể hình dung: bạo lực và cướp bóc tràn lan, các thành phố thuộc thế giới thứ ba bị tràn ngập bởi tội phạm và những người nhập cư vì mục đích thương mại cướp bóc bất cứ thứ gì họ có thể lấy được, một nền kinh tế sụp đổ và do đó là sự kết thúc của những tiện nghi như internet, nước sạch, điện, siêu thị và chính phủ hoạt động hiệu quả - và những người theo chủ nghĩa tiến bộ sẽ không có ai để đổ lỗi ngoài chính họ!

Hãy tưởng tượng, bạn cũng phải chấp nhận rằng chính lỗi của bạn đã khiến nhà nước Israel không còn tồn tại, điều mà bạn từng nghĩ mình rất thích, nhưng giờ lại khiến bạn cảm thấy hơi khó chịu. Bởi vì hóa ra việc xóa sổ Israel khỏi bản đồ không chỉ đơn thuần là một bài toán lập bản đồ. Sau nhiều năm các người cứ thao thao bất tuyệt về "diệt chủng", Hamas và Hezbollah đã chặt đầu, mổ bụng, hãm hiếp và làm ô uế thi thể của hơn bảy triệu người Do Thái - và không ít người Ả Rập, vì các người biết những cuộc tàn sát này có thể rất kinh khủng - chỉ để cho tất cả những kẻ ủng hộ ngu ngốc như các người thấy một cuộc "diệt chủng" đúng nghĩa trông như thế nào.

Tốt hơn hết là cứ đứng ngoài cuộc và nhảy nhót như trẻ con trước khi hết giờ chơi và đến giờ ăn nhẹ. Đối với những nhà cách mạng ngồi một chỗ, việc bị cản trở mãi mãi là một điều may mắn, bởi vì họ có thể giữ được sự oán giận, cơn thịnh nộ, sự trong sáng không bị vấy bẩn bởi thực tế, và ý thức về mục đích sống không bao giờ bị hủy hoại bởi việc đạt được những gì họ tuyên bố muốn. Quyền lực chính trị thực sự trong tay cánh tả cực đoan đã chứng minh là thảm họa không chỉ ở Cuba và Venezuela mà còn ở đất nước này, đó là lý do lớn khiến người Mỹ đang đổ xô từ các bang xanh sang các bang đỏ. Những người theo chủ nghĩa tiến bộ sẽ hạnh phúc hơn nhiều khi họ bị ngăn chặn. Vì vậy, sẽ là điều tử tế nếu những người bảo thủ và một vài đảng viên Dân chủ ôn hòa còn lại đáp ứng yêu cầu của họ.

https://newcriterion.com/article/what-do-progressives-really-want/

Trên đây là phiên bản đã được chỉnh sửa của bài phát biểu được trình bày tại Buổi thuyết trình Circle thường niên lần thứ tám của The New Criterion vào ngày 24 tháng 9 năm 2026.


NVV dịch


 

2026-10-23  

Mike Johnson cần lên tiếng bảo vệ Ilhan Omar.
Vụ đột kích vào nhà của Ilhan Omar có thể đã vi phạm quyền của bà với tư cách là một thành viên Quốc hội. Là Chủ tịch Hạ viện, Mike Johnson cần phải bảo vệ bà.

Xem bình luận phía dưới
(Hayes Brow, MS NOW, 23/10/2026)

Tuần trước, các đặc vụ liên bang đã thu giữ máy tính xách tay và điện thoại di động cá nhân của dân biểu Ilhan Omar khi đột kích vào nhà riêng của bà ở Washington. Trong khi một số thành viên trong nhóm lãnh đạo đảng Cộng hòa đã chỉ trích nữ nghị sĩ đảng Dân chủ đến từ Minnesota này, Chủ tịch Hạ viện Mike Johnson, đảng Cộng hòa, bang Louisiana, cần phải bảo vệ quyền lợi của bà với tư cách là một nữ nghị sĩ - ngay bây giờ.

Đừng để ý đến những cáo buộc thiếu căn cứ đang thúc đẩy cuộc điều tra của chính quyền Trump về giấy tờ nhập cư của Omar. (Tờ Washington Post đưa tin rằng những cáo buộc này đã được điều tra và bỏ dở từ nhiều năm trước.) Điều chúng ta đang chứng kiến ​​là nhánh hành pháp đang khám xét nhà riêng của một thành viên Quốc hội chỉ vì chủng tộc và quan điểm chính trị của bà ấy. Tuy nhiên, tờ Politico hôm thứ Tư đưa tin rằng Johnson đã không chỉ thị cho luật sư hàng đầu của Hạ viện, Matthew Berry, can thiệp thay mặt cho Omar.

Người dẫn chương trình Chris Hayes của MS NOW, người đã phỏng vấn Omar trong chương trình “All In” hôm thứ Năm, đã nêu lên lập luận của các luật sư của bà rằng Bộ Tư pháp đã vi phạm quyền của bà với tư cách là thành viên Hạ viện. Điều I, Mục 6, khoản 1 của Hiến pháp bảo vệ tất cả các thành viên Quốc hội khỏi bị truy tố vì “bất kỳ bài phát biểu hoặc tranh luận nào tại cả hai viện”. Các phán quyết của Tòa án Tối cao và các tiền lệ khác đã mở rộng sự bảo vệ đó cho hầu hết các “hành vi lập pháp” mà các nhà lập pháp liên bang thực hiện khi soạn thảo luật và phán quyết rằng nó bảo vệ các nhân viên của họ và bất kỳ tài liệu nào được tạo ra như một phần nhiệm vụ chính thức của họ.

Bà Omar cho biết các nhân viên khám xét nhà bà đã yêu cầu bà ký một văn bản về cơ bản là từ bỏ các quyền của bà theo điều khoản về tự do ngôn luận và tranh luận.

“Chuyện đó thật khó chịu,” cô ấy nói. “Tôi không thể hiểu nổi tại sao họ lại nghĩ rằng tôi sẽ ký vào một thứ như vậy.”

Cơ quan lập pháp có động lực để lên án những gì đã xảy ra với Omar. Các nhà lập pháp cần có quyền tự do tranh luận công khai về các ý tưởng và chính sách, đặc biệt là những ý tưởng mà tổng thống ủng hộ, mà không bị đe dọa bởi việc người đứng đầu chính phủ bỏ tù họ vì bất đồng quan điểm. Đó là lý do tại sao Hạ viện, với tư cách là một thể chế, thường can thiệp và đấu tranh để bảo vệ các thành viên của mình khỏi sự lạm quyền của nhánh hành pháp — ngay cả khi điều đó có nghĩa là các nhà lập pháp phải bỏ phiếu trái chiều.

Các nhà điều tra liên bang đã tịch thu điện thoại của dân biểu Scott Perry, đảng Cộng hòa, bang Pennsylvania, vào tháng 8 năm 2022 khi họ điều tra vai trò của Tổng thống Donald Trump trong vụ tấn công vào Điện Capitol ngày 6 tháng 1 năm 2021. Perry là một trong những nghị sĩ đảng Cộng hòa tại Hạ viện tham gia nhiều nhất vào nỗ lực của Trump nhằm loại bỏ đủ số phiếu đại cử tri để giành chiến thắng sau khi thua cuộc bầu cử năm 2020.

Đầu năm 2023, Hạ viện đã đệ trình một kiến ​​nghị để tiếp cận các tài liệu mật của vụ án nhằm đảm bảo các quyền về tự do ngôn luận và tranh luận của Perry được bảo vệ. Ngay sau đó, Berry, cố vấn pháp lý của Hạ viện, đã đệ trình một bản kiến ​​nghị ủng hộ lập luận rằng điều khoản về tự do ngôn luận và tranh luận áp dụng cho nội dung điện thoại của Perry và bất kỳ hoạt động "thu thập thông tin không chính thức" nào mà ông ta có thể đã thực hiện. Mặc dù sự tham gia sớm của Perry vào âm mưu của Trump nhằm lật đổ cuộc bầu cử khiến ông ta trở thành mục tiêu điều tra hợp lệ, Lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện Hakeem Jeffries (Đảng Dân chủ, bang New York) và Phó lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện Kathleen Clark (Đảng Dân chủ, bang Massachusetts) đã đồng ý cho phép Hạ viện can thiệp. Theo quy định của Hạ viện, sự ủng hộ của họ không bắt buộc, nhưng một mặt trận lưỡng đảng đã gửi một thông điệp mạnh mẽ tới tòa án.

Chính vì vụ án của Perry mà điện thoại cá nhân giờ đây được coi là một phần mở rộng của văn phòng các nhà lập pháp . Do đó, Omar có quyền xem xét các tài liệu bị tịch thu để đảm bảo bất kỳ công việc lập pháp nào cũng không rơi vào tay Bộ Tư pháp.

Trong suốt bốn năm qua, đảng Cộng hòa đã liên tục chỉ trích cuộc điều tra của công tố viên đặc biệt Jack Smith, đặc biệt là việc ông yêu cầu cung cấp hồ sơ điện thoại của một số thành viên (mặc dù không phải nội dung thực tế của các cuộc gọi đó). Mới tháng trước, Ủy ban Tư pháp Hạ viện do đảng Cộng hòa lãnh đạo đã cáo buộc Smith và Bộ Tư pháp thời Biden vi phạm điều khoản về tự do ngôn luận và tranh luận trong quá trình này.

Đảng Cộng hòa tại Hạ viện nên giữ nguyên năng lượng đó đối với Bộ trưởng Tư pháp Todd Blanche và việc tịch thu các thiết bị của bà Omar. Nhưng Lãnh đạo phe đa số tại Hạ viện Tom Emmer, một người đồng hương Minnesota, đã nói với Fox News rằng ông hoàn toàn ủng hộ cuộc điều tra mà không nêu ra bất kỳ lo ngại nào về sự phân chia quyền lực. Và với một cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đầy biến động đang đến gần, Johnson có thể lo sợ rằng việc đứng ra bảo vệ bà Omar sẽ khiến ông mất đi vị trí lãnh đạo trong nhóm nghị sĩ Đảng Cộng hòa.

Nhưng dù Omar có hữu ích đến đâu đối với đảng Cộng hòa với vai trò là một đối trọng, Johnson vẫn nên chỉ đạo Berry đảm bảo rằng các quyền của Omar với tư cách là một nhà lập pháp được bảo vệ. Ngay cả khi Emmer và Lãnh đạo đa số Hạ viện Steve Scalise không đồng ý, việc Johnson bỏ phiếu cùng với Jeffries và Clark cũng đủ để khởi động quá trình này. Mặc dù ông ta có vẻ hành động như một thành viên của đội ngũ nhân viên Tòa Bạch Ốc, nhưng trách nhiệm của Johnson trong việc bảo vệ các quyền và đặc quyền của Ilhan Omar, đại diện Hạ viện, phải được ưu tiên hơn bất kỳ sự nghi ngờ nào mà ông ta dành cho Ilhan Omar, đảng viên Dân chủ

https://www.ms.now/opinion/ilhan-omar-mike-johnson-investigation-rights

BÌNH LUẬN

Bài viết của cánh tả đảng Dân Chủ dựa trên những khẳng định hoàn toàn sai, theo bản tuyên bố của Bộ Tư Pháp sau khi khám nhà của Ilhan Omar:
- Cáo buộc thiếu căn cứ? Bộ Tư Pháp chưa có cáo trạng, sao đã biết thiếu căn cứ? Cuộc điều tra thời Biden dừng lại vì lý do gì thì không biết. Nếu có thêm chứng cứ mới thì sao?
- Cuộc điều tra mới này không phài vì "chủng tộc và quan điểm chính trị của bà ấy", cho nên Chủ tịch Hạ viện không can thiệp.

Các thành viên Quốc hội không được miễn trừ khỏi các cuộc điều tra hình sự hoặc các cuộc khám xét của cơ quan thực thi pháp luật chỉ vì họ giữ chức vụ dân cử, nếu có lệnh của tòa (United States v. Rayburn House Office Building).

 2026-10-23  Vài tin ngắn

 Chứng cứ mới về Dân biểu Đảng Dân Chủ Ilhan Omar 

Dân biểu Đảng Dân Chủ Ilhan Omar của tiểu bang Minnesota trong tuần này tiếp tục bác bỏ cáo buộc bà từng kết hôn với người chồng thứ 2, Ahmed Nur Said Elmi, để giúp ông có được thẻ thường trú nhân Hoa Kỳ. Ông Elmi bị nghi là anh hoặc em ruột của nữ dân biểu. Tuy nhiên, khi được hỏi trực tiếp liệu 2 người có quan hệ huyết thống hay không, bà Omar trả lời: “Theo những gì tôi biết thì không.”

Bà Omar, 45 tuổi, đến Hoa Kỳ với tư cách người tị nạn từ Somalia vào năm 1995. Bà nhiều lần mạnh mẽ phủ nhận cáo buộc đã kết hôn với ông Elmi vì mục đích di trú. Những tài liệu về hôn nhân, hồ sơ gia đình, địa chỉ cư trú và lời kể của một người trong cộng đồng Somalia tiếp tục làm dấy lên nghi vấn về mối quan hệ giữa 2 người.

Bà Omar chính thức kết hôn với ông Ahmed Nur Said Elmi, 41 tuổi, tại Hoa Kỳ vào năm 2009. Bà mô tả ông Elmi là một công dân Anh Quốc. Cuộc hôn nhân kéo dài về mặt pháp lý cho đến khi 2 người hoàn tất thủ tục ly dị vào năm 2017.

Lịch sử gia đình bà Omar trải dài trên nhiều quốc gia, trong khi nhiều giấy tờ tại Somalia đã bị thất lạc hoặc tiêu hủy. Thân mẫu bà được cho là qua đời khi bà còn nhỏ. Một nhánh gia đình sinh sống tại Anh Quốc, trong khi nhánh khác định cư tại Hoa Kỳ.

Hiện chưa rõ cha mẹ ruột của ông Ahmed Nur Said Elmi là ai. Tuy nhiên, ông từng sinh sống tại London cùng bà Leila Nur Said, một phụ nữ Somalia được cho là chị hoặc em gái của bà Omar. Bà Leila có thể đã nuôi dưỡng ông Elmi trong thời gian 2 người sống tại Anh Quốc.

New York Post thu thập được bản sao chứng nhận hợp lệ của một giấy kết hôn tại Anh Quốc năm 1997 liên quan đến bà Leila Nur Said. Trong văn kiện này, thân phụ bà Leila được ghi tên là Nur Said Elmi, một sĩ quan quân đội Somalia.

Thân phụ quá cố của bà Omar là ông Nur Omar Mohamed cũng sử dụng tên Nur Said Elmi. Ông từng là một chỉ huy quân đội có địa vị trong chế độ độc tài Somalia, nơi hàng triệu người đã phải bỏ chạy khỏi đất nước. Nhiều nguồn tin nói với New York Post rằng họ tin người được ghi tên trong giấy kết hôn tại Anh Quốc chính là thân phụ của bà Omar.

Trên Facebook, thân phụ bà Omar cũng từng sử dụng tên Nur Said. Tài khoản của ông có liên kết với tài khoản của bà Leila, người từng để lại những biểu tượng trái tim trên các tấm hình của ông.

Tháng 6 năm 2020, ông Nur Omar Mohamed qua đời ở tuổi 67 vì những biến chứng liên quan đến COVID. Sau khi ông mất, nhiều người đã lên mạng xã hội tưởng niệm người được gọi là “Nur Said Elmi”, đồng thời gửi lời chia buồn đến cả bà Omar và bà Leila.

Một chi tiết khác xuất hiện trong hồ sơ được Văn phòng Công tố Liên bang tại Địa hạt Columbia đệ trình hôm thứ Tư. Các công tố viên yêu cầu tòa án tiếp tục giữ kín lệnh khám xét tư gia của bà Omar. Trong văn kiện này, nữ dân biểu được ghi tên là “Ilhan Nur Said Elmi, a/k/a Ilhan Abdullahi Omar”, tức Ilhan Nur Said Elmi, còn được biết dưới tên Ilhan Abdullahi Omar.

New York Post đã liên lạc với bà Omar và bà Leila qua thư điện tử để yêu cầu bình luận. Tuy nhiên, cả 2 đều không trả lời.

Những nghi vấn khác liên quan đến nơi cư trú và những cuộc hôn nhân của bà Omar. Trong thời gian vẫn còn là vợ hợp pháp của ông Elmi, bà Omar đã sinh người con thứ 3 với người chồng trước là Ahmed Abdisalan Hirsi.

Bà Omar cho biết từng nộp đơn xin giấy phép kết hôn với ông Hirsi vào năm 2002. Tuy nhiên, bà giải thích rằng 2 người chưa bao giờ hoàn tất thủ tục nên cuộc hôn nhân khi đó không được pháp luật công nhận.

Theo bà Omar, bà và ông Hirsi chia tay vào năm 2008, sau đó nối lại quan hệ khoảng 4 năm sau, tức vào khoảng năm 2012. Hai người chính thức kết hôn vào năm 2018 và có 3 người con chung, sinh vào các năm 2003, 2005 và 2012.

Trong khi đó, từ năm 2009 đến năm 2017, bà Omar vẫn là vợ hợp pháp của ông Elmi. Trên đơn xin kết hôn, bà Omar và ông Elmi cùng khai địa chỉ cư trú tại một bất động sản ở Columbia Heights, thuộc khu vực Minneapolis. Ông Hirsi cũng sử dụng địa chỉ này để xin giấy phép kinh doanh.

Bà Omar cho biết bà và ông Elmi chia tay vào năm 2011, nhưng phải mất thêm nhiều năm mới hoàn tất giấy tờ ly dị. Vì vậy, bà đã sinh người con thứ 3 với ông Hirsi trong thời gian vẫn còn kết hôn hợp pháp với ông Elmi.

New York Post trước đây cũng phát giác bà Omar và ông Hirsi đã cùng khai thuế trong các năm 2014 và 2015, mặc dù lúc đó bà vẫn còn là vợ hợp pháp của ông Elmi. Những hồ sơ khai thuế này sau đó đã được sửa chữa.

Cuộc ly dị giữa bà Omar và ông Elmi chính thức hoàn tất vào năm 2017. Tuy nhiên, ông Elmi được cho là đã rời Hoa Kỳ để trở về Anh Quốc từ lâu trước khi thủ tục ly dị kết thúc.

Tháng 1 năm 2018, bà Omar kết hôn với ông Hirsi. Đến năm 2019, ông Elmi rút lại đơn xin thẻ thường trú nhân dựa trên hôn nhân mà ông đã nộp trước đó. Việc rút đơn được tường thuật là xảy ra sau khi Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ yêu cầu cung cấp thêm bằng chứng về cuộc hôn nhân.

Trong cuộc phỏng vấn với ký giả Chris Hayes của đài MS NOW trong tuần này, bà Omar được hỏi liệu có quan hệ huyết thống với người chồng cũ hay không. Bà trả lời: “Theo những gì tôi biết thì không.”

Ngày 12 tháng 10 năm 2026, các nhân viên thuộc Cơ quan Điều tra An ninh Nội địa Hoa Kỳ đã thi hành lệnh khám xét tại tư gia của bà Omar ở Washington, D.C. Một nhân viên điều tra được nhìn thấy mang một thùng tài liệu ra khỏi căn nhà.

Một lời kể khác xuất phát từ một người viết blog Somalia sinh sống tại Minneapolis. Năm 2020, người này nói với Daily Mail rằng ông biết bà Omar từ thời cả 2 còn lớn lên tại Minnesota. Ông tuyên bố bà Omar từng giới thiệu ông Elmi với những người trong cộng đồng Somalia vào những năm 2000 là anh hoặc em trai từ London đến.

Theo người viết blog, bà Omar còn nói rằng người thân này đang tìm kiếm “giấy tờ”, ám chỉ những hồ sơ di trú như thẻ thường trú nhân Hoa Kỳ.

Người này nói với Daily Mail: “Không ai biết đã có một cuộc kết hôn với Elmi cho đến khi giới truyền thông tìm được giấy chứng nhận kết hôn nhiều năm sau.”

Người viết blog còn tuyên bố ông Elmi đã được cha yêu cầu rời Anh Quốc để đến Hoa Kỳ sau khi người cha phát giác ông đang sống một cuộc đời phóng túng tại London. Theo lời người này, việc đưa ông Elmi đến Hoa Kỳ được dự tính như một hình thức giúp ông thay đổi lối sống.

Ông kể rằng những người trong cộng đồng bắt đầu chú ý khi thấy bà Omar và ông Hirsi thường xuyên xuất hiện cùng một thanh niên có phong cách ăn mặc nữ tính.

Người viết blog nói: “Mọi người bắt đầu nhận thấy Ilhan và Hirsi thường đi cùng một thanh niên rất nữ tính. Anh ta rất nữ tính trong cách ăn mặc. Anh ta thường dùng son môi nhạt, mặc quần áo màu hồng và những chiếc quần rất, rất ngắn vào mùa hè. Mọi người bắt đầu bàn tán về anh ta.”

Sau cuộc hôn nhân với bà Omar, ông Elmi rời Hoa Kỳ và trở lại Anh Quốc, nơi ông tiếp tục theo đuổi lối sống mà người viết blog mô tả là phô trương.

Ông Elmi từng tự mô tả mình là một “dirty dandy” trên các tài khoản mạng xã hội. Ông thường xuyên đăng hình bản thân mặc những bộ trang phục có màu sắc nổi bật, đồng thời được nhìn thấy uống rượu cùng những người đàn ông có ngoại hình thu hút tại các quán cà phê sang trọng ở London.

Từ năm 2023, ông Elmi theo học chương trình tiến sĩ tại Đại học Bristol. Ông cũng từng làm phụ tá nghiên cứu tại Trường Xã hội học, Chính trị và Nghiên cứu Quốc tế của đại học này.

Những lãnh vực được ông quan tâm bao gồm nghiên cứu phê bình về giới tính và khuynh hướng đồng tính, giải trừ ảnh hưởng thực dân, nghiên cứu giới và trung tâm nghiên cứu nhân văn về người da đen.

Đến cuối năm 2025, ông Elmi đã thực hiện một chuyến lưu trú kéo dài tại Đại học Witwatersrand ở Nam Phi. Trong một bài đăng trên Instagram ngày 4 tháng 11, ông viết: “Cho đến nay, mọi thứ thật tuyệt vời... một tháng ở Johannesburg.”

Ngoài bà Ilhan Omar, ông Ahmed Nur Said Elmi chưa từng được công khai liên hệ tình cảm với bất cứ phụ nữ nào khác.

Nguồn: New York Post, Daily Mail

____________


Ngành công nghệ đã chính thức mang màu sắc của đảng Cộng hòa.


Kết quả cuộc thăm dò của POLITICO không chỉ làm phức tạp thêm triển vọng của đảng Cộng hòa trong việc tách khỏi Donald Trump mà còn có thể gây rắc rối cho chính các công ty.

Theo kết quả mới từ cuộc thăm dò của POLITICO, cử tri Mỹ thuộc mọi khuynh hướng chính trị hiện nay đều cho rằng hầu hết các CEO hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ đều theo chủ nghĩa bảo thủ. 
Và đa số cử tri cho rằng ngành công nghệ là nhà tài trợ tài chính lớn nhất cho Đảng Cộng hòa.

Kết quả này, lần đầu tiên được tiết lộ trên Decoded của POLITICO, không chỉ có thể làm phức tạp triển vọng của đảng Cộng hòa trong việc cố gắng tách khỏi Tổng thống Donald Trump trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ hoặc năm 2028 giữa bối cảnh phản đối mạnh mẽ đối với các tập đoàn công nghệ lớn và trí tuệ nhân tạo. Chúng cũng có thể gây rắc rối cho chính các công ty này vào năm tới, khi đảng Dân chủ dự kiến ​​sẽ kiểm soát ít nhất là Hạ viện.

Global thực hiện, đã khảo sát những tên tuổi lớn nhất trong lĩnh vực công nghệ, từ Elon Musk và Sam Altman của OpenAI đến Dario Amodei của Anthropic, và đánh dấu một sự thay đổi lớn trong quan điểm về một ngành công nghiệp vốn từ lâu được coi là theo chủ nghĩa tự do, có trụ sở tại bang California vốn nghiêng về đảng Dân chủ. Trong giới công nghệ, ba CEO đang cạnh tranh nhau này được biết đến là có quan điểm chính trị khác biệt đáng kể.

Amodei chỉ quyên góp cho đảng Dân chủ hoặc các PAC (Ủy ban hành động chính trị) phần lớn liên kết với đảng Dân chủ, trong khi Altman dành những khoản quyên góp lớn nhất của mình cho các PAC liên kết với đảng Dân chủ, đồng thời cũng quyên góp cho một số đảng Cộng hòa. Trong khi đó, Musk gần đây đã thực hiện một trong những chiến dịch chi tiêu lớn nhất từ ​​trước đến nay cho các mục tiêu của đảng Cộng hòa.

Nhưng bên ngoài giới công nghệ, những người Mỹ có ý kiến ​​thì cho rằng hầu hết họ đều có quan điểm chính trị tương đồng, đặc biệt là Altman và Amodei . Và nhiều người Mỹ không có ý kiến ​​hoặc thậm chí không biết những CEO này là ai.

“Trong vài năm trở lại đây, hình ảnh Thung lũng Silicon như một ngành công nghiệp tự do gần như đã biến mất. Cả cử tri của Harris và Trump hiện đều coi các công ty AI là thuộc đảng Cộng hòa” , Seb Wride , người đứng đầu bộ phận thăm dò dư luận của PF Global, cho biết. “Rủi ro đối với các công ty công nghệ là các đảng phái sẽ biến chúng thành vấn đề tranh cử và định hình nhận thức này trong nhiều năm tới.”

Musk là người có nhiều khả năng được coi là đảng viên Cộng hòa nhất, với 59% người Mỹ nhận định ông là như vậy, trong khi chỉ có 14% nghĩ ông là đảng viên Dân chủ. Theo hồ sơ của FEC công bố hôm thứ Năm, Musk đã chi ít nhất 276 triệu đô la để hỗ trợ đảng Cộng hòa trong quý 3, trở thành người chi tiêu nhiều nhất trong chu kỳ này.

Trong khi đó, Bill Gates là CEO công nghệ duy nhất trong số tám người được khảo sát mà người Mỹ tin rằng ông là đảng viên Dân chủ (35%) nhiều hơn đảng viên Cộng hòa (31%).

Bốn mươi phần trăm người Mỹ tin rằng Mark Zuckerberg là đảng viên Cộng hòa, trong khi 27% nghĩ ông là đảng viên Dân chủ. Ba mươi hai phần trăm người Mỹ nghĩ Altman là đảng viên Cộng hòa, và 22% tin ông là đảng viên Dân chủ. Hai mươi chín phần trăm cho biết họ không biết ông là ai. Amodei — người mà công ty của ông có nhiều bất đồng với Nhà Trắng — ít có khả năng được coi là đảng viên Cộng hòa hơn Altman với tỷ lệ 28%, nhưng con số này vẫn cao hơn 20% người nghĩ ông là đảng viên Dân chủ. Và 35% cho biết họ không biết ông là ai.

Đối với hầu hết các CEO này, cả đảng viên Dân chủ và đảng viên Cộng hòa đều có xu hướng tin rằng họ là đảng viên Cộng hòa. Ngoại lệ là Gates và CEO của Apple, Tim Cook , người mà nhiều đảng viên Dân chủ tin là đảng viên Dân chủ hơn.

Thậm chí một CEO công nghệ giả mạo cũng bị cho là thuộc đảng Cộng hòa. Cuộc thăm dò của POLITICO đã kiểm tra tên của một CEO công nghệ giả mạo: “ Marshall Ancoates ”. Hai mươi hai phần trăm số người được hỏi cho biết họ tin rằng “Ancoates” là người thuộc đảng Cộng hòa, trong khi 18% nghĩ rằng ông ta là người thuộc đảng Dân chủ. Ba mươi phần trăm cử tri ủng hộ Trump năm 2024 tin rằng “ Ancoates ” là người thuộc đảng Cộng hòa, so với 19% tin rằng ông ta là người thuộc đảng Dân chủ. Cử tri ủng hộ Harris năm 2024 thì chia làm hai phe: 24% tin rằng ông ta là người thuộc đảng Dân chủ, trong khi 24% nghĩ rằng ông ta là người thuộc đảng Cộng hòa.

Phát hiện này đáng chú ý vì nó cho thấy người Mỹ có nhiều khả năng cho rằng bất kỳ CEO công nghệ nào cũng là đảng viên Cộng hòa hơn là đảng viên Dân chủ. Điều này đặc biệt đúng đối với những người bỏ phiếu cho ông Trump.

Người Mỹ thường liên tưởng nhân viên công nghệ gần như trực tiếp với cấp trên của họ. Và nhân viên tại các công ty trí tuệ nhân tạo được cho là có xu hướng ủng hộ Đảng Cộng hòa hơn so với nhân viên tại các công ty công nghệ truyền thống. 53% người Mỹ cho rằng nhân viên của Tesla là đảng viên Cộng hòa; 18% cho rằng họ là đảng viên Dân chủ. Tại OpenAI, tỷ lệ này là 33% đảng viên Cộng hòa và 26% đảng viên Dân chủ. Tại Anthropic, các con số cũng tương tự - 28% người được khảo sát tin rằng nhân viên của Anthropic nghiêng về Đảng Cộng hòa, trong khi 25% cho rằng họ nghiêng về Đảng Dân chủ.

Nhân viên tại Microsoft, Apple và Google có mối liên hệ mật thiết hơn một chút với đảng Dân chủ — Google là công ty có tỷ lệ liên hệ với đảng Dân chủ cao nhất trong ba công ty, với 34% là đảng viên Dân chủ so với 28% là đảng viên Cộng hòa.

Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ tin rằng ngành công nghệ là nhà tài trợ lớn nhất cho các hoạt động của đảng Cộng hòa. Decoded đã hỏi những người tham gia khảo sát, trong số 12 ngành công nghiệp từ môi trường và khí hậu đến quyền sở hữu súng, ngành nào đã chi nhiều tiền nhất để ủng hộ các ứng cử viên đảng Cộng hòa năm nay. Phần lớn cử tri của cả Harris (38%) và Trump (26%) đều đồng ý rằng ngành công nghệ và trí tuệ nhân tạo là ngành chi tiêu nhiều nhất cho các hoạt động của đảng Cộng hòa. Người Mỹ tin rằng các nhóm bảo vệ dân chủ và quyền bầu cử quyên góp nhiều nhất cho đảng Dân chủ.

____________


TNS Dân Chủ tiểu bang Virginia bị truy tố về tội cầm đầu đường dây buôn bán cần sa


Bộ Tư pháp Hoa Kỳ ngày 22 tháng 10 năm 2026 công bố cáo trạng gồm 8 tội danh đối với 7 bị can, trong đó có Thượng nghị sĩ Đảng Dân Chủ Lillie Louise Lucas của tiểu bang Virginia, liên quan đến một tổ chức bị cáo buộc buôn bán cần sa, rửa tiền và thực hiện nhiều hành vi phạm pháp khác. Theo cáo trạng, bà Lucas, 82 tuổi, cư ngụ tại Portsmouth, Virginia, bị cáo buộc cầm đầu một đường dây hoạt động trong nhiều năm với sự tham gia của các thành viên gia đình và những người cộng sự thân cận.

Các tội danh được nêu trong cáo trạng bao gồm âm mưu hoạt động trong một tổ chức tội phạm, phân phối cần sa, rửa tiền, gian lận trong việc thi hành công vụ thông qua nhận hối lộ, duy trì những địa điểm phục vụ hoạt động ma túy, sở hữu súng để hỗ trợ việc buôn bán ma túy và gian lận qua phương tiện điện tử. Tổng cộng có 7 người bị truy tố về vai trò của họ trong những hoạt động bị cáo buộc này.

Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ Todd Blanche cho biết bà Louise Lucas đã phục vụ trong một chức vụ được công chúng tín nhiệm tại Virginia hơn 30 năm. Theo ông, những cáo buộc trong hồ sơ truy tố cho thấy một viên chức dân cử bị nghi ngờ đã đặt quyền lợi tài chánh cá nhân lên trên quyền lợi của những người dân đã bầu bà vào chức vụ.

Ông Blanche tuyên bố: “Louise Lucas đã phục vụ trong một chức vụ được công chúng tín nhiệm tại Virginia hơn 3 thập niên. Những cáo buộc trong bản truy tố này cho thấy hành vi của một công chức đã đặt quyền lợi tài chánh của mình lên trên những người dân mà bà được bầu để phục vụ.”

Ông Blanche nhấn mạnh rằng các công tố viên liên bang sẽ tiếp tục căn cứ vào sự kiện và bằng chứng đã khiến đại bồi thẩm đoàn quyết định truy tố bà Lucas cùng những người bị cáo buộc đồng lõa.

Bà Theophani K. Stamos, Đệ nhất Phụ tá Công tố viên Liên bang tại Địa hạt Đông Virginia, cho biết cáo trạng cáo buộc một thượng nghị sĩ tiểu bang đương nhiệm đã lãnh đạo một tổ chức tội phạm, lợi dụng quyền tiếp cận và ảnh hưởng chính trị để tạo điều kiện cho hoạt động buôn bán ma túy cùng những hành vi phạm pháp khác.

Bà Stamos nói: “Chức vụ công quyền là một vị trí được công chúng tín nhiệm và không bao giờ được phép lợi dụng để trục lợi cá nhân.”

Bà cũng ghi nhận công sức của các nhân viên điều tra và công tố viên đã làm việc trong nhiều năm để hoàn tất cuộc điều tra dẫn đến việc đại bồi thẩm đoàn ban hành cáo trạng.

Giám đốc FBI Kash Patel cho biết cuộc điều tra liên quan đến một đường dây bị cáo buộc hoạt động trong 5 năm, với tổng trị giá ước tính $4.5 triệu Mỹ kim. Theo ông Patel, bà Lucas bị cáo buộc đã lợi dụng chức vụ thượng nghị sĩ tiểu bang mà bà nắm giữ hơn 30 năm để phục vụ những quyền lợi tài chánh riêng.

Ông Patel tuyên bố rằng bà Lucas cùng một nhóm thân nhân và cộng sự bị cáo buộc đã sử dụng chức vụ Chủ tịch Ủy ban Tài chánh và Chuẩn chi Thượng viện Virginia của bà để bảo vệ tổ chức buôn bán cần sa mang tên “Lucas Enterprise”. Theo cáo trạng, nhóm này tìm cách tránh sự điều tra hình sự và gây ảnh hưởng đến các đạo luật nhằm mang lại lợi ích tài chánh cho tổ chức.

Theo hồ sơ truy tố, bà Lillie Louise Lucas giữ vai trò lãnh đạo Lucas Enterprise, một tổ chức gồm những người cộng sự thân cận và thành viên gia đình, trong đó có 2 người con gái và 1 người cháu ngoại của bà. Bà bị cáo buộc đã chấp thuận và trực tiếp điều hành những hoạt động của tổ chức, bao gồm việc thu mua và phân phối từ 100 kilogram cần sa trở lên, đồng thời giám sát việc rửa tiền thu được từ hoạt động buôn bán này.

Bà Lucas đắc cử vào Thượng viện Virginia năm 1991 và giữ chức Chủ tịch Tạm quyền Thượng viện từ năm 2020. Hiện bà là Chủ tịch Ủy ban Tài chánh và Chuẩn chi Thượng viện, cơ quan phụ trách ngân sách tiểu bang, chính sách thuế và các khoản chi tiêu của chính quyền Virginia.

Các công tố viên cáo buộc bà Lucas đã sử dụng ảnh hưởng chính trị từ những chức vụ này để giúp Lucas Enterprise tránh bị điều tra hình sự. Bà còn bị cáo buộc tìm cách gây ảnh hưởng đến việc soạn thảo và thông qua những đạo luật có lợi cho hoạt động kinh doanh của tổ chức.

Một bị can khác là Carlton Upton Jr., 54 tuổi, cư ngụ tại Chesapeake, Virginia. Ông Upton là người hợp tác kinh doanh với bà Lucas trong công ty VA Freedom Life, một doanh nghiệp điều hành các cơ sở The CBD Shoppe và The Cannabis Outlet từ năm 2019.

Theo cáo trạng, ông Upton cũng quản trị The CBD Shoppe và bị cáo buộc đã phối hợp với bà Lucas để tìm cách xin giấy phép kinh doanh cần sa dùng cho mục đích giải trí, nhằm mang lại lợi ích cho Lucas Enterprise.

Tháng 4 năm 2020, ông Upton bị cáo buộc đã khai những thông tin sai sự thật có tính chất quan trọng trong đơn xin vay theo Chương trình Cho vay Hỗ trợ Thiệt hại Kinh tế do Thiên tai, gọi tắt là EIDL, dành cho công ty Virginia Freedom Life. Khoản vay này sau đó được cấp với số tiền $11,800 Mỹ kim.

Đến năm 2021, bà Lucas cùng con gái là Lisa Lucas-Burke mở cơ sở The Cannabis Outlet tại Portsmouth. Một người con gái khác của bà Lucas là Theresa Lucas-Lamb, cùng con trai của bà này là Ryan Eichelberger, bị cáo buộc đã thu mua cần sa, giám sát việc phân phối và quản trị The Cannabis Outlet cho tổ chức Lucas Enterprise.

Ngày 1 tháng 2 năm 2022, bà Lucas khai mình là Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Điều hành công ty VA Freedom Life trong bản kê khai quyền lợi kinh tế dành cho các thành viên Quốc hội tiểu bang Virginia. Hồ sơ này được nộp theo những quy định về xung đột quyền lợi và đạo đức công vụ của Virginia.

Tháng 8 năm 2022, bà Lucas bị cáo buộc đã trả $750,000 Mỹ kim để mua toàn bộ 100% quyền sở hữu trong một doanh nghiệp. Theo cáo trạng, doanh nghiệp này là một công ty trung gian được thành lập để nắm giữ giấy phép kinh doanh cần sa giải trí mà một người bị cáo buộc đồng lõa dự trù sẽ được cấp tại Virginia.

Các công tố viên cho rằng bà Lucas đã không khai báo quyền sở hữu vừa mua được trong những bản kê khai quyền lợi kinh tế bắt buộc. Đây là một trong những hành vi được đề cập trong cuộc điều tra liên quan đến việc sử dụng chức vụ công quyền và các hoạt động kinh doanh của bà.

Theo cáo trạng, bà Lucas còn gặp người bị cáo buộc đồng lõa tại văn phòng của mình trong khuôn viên trụ sở Quốc hội Virginia để nhận lại một phần tiền đã trả. Bà cũng bị cáo buộc đã trao đổi với những viên chức khác, kể cả các nhà lập pháp, về việc người này có đủ điều kiện được cấp giấy phép kinh doanh cần sa giải trí hay không. Những cuộc trao đổi đó được cho là có liên quan đến việc bà Lucas nhận tiền hối lộ từ người đồng lõa.

Ngày 6 tháng 5 năm 2026, FBI thi hành các lệnh khám xét liên bang tại 2 cơ sở The Cannabis Outlet và The CBD Shoppe. Trong các cuộc khám xét, nhân viên điều tra đã tịch thu cần sa và súng tại cả 2 địa điểm.

Vụ án hiện do 2 Phụ tá Công tố viên Liên bang Eric M. Hurt và Brian J. Samuels thuộc Văn phòng Công tố Liên bang Địa hạt Đông Virginia phụ trách truy tố.

Bộ Tư pháp cho biết các hồ sơ tòa án và tài liệu liên quan đến vụ án được lưu giữ tại Tòa án Liên bang Địa hạt Đông Virginia và hệ thống hồ sơ điện tử PACER, với số hồ sơ 4:26-cr-75.

Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh rằng cáo trạng chỉ là văn kiện chính thức nêu những lời cáo buộc hình sự. Bà Lillie Louise Lucas và các bị can khác vẫn được pháp luật suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng chứng minh họ phạm tội.

 2026-10-22  

Sự đạo đức giả mang tính đảng phái của Thẩm phán Kagan

(James Piereson, The New Criterion, 22/10/2026)

Về những bình luận gần đây của thẩm phán Tòa án Tối cao tại Đại học Công giáo Hoa Kỳ.

Trong một cuộc thảo luận rộng rãi tuần này tại Đại học Công giáo Hoa Kỳ, thẩm phán theo chủ nghĩa tự do Elena Kagan đã chỉ trích đa số thẩm phán bảo thủ của Tòa án Tối cao về một loạt các phán quyết mà theo bà, đã làm suy yếu nền dân chủ. Bà chỉ ra rằng các phán quyết gần đây của Tòa án đã tạo ra một làn sóng mới về việc phân chia lại khu vực bầu cử theo đảng phái bởi cả hai đảng chính trị, làm xói mòn niềm tin của công chúng vào các cuộc bầu cử ở Mỹ.

Thẩm phán Kagan, người thuộc phe thiểu số trong các phán quyết này, cho rằng đa số đã “mù quáng trước những tác động rất tai hại của các phán quyết của họ đối với cách thức hoạt động của hệ thống chính trị”, và rằng các thẩm phán bảo thủ thiếu “sự quan tâm hoặc hiểu biết thích đáng về hậu quả của các quyết định của họ”.

Vấn đề là Thẩm phán Kagan, trong khi tự nhận là người chỉ trích việc phân chia lại khu vực bầu cử theo đảng phái, bản thân bà lại ủng hộ việc này miễn là nó có lợi cho Đảng Dân chủ.

Thẩm phán Kagan đặc biệt đề cập đến phán quyết năm 2019 trong vụ Rucho v. Common Cause, trong đó Tòa án Tối cao phán quyết rằng các tòa án liên bang không thể xem xét các khiếu nại về việc phân chia khu vực bầu cử theo hướng có lợi cho đảng phái. Phán quyết này, như bà chỉ ra, đã bật đèn xanh cho các cơ quan lập pháp vẽ lại các khu vực lập pháp và quốc hội để có lợi cho bất kỳ đảng nào đang chiếm đa số. Phân chia khu vực bầu cử theo hướng có lợi cho đảng phái (gerrymandering) là hành vi vẽ ranh giới các khu vực bầu cử để mang lại lợi thế cho một đảng, sao cho bản đồ đó đã định trước kết quả bầu cử.

Các thẩm phán bảo thủ lập luận rằng các tòa án thiếu các tiêu chuẩn trung lập và không thiên vị để đánh giá tính công bằng của bất kỳ kế hoạch phân chia khu vực bầu cử cụ thể nào. Không phải là không cố gắng: Tòa án Tối cao đã vật lộn với các vụ án phân chia khu vực bầu cử theo hướng có lợi cho đảng phái trong nhiều thập kỷ mà vẫn chưa đưa ra được các tiêu chuẩn trung lập để các nhà lập pháp sử dụng trong việc vẽ bản đồ khu vực bầu cử. Tòa án quyết định để lại vấn đề này cho tiến trình chính trị để giải quyết, tức là cho các tòa án tiểu bang, hiến pháp tiểu bang, các ủy ban độc lập và luật pháp của quốc hội như những biện pháp khắc phục tiềm năng.

Trong ý kiến ​​phản đối của bà trong vụ Rucho v. Common Cause, mà bà đã trích dẫn trong bài thảo luận tại Đại học Catholic, Thẩm phán Kagan đề xuất một số biện pháp khắc phục tiềm năng của tòa án đối với việc phân chia khu vực bầu cử bất công. Tòa án có thể đo lường mức độ bất công bằng cách so sánh bản đồ khu vực bầu cử đã được ban hành với hàng ngàn bản đồ do máy tính tạo ra tuân theo các tiêu chí trung lập khác nhau, chẳng hạn như tính gọn gàng, tính liền kề và duy trì ranh giới quận. Sự sai lệch quá mức so với các bản đồ trung lập về đảng phái có thể bị tuyên bố là vi hiến. Bà lập luận rằng cách tiếp cận này giải quyết được mối lo ngại của đa số về việc tòa án áp đặt các tiêu chuẩn tùy tiện lên các cuộc tranh giành đảng phái.

Đây là nơi rắc rối bắt đầu. Tại Đại học Catholic, Thẩm phán Kagan cũng chỉ trích phán quyết gần đây của Tòa án trong vụ Louisiana v. Callais (2026), trong đó đa số thẩm phán bảo thủ đã bác bỏ việc phân chia khu vực bầu cử dựa trên chủng tộc theo Đạo luật Quyền Bầu cử. Theo các cách giải thích trước đây về Đạo luật Quyền Bầu cử, các tiểu bang được yêu cầu tạo ra các khu vực lập pháp và quốc hội với đa số người da đen bất cứ khi nào có thể để những cử tri đó có thể bầu ra các ứng cử viên mà họ lựa chọn. Trong vụ Callais, Tòa án phán quyết rằng việc sử dụng chủng tộc làm tiêu chí chính để phân chia khu vực bầu cử đã vi phạm quyền của các cử tri khác theo Điều khoản Bảo vệ Bình đẳng của Tu chính án thứ mười bốn. Bằng cách loại bỏ thông lệ này, Tòa án cho phép các tiểu bang vẽ lại ranh giới khu vực bầu cử mà không cần xét đến chủng tộc, điều mà nhiều tiểu bang đã tiến hành trong những tháng gần đây.

Thẩm phán Kagan cùng với các thẩm phán Sotomayor và Jackson đã phản đối trong vụ Callais, và bà gọi phán quyết này là “chương mới nhất trong quá trình phá hủy hoàn toàn Đạo luật Quyền Bầu cử của phe đa số”. Bà đã nhắc lại lời chỉ trích đó trong bài phát biểu của mình tại Đại học Catholic.

Dưới đây là bản đồ khu vực bầu cử quốc hội bị phân chia theo chủng tộc (khu vực bầu cử quốc hội thứ sáu) mà Thẩm phán Kagan và hai đồng nghiệp theo chủ nghĩa tự do của bà đã bảo vệ trong vụ Callais. Cơ quan lập pháp Louisiana, bị buộc phải vạch ra một khu vực bầu cử đa số người da đen, nên đã vẽ nên hình thù kỳ dị kéo dài này từ Baton Rouge ở phía đông nam của tiểu bang đến Shreveport ở phía tây bắc, một khoảng cách khoảng 250 dặm. Việc làm đó là cần thiết để tập hợp đủ cử tri da đen tạo thành đa số, để họ có thể chọn một ứng cử viên da đen (Đảng Dân chủ) đại diện cho họ.


Khu vực bầu cử quốc hội thứ sáu của Louisiana. Ảnh: Wikimedia Commons.

Không có khu vực bầu cử nào khác trong tiểu bang trông giống khu vực bầu cử quốc hội thứ sáu này. Nếu đây không phải là một sự thao túng khu vực bầu cử, được tạo ra với sự chấp thuận của Thẩm phán Kagan, thì từ này không còn ý nghĩa gì nữa.

Thêm vào đó, không thể phủ nhận thực tế rằng việc phân chia khu vực bầu cử dựa trên chủng tộc tự nó là một hình thức thao túng khu vực bầu cử mang tính đảng phái, bởi vì cử tri da đen bỏ phiếu áp đảo cho các ứng cử viên của Đảng Dân chủ. Một khu vực bầu cử đa số người da đen là một khu vực bầu cử của Đảng Dân chủ, như Thẩm phán Kagan biết rất rõ.

Trước phán quyết Callais, đã có từ 12 đến 20 khu vực bầu cử được thiết kế dựa trên chủng tộc rải rác khắp cả nước (hầu hết ở các bang miền Nam), mang lại cho Đảng Dân chủ một lợi thế đáng kể trong các cuộc bầu cử hai năm một lần cho Hạ viện — những ghế mà Đảng Dân chủ có thể đã không giành được theo một quy tắc không phân biệt chủng tộc. Tại sao Đạo luật Quyền Bầu cử, vốn là một biện pháp đảm bảo quyền tiếp cận lá phiếu ngay từ đầu, lại mang lại cho Đảng Dân chủ lợi thế từ mười hai đến 20 ghế trong Hạ viện? Ai đó có thể đã đặt câu hỏi đó cho Thẩm phán Kagan và các đồng nghiệp tự do của bà.

Đa số bảo thủ đã quyết định một cách khôn ngoan là loại bỏ việc thao túng khu vực bầu cử dựa trên chủng tộc trong việc phân chia khu vực bầu cử lập pháp và quốc hội. Quyết định đó đã chuyển vấn đề trở lại cho các tiểu bang, nơi các tranh cãi về phân chia khu vực bầu cử sẽ được giải quyết bởi cử tri và cơ quan lập pháp theo cách phù hợp với phán quyết của Tòa án trong vụ Rucho v. Common Cause. Không thể nghi ngờ gì nữa, chính Thẩm phán Kagan, chứ không phải các đồng nghiệp bảo thủ của bà, mới là người phạm tội đạo đức giả và tiêu chuẩn kép khi vừa chỉ trích việc phân chia khu vực bầu cử theo đảng phái, vừa kêu gọi điều đó bằng tay kia.

https://newcriterion.com/dispatch/justice-kagans-partisan-hypocrisy/


Xem thêm:
Jackson một lần nữa công khai bất đồng với Tòa án Tối cao
https://nvv-nvv.blogspot.com/2026/10/jackson-mot-lan-nua-cong-khai-bat-ong.html
 

 2026-10-23  

Jackson một lần nữa công khai bất đồng với Tòa án Tối cao khi các thẩm phán đứng về phía đảng Cộng hòa trong cuộc tranh chấp phút chót về luật định danh cử tri.
Phán quyết này cho phép tiểu bang loại bỏ thẻ sinh viên khi bỏ phiếu bầu cử giữa nhiệm kỳ.


(Fox News, 23/10/2026)

Thẩm phán Tòa án Tối cao Ketanji Brown Jackson là người duy nhất công khai phản đối trong phán quyết hôm thứ Năm cho phép New Hampshire ngăn chặn việc sử dụng thẻ sinh viên trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sắp tới.

Các thẩm phán khác trong tòa án đã viện dẫn tiền lệ lâu đời "rằng các tòa án liên bang cấp dưới thường không nên thay đổi các quy tắc bầu cử vào đêm trước ngày bầu cử", và cho rằng các tòa án cấp dưới đã không đưa ra được lập luận rằng trường hợp cụ thể ở New Hampshire cần một ngoại lệ so với truyền thống này. Tuy nhiên, Jackson lập luận rằng việc gần đến ngày bầu cử không nên cản trở việc áp dụng luật một cách đúng đắn.

"Tôi phản đối với sự kính trọng vì — ngay cả, và có lẽ đặc biệt là khi một cuộc bầu cử đang đến gần — tôi sẽ không can thiệp vào một lệnh của tòa án liên bang rõ ràng là chính đáng, được ban hành để đảm bảo rằng công chúng nhận được thông tin chính xác về các quy trình bầu cử của một tiểu bang," bà viết.

Tranh chấp cơ bản bắt nguồn từ một đạo luật được ký vào tháng Tư và có hiệu lực vào tháng Sáu, loại bỏ thẻ sinh viên khỏi danh sách các loại giấy tờ tùy thân mà các quan chức bầu cử có thể chấp nhận khi một cá nhân yêu cầu phiếu bầu. Một nhóm bảo vệ quyền bầu cử đã kiện bang New Hampshire với lý do đạo luật này phân biệt đối xử bất hợp pháp với cử tri trẻ tuổi bằng cách gây khó khăn hơn cho họ trong việc bỏ phiếu.

Sau đó, Thư ký bang New Hampshire, David Scanlan, đã ban hành hướng dẫn nói rằng thẻ sinh viên không thể được sử dụng để xác minh danh tính cử tri, ngay cả khi được dùng làm bằng chứng hỗ trợ theo các thủ tục xác minh khác của tiểu bang. Một thẩm phán quận đã chặn phần hướng dẫn đó, lập luận rằng nó vượt quá phạm vi của chính luật, vốn chỉ loại bỏ thẻ sinh viên khỏi danh sách các hình thức nhận dạng được chấp nhận rõ ràng.

Trong số những người ủng hộ hướng dẫn này có Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa.

Mặc dù bà Jackson là người duy nhất công khai phản đối, nhưng có thể các thẩm phán khác cũng phản đối, nhưng đã chọn không nêu tên trong phán quyết của tòa án. Trong khoảng bốn năm làm việc tại Tòa án Tối cao, bà Jackson đã có những quan điểm khác biệt so với các đồng nghiệp trong các lĩnh vực như tài chính tranh cử, nhập cư và kiện tụng liên quan đến bản đồ phân chia khu vực bầu cử quốc hội .

Năm 2023, bà là người duy nhất phản đối trong phán quyết 8-1 cho phép một công ty bê tông kiện các công nhân công đoàn đang đình công. Bà cũng là người duy nhất phản đối trong một quyết định hồi tháng 5 năm 2026 liên quan đến các tù nhân liên bang muốn kháng cáo bản án của mình thông qua việc phóng thích vì lý do nhân đạo.

New Hampshire đang có một số cuộc đua sát nút trong Ngày bầu cử, điều này càng củng cố thêm tầm quan trọng của phán quyết của tòa án. Bảng xếp hạng sức mạnh của Fox News đánh giá cuộc đua vào Thượng viện của tiểu bang nghiêng về phía Đảng Dân chủ, có nghĩa là phe tự do có lợi thế nhỏ trong một cuộc đua có thể quyết định quyền kiểm soát Quốc hội. Trong khi đó, cuộc đua chức Thống đốc của tiểu bang được đánh giá là nhiều khả năng thuộc về Đảng Cộng hòa.

Sinh viên đại học thường ủng hộ Đảng Dân chủ, mặc dù chưa rõ phán quyết của tòa án sẽ ảnh hưởng đến bao nhiêu cử tri, vì những sinh viên trước đây dựa vào thẻ sinh viên giờ đây sẽ cần một hình thức nhận dạng khác được chấp nhận.

Tuy nhiên, một số đảng viên Dân chủ tin rằng việc cho phép cử tri sử dụng thẻ sinh viên sẽ là một điều tốt. Ví dụ, ứng cử viên Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ bang Texas, James Talarico, đã thúc đẩy điều này tại bang của mình.

https://www.foxnews.com/politics/jackson-publicly-breaks-supreme-court-justices-side-gop-last-minute-voter-id-fight
 

 

 2026-10-22  

Ông Trump lại thắng: Tờ Politico nhượng bộ trước tối hậu thư của Tòa Bạch Ốc và đưa ra lời đính chính quan trọng.

(Nick Givas, Western Journal, 22/10/2026)

Tổng thống Donald Trump đã giành được một chiến thắng lớn vào tối thứ Tư sau khi tờ Politico đồng ý đính chính một bài báo về Chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc Susie Wiles sau tối hậu thư 48 giờ.

Theo Mediaite đưa tin, Politico đã đính chính một bài báo cho rằng Wiles chịu trách nhiệm điều phối cuộc phỏng vấn giữa người dẫn chương trình Sean Hannity của Fox News và Thư ký báo chí Tòa Bạch Ốc lúc bấy giờ là Katie Zacharia .

“Đính chính: Phiên bản trước của bản tin này, bao gồm cả tiêu đề, đã mô tả sai vai trò của Chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc Susie Wiles trong cuộc phỏng vấn của thư ký báo chí lúc bấy giờ là Katie Zacharia với Sean Hannity trên Fox News,” bản cập nhật cho biết.

“Thông tin mà POLITICO thu thập được cho thấy bà ấy không trực tiếp tham gia vào việc sắp xếp cuộc phỏng vấn.”

Cuộc phỏng vấn của Zacharia với Hannity được nhiều người coi là cú đánh cuối cùng kết thúc sự nghiệp ngắn ngủi nhưng đáng nhớ của bà trên bục báo chí.

Hôm thứ Hai, luật sư của ông Trump, William Scharf, đã gửi một bức thư cho Tổng biên tập toàn cầu của Politico, Jonathan Greenberger, nêu bật những điểm không chính xác trong các bài báo của tờ báo này.

“Từ ngày 14 đến 17 tháng 10, Politico đã đăng tải một loạt bài báo rõ ràng là sai sự thật và mang tính phỉ báng, nhằm mục đích tạo ra một câu chuyện về sự rối loạn và tranh giành quyền lực trong Tòa Bạch Ốc. Những bài báo này phản ánh nhiều hơn là sự đưa tin cẩu thả hay sự dựa dẫm không may, vô tình vào các nguồn tin không đáng tin cậy,” ông viết.

“Thay vào đó, chúng cho thấy một mô hình đáng lo ngại về việc công bố những thông tin sai sự thật gây sốc bất chấp những lời bác bỏ trực tiếp, công khai từ các quan chức cấp cao của Tòa Bạch Ốc và thậm chí cả Tổng thống Hoa Kỳ, cũng như các bằng chứng tài liệu được cung cấp cho Politico, tất cả đều chứng minh rõ ràng rằng những tuyên bố trọng tâm trong kế hoạch đưa tin của Politico là sai sự thật,” Scharf tiếp tục.

"Nói một cách đơn giản, tờ báo của các bạn đã được thông báo sự thật và được cung cấp bằng chứng xác thực, thế nhưng vẫn chọn đăng tải những câu chuyện hư cấu."

Ông tiếp tục viết rằng điều này "đặt ra những câu hỏi nghiêm trọng" về việc cơ quan truyền thông này "tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức cơ bản nhất, tính liêm chính báo chí và các tiêu chuẩn chuyên nghiệp được kỳ vọng ở các ấn phẩm tin tức nghiêm túc".

Cố vấn Tòa Bạch Ốc cáo buộc Politico cố tình phớt lờ sự thật và trốn tránh "bằng cách viện dẫn các nguồn tin ẩn danh khi bị chất vấn".

“Do đó, tôi yêu cầu Politico rút lại những bài báo phỉ báng này và đưa ra lời đính chính ngay lập tức, nếu không sẽ phải gánh chịu hậu quả”, ông tuyên bố. “Tự do báo chí không phải là sự miễn trừ trách nhiệm nghề nghiệp.”

Ông kết thúc bức thư bằng cách yêu cầu “Politico ngay lập tức đính chính hoặc thu hồi các bài báo này, đưa ra lời xin lỗi công khai và rõ ràng tới Tổng thống Hoa Kỳ và bà Wiles, đồng thời xóa bỏ các bài báo sai sự thật khỏi kho lưu trữ kỹ thuật số của mình.”

Ông Scharf nói thêm: “Nếu không làm như vậy hoặc không đưa ra phản hồi nào khác để biện minh cho các bài báo của Politico trong vòng 48 giờ, chúng tôi sẽ ngay lập tức xem xét lại mối quan hệ giữa Politico và Tòa Bạch Ốc, và tất nhiên, xem xét tất cả các biện pháp pháp lý thích hợp và khả thi khác”.

Mối quan hệ giữa chính quyền Trump và Politico thời gian gần đây có thể nói là khá sóng gió.

Đầu năm nay, Politico đã bị cấm vào Tòa Bạch Ốc, cùng với CNN và MS NOW, nhưng các hãng truyền thông này đã được một thẩm phán liên bang cho phép tạm thời được bỏ qua trong khi vụ kiện đang được xét xử tại tòa án.

Đây cũng không phải là lần đầu tiên Trump giành được chiến thắng lớn trước giới truyền thông chính thống.

Năm ngoái, tổng thống đã đạt được thỏa thuận dàn xếp với công ty mẹ của CBS là Paramount với số tiền 16 triệu đô la sau khi đài truyền hình này biên tập sai lệch cuộc phỏng vấn bà Kamala Harris trên chương trình “60 Minutes” trong chu kỳ bầu cử năm 2024.

Ông đã nhận được khoản bồi thường 15 triệu đô la từ ABC News sau khi kiện đài truyền hình và người dẫn chương trình George Stephanopoulos vào năm 2024, sau khi người dẫn chương trình này liên tục tuyên bố rằng Trump đã bị kết luận "có tội hiếp dâm".

Ngoài ra, vào tháng 1 năm 2025, tổng tư lệnh đã đạt được thỏa thuận dàn xếp với Meta với số tiền khoảng 25 triệu đô la do việc đình chỉ các tài khoản mạng xã hội của ông.

Phần lớn số tiền thu được từ các vụ kiện này sẽ được dùng để tài trợ cho thư viện tổng thống tương lai của ông Trump, phần còn lại sẽ được dùng để trang trải phí luật sư.

https://www.westernjournal.com/trump-wins-politico-caves-white-house-ultimatum-issues-major-correction/
 

 

 2026-10-23  

Hạ viện Mỹ cáo buộc trường công “nhồi sọ chính trị”, bài Do Thái

(Aaron Gifford, The Epoch Times, 23/10/2026

Báo cáo do Hạ viện Mỹ công bố hôm thứ Tư (21/10) nêu ra nhiều vụ việc bài Do Thái và tình trạng “nhồi sọ chính trị” tại hai học khu phổ thông lớn cùng một công đoàn giáo viên trên toàn quốc.

Một trường trung học ở Philadelphia giao bài tập yêu cầu học sinh gọi Israel và Mỹ là những kẻ khủng bố.

Tại Berkeley, bang California, một lớp học về các nhóm sắc tộc phát cho học sinh bản đồ ghi tên Israel thành “Palestine”. Bài giảng của lớp cũng ca ngợi những nhân vật lịch sử từng đưa ra các phát ngôn bài Do Thái.

Trong khi đó, Hiệp hội Giáo dục Quốc gia (NEA) cắt đứt quan hệ với Liên đoàn Chống Phỉ báng (ADL), nhưng lại ủng hộ các tổ chức cung cấp tài liệu giảng dạy mang nội dung bài Do Thái cho các trường phổ thông.

Đó chỉ là một vài trong số nhiều vụ việc mà một số nghị sĩ gọi là “nhồi sọ chính trị”. Báo cáo do ông Tim Walberg, nghị sĩ Cộng hòa bang Michigan và Chủ tịch Ủy ban Giáo dục và Lực lượng Lao động Hạ viện, công bố.

Ông Walberg cam kết tiếp tục điều tra tình trạng bài Do Thái trong các trường phổ thông. Ông cho rằng cần ban hành luật để buộc lãnh đạo nhà trường chịu trách nhiệm về những hành vi phân biệt đối xử này.

“Phụ huynh gửi con đến trường để học đọc, học viết và học toán, chứ không phải để bị dạy cách căm ghét Israel hay bị lôi kéo vào những mục tiêu chính trị cực đoan. Thế nhưng, cuộc điều tra của chúng tôi đã phát hiện chính những tài liệu như vậy,” ông viết trong thông cáo báo chí cùng ngày.

Thông cáo cũng dẫn các báo cáo của ADL cho biết, riêng trong năm 2023, số vụ việc bài Do Thái tại các trường phổ thông đã tăng 135%.

“Học sinh Do Thái có quyền được an toàn trong lớp học, và phụ huynh có quyền biết con mình đang được dạy những gì. Các trường sử dụng tiền thuế của người dân phải chịu trách nhiệm nếu không bảo vệ được học sinh trước nạn bài Do Thái,” ông Walberg nói.

Bên cạnh nội dung giảng dạy mang tính bài Do Thái, báo cáo còn chỉ ra các hành vi phân biệt đối xử tại cả hai học khu.

Tại Philadelphia, Ủy ban Tổ chức vì Công bằng Chủng tộc do nhân viên nhà trường điều hành đã xây dựng các bài học xếp nam giới, người da trắng và người theo Cơ Đốc giáo vào nhóm “thống trị”, trong khi người da đen, người LGBT, người nhập cư và người không theo Cơ Đốc giáo bị xếp vào nhóm bị áp bức.

Báo cáo cũng đề cập đến một số video gây tranh cãi, trong đó có video mang tên “Thượng tôn da trắng trong câu hỏi ‘Bạn đến từ đâu?’” và một video về các đại từ nhân xưng “zi/zir/zim” và “xi/xir/xim”. Sau đó, học sinh được yêu cầu suy ngẫm về sự áp bức, đặc quyền và khái niệm “tính giao thoa” (intersectionality).

Theo báo cáo, học sinh lớp 2 tại học khu này được học về công bằng môi trường, hoạt động vì khí hậu và “tác động của định kiến, bất công và đặc quyền trên phạm vi toàn cầu”.

Tại Berkeley, học sinh lớp 5 trong chương trình học về các nhóm sắc tộc được dạy rằng việc nhắc đến các nhà lập quốc Mỹ là có hại, vì không ghi nhận người bản địa từng sinh sống trên vùng đất này trước thời thuộc địa, đồng thời các nhà lập quốc đã “duy trì những hệ thống bất bình đẳng về chủng tộc và giới”.

Theo báo cáo, một học phần dành cho học sinh lớp 7 yêu cầu các em tham gia dự án “kháng cự”, đề cao phi thực dân hóa và bảo tồn văn hóa. Trong khi đó, học phần về đoàn kết chủng tộc dành cho học sinh lớp 9 giảng dạy rằng “người châu Á đã bị biến thành công cụ, làm con tốt phục vụ chương trình nghị sự của chủ nghĩa thượng tôn da trắng”.

Báo cáo cũng chỉ trích NEA vì tổ chức Hội nghị về Công bằng Chủng tộc và Xã hội năm 2025. Tại hội nghị, các diễn giả cho rằng các phong trào dân tộc chủ nghĩa da trắng đang lợi dụng vấn đề bài Do Thái làm công cụ. Hội nghị còn có bài trình bày mang tên “Mối đe dọa của chủ nghĩa dân tộc Cơ Đốc đối với giáo dục công” và một bài khác có tiêu đề “Những câu chuyện phản biện nhằm xóa bỏ nỗi sợ đối với học sinh và nhà giáo Hồi giáo”.

“Trường công có nhiệm vụ giáo dục học sinh, chứ không phải lôi kéo các em vào những mục tiêu chính trị. Phụ huynh phải yên tâm rằng con em mình đến trường để học tập, chứ không phải để bị áp đặt những hệ tư tưởng cực đoan,” báo cáo kết luận.

Học khu Philadelphia gửi The Epoch Times tuyên bố rằng ban lãnh đạo đã hợp tác đầy đủ với cuộc điều tra trước đó của ủy ban Hạ viện và triển khai các biện pháp chống bài Do Thái cũng như những hình thức thù ghét khác. Học khu cũng phản đối việc báo cáo “mô tả học khu theo hướng đảng phái một cách trắng trợn chỉ vài ngày trước cuộc bầu cử”.

“Báo cáo bóp méo sự thật và mô tả sai những việc chúng tôi đã làm,” bà Monique Braxton, người phát ngôn của học khu, cho biết. “Trên thực tế, học khu đã thực hiện những biện pháp nghiêm túc nhằm chống lại mọi hình thức thù ghét trong trường học. Các biện pháp này bao gồm triển khai hệ thống quản lý hồ sơ mới, sửa đổi chính sách, tổ chức đào tạo bắt buộc hằng năm cho nhân viên và áp dụng các hình thức kỷ luật phù hợp.”

“Chúng tôi vẫn cam kết xây dựng một môi trường an toàn, thân thiện cho học sinh và nhân viên.”

The Epoch Times cũng đã liên hệ Học khu Berkeley và NEA để đề nghị bình luận về báo cáo.

Trong một tuyên bố gửi The Epoch Times trước đó, NEA khẳng định không dung thứ chủ nghĩa bài Do Thái và cam kết bảo đảm mọi thành viên cũng như học sinh đều được làm việc, học tập trong môi trường an toàn, thân thiện.

NEA cho biết hiệp hội luôn bảo đảm các quy chế họp và chương trình của mình phục vụ, hỗ trợ mọi thành viên, “bất kể chủng tộc, tôn giáo, sắc tộc, xuất thân, xu hướng tính dục hay bản dạng giới”.

https://www.theepochtimes.com/us/house-report-alleges-anti-semitism-and-political-indoctrination-in-public-schools-6107641

Trithucvn2 dịch

. 

 2026-10-21  

Nhiều chính phủ phương Tây sẽ không thể tồn tại.  
Tại sao người dân lại phải bảo vệ những chính phủ lợi dụng họ?


(JB Shurk, American Thinker, 21/10/2026)

Các chính phủ phương Tây đã tự đặt mình vào tình thế nguy hiểm chết người.  

Họ đang tích cực thực hiện những việc phá hoại đất nước của mình: (1)  thay thế  công dân bản địa bằng người nước ngoài không thể đồng hóa; (2) tập trung quyền lực chính phủ vào các cơ quan hành chính không được bầu cử và không chịu trách nhiệm; (3) kiểm duyệt và hình sự hóa sự bất đồng chính kiến ​​của công chúng; (4) chuyển kỹ nghệ và sản xuất ra nước ngoài; (5) làm trầm trọng thêm chi phí năng lượng và lạm phát chung bằng cách bôi nhọ hydrocarbon và lan truyền ảo tưởng về “sự nóng lên toàn cầu”; (6) tăng thuế, tăng chi tiêu của chính phủ và phúc lợi công cộng theo những cách không bền vững; (7) phá hủy bản sắc lịch sử, truyền thống, tín ngưỡng và văn hóa chung của quốc gia; (8) cung cấp nhà ở, thực phẩm và giáo dục “miễn phí” cho người nước ngoài, trong khi cáo buộc công dân bản địa là “phân biệt chủng tộc”, “bài ngoại” và “người theo chủ nghĩa thượng đẳng da trắng”; (9) không khuyến khích hôn nhân lành mạnh và gia đình ổn định; và (10) nhồi nhét vào đầu thế hệ trẻ niềm tin rằng chiến tranh, “biến đổi khí hậu”, dân số quá đông và sự sụp đổ kinh tế sẽ ngăn cản họ có được một tương lai hạnh phúc, đầy hy vọng và có mục đích.

Đó chỉ là mười cách mà các chính phủ phương Tây đang gây hại cho công dân của họ. Còn  nhiều cách khác nữa. Nhưng một người có lý trí sẽ đọc được đoạn văn trên và hiểu rằng các quốc gia không thể tồn tại dưới sự tấn công tàn phá của những chính sách gây hại như vậy.  

Các chính phủ phương Tây đang tiến hành chiến tranh chống lại chính quốc gia của mình. Diễn biến của những cuộc chiến này có thể có đôi chút khác biệt ở Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Úc, Canada và Hoa Kỳ, nhưng những gì xảy ra ở một quốc gia sẽ nhanh chóng lan sang tất cả các quốc gia còn lại. Dường như các nhà lãnh đạo phương Tây đã cùng nhau thỏa thuận từ nhiều năm trước rằng đất nước của họ sẽ uống nước Kool-Aid pha xyanua và chết dần chết mòn.  

Có lẽ họ đã lập nên thỏa thuận tự sát này trong một cuộc họp "giới tinh hoa" của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Tổ chức Y tế Thế giới, hoặc Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu của Liên Hợp Quốc. Có lẽ họ đã đồng thanh hô vang "Xây dựng lại tốt hơn" trong khi bỏ phiếu để tiêu diệt phương Tây.  

Các đảng phái chính trị đối lập bề ngoài cạnh tranh để giành quyền kiểm soát chính phủ phương Tây, nhưng trên thực tế, hệ thống đảng phái chỉ là một vở kịch Kabuki, trong đó cùng một nhóm lợi ích đặc biệt nắm giữ các chính trị gia ở cả hai phe. Cho đến khi các đảng được gọi là "chủ nghĩa dân túy" xuất hiện ở phương Tây, cử tri chỉ được trao ảo tưởng về sự lựa chọn.  

Tóm lại, Đảng Bảo thủ đã nắm quyền ở Vương quốc Anh trong mười bốn năm, và bất chấp những lời hứa lặp đi lặp lại, các nhà lãnh đạo của đảng này đã thất bại trong việc bảo vệ biên giới Anh khỏi sự xâm lược của nước ngoài hoặc giải phóng vương quốc khỏi sự lệ thuộc về Liên minh châu Âu về mặt quy định. 

Tại Hoa Kỳ, Tổng thống George W. Bush gọi Tổng thống Bill Clinton là “anh em” và Hillary Clinton là “chị em”, và từng mô tả Michelle Obama là “người bạn thân nhất” của mình. Các đảng viên Cộng hòa thuộc phe bảo thủ như các thượng nghị sĩ sắp mãn nhiệm Mitch McConnell, John Cornyn và Thom Tillis dành nhiều thời gian hơn để công kích Tổng thống Trump và 95% cử tri Cộng hòa ủng hộ chính sách MAGA của ông hơn là cảnh báo người Mỹ về số lượng ngày càng tăng của những người cộng sản trong Đảng Dân chủ.

Các quốc gia phương Tây có những thể chế chính trị giả vờ đấu tranh trước công chúng nhưng phần lớn lại âm mưu sau cánh cửa đóng kín và đồng thuận về hầu hết mọi việc. Chúng ta biết điều này là sự thật vì đã chứng kiến ​​cách các thể chế chính trị này cấu kết với nhau để ngăn chặn các ứng cử viên chính trị "ngoại đạo" vươn lên nắm giữ chức vụ cao hơn hoặc quyền lực.  

Tại châu Âu, giới cầm quyền thích thiết lập cái gọi là “vòng vây an ninh” hay “bức tường lửa” nhằm ngăn cản các lãnh đạo của các phong trào chính trị “không thể chấp nhận được” lên nắm quyền. Tại Hà Lan, giới cầm quyền đã ngăn cản Geert Wilders trở thành thủ tướng vì ông phản đối nhập cư ồ ạt, chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và Liên minh châu Âu, bất chấp việc đảng ông lãnh đạo nhận được sự ủng hộ đáng kể của công chúng. Tại Pháp, giới cầm quyền cũng đã làm điều tương tự với Jean-Marie Le Pen, con gái ông Marine và đảng Tập hợp Quốc gia của họ vì các chính sách ủng hộ chủ quyền quốc gia và chống nhập cư của đảng này. Tại Vương quốc Anh, giới cầm quyền đã ngăn cản Nigel Farage, người ủng hộ Brexit và lãnh đạo đảng Cải cách Anh, đảm nhận các vai trò lãnh đạo trong quốc hội. Tại Đức, giới cầm quyền đã cố gắng làm mất uy tín của đảng chống nhập cư nổi tiếng, Alternative for Deutschland, bằng cách bôi nhọ các thành viên của đảng này là “khủng bố nội địa”, “đặc vụ Nga” và “mối đe dọa an ninh quốc gia” chống hiến pháp.  

Tại Hoa Kỳ, các thành viên thuộc phe Dân chủ và Cộng hòa nòng cốt (Establishment) đã làm mọi cách để ngăn cản Tổng thống Trump đắc cử và sau đó tìm cách phế truất ông khỏi chức vụ sau khi ông đánh bại Hillary Clinton một cách thuyết phục trong cuộc bầu cử năm 2016. Ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa năm 2012, Mitt Romney, đã tích cực vận động chống lại Trump trong cuộc bầu cử năm 2016. Các nhà bình luận chính trị được gọi là “bảo thủ”, như Bill Kristol và George Will, đã quay lưng lại với cử tri Đảng Cộng hòa và ủng hộ ứng cử viên Hillary Clinton. Mặc dù Đảng Cộng hòa kiểm soát Quốc hội, cựu Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan đã thúc đẩy chiến dịch của Clinton-Obama-Cộng đồng Tình báo nhằm vu cáo Tổng thống Trump là gián điệp Nga. Thượng nghị sĩ Romney đã hai lần bỏ phiếu phế truất Trump khỏi chức vụ. Các công tố viên đảng Dân chủ đã dành nhiều năm cố gắng bỏ tù Trump suốt đời, và các thành viên đảng Cộng hòa nòng cốt đã nỗ lực hết sức để ngăn Trump trở thành ứng cử viên tổng thống của đảng một lần nữa vào năm 2024. Giới chính trị nòng cốt của Mỹ đã cố gắng loại bỏ Trump khỏi danh sách ứng cử viên, gây sức ép lên ông bằng các cuộc điều tra, và miêu tả ông như một "nhà độc tài" trong một chiến dịch kích động khuyến khích những kẻ muốn ám sát ông.

Những nỗ lực rộng khắp của giới cầm quyền phương Tây nhằm phá hoại bầu cử và bịt miệng những tiếng nói bất đồng của công chúng đã đạt được điều gì? Các thể chế phương Tây — các cơ quan chính phủ, trường đại học, truyền thông, ngân hàng, tập đoàn và các tổ chức phi chính phủ — chưa  bao giờ bị nghi ngờ nhiều đến thế. Điều đó cũng dễ hiểu. Các thể chế phương Tây đang thù địch với công dân phương Tây.  

Trong khi người dân phương Tây bình thường tự hào về đất nước của họ, các thể chế phương Tây lại nói với họ rằng họ nên xấu hổ về tổ tiên và lịch sử dân tộc mình. Trong khi người dân phương Tây bình thường muốn làm việc, mua nhà và lập gia đình, các thể chế phương Tây lại ủng hộ các chính sách nhập cư ồ ạt, thay thế người lao động phương Tây, làm tăng nhu cầu nhà ở và khiến người phương Tây gặp khó khăn hơn trong việc nuôi sống và bảo vệ gia đình mình. Khi công dân phương Tây phản đối chính sách mở cửa biên giới của giới cầm quyền, truyền thông phương Tây lại bôi nhọ họ là "những kẻ phân biệt chủng tộc" và "những người theo chủ nghĩa thượng đẳng da trắng". Khi công dân phương Tây tổ chức xung quanh quốc kỳ của họ và tuần hành ôn hòa trên đường phố, giới cầm quyền lại bôi nhọ họ là "phát xít", "cánh hữu" và "Đức Quốc xã". Khi công dân phương Tây cố gắng tự bảo vệ mình khỏi những người nước ngoài bạo lực, các cơ quan thực thi pháp luật phương Tây lại lên án người phương Tây và bênh vực những người nước ngoài bạo lực đó.  

Giới cầm quyền phương Tây thà để người nước ngoài đốt phá nhà thờ, tòa thị chính, cửa hàng, trường học và nhà riêng hơn là hành động để bảo vệ công dân phương Tây khỏi những hậu quả chết người của các chính sách nòng cốt. Giới cầm quyền Anh đã cho phép những kẻ cực đoan Hồi giáo hãm  hiếp hàng chục nghìn cô gái Anh  mà không phải chịu bất kỳ hậu quả nào. Giới cầm quyền Pháp đã cho phép những kẻ cực đoan Hồi giáo  săn lùng cảnh sát , cướp bóc cửa hàng, đốt phá nhà cửa và xe cộ, và khủng bố công dân Pháp mà không phải chịu bất kỳ hậu quả nào.  

Tại Đức, 87% nghi phạm có lệnh bắt giữ đang chờ thi hành là người nước ngoài. Bất chấp mọi bằng chứng trái ngược, ủy viên cảnh sát London, Sir Mark Rowley, cho  rằng điều quan trọng là phải thay thế việc tuyển dụng dựa trên năng lực bằng việc ưu tiên cho các ứng viên da đen và Hồi giáo (và gọi những lời chỉ trích đối với chính sách “đa dạng” của ông là “độc hại”). Các tổ chức phi chính phủ phương Tây lại đưa ra những tuyên bố phi lý  rằng chủ nghĩa tư bản và “biến đổi khí hậu” là nguyên nhân gây ra khuynh hướng buôn bán nô lệ tình dục và tảo hôn trong đạo Hồi. Tại Anh, 80% việc làm thuộc về người nhập cư nước ngoài. Tại Mỹ, Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Elissa Slotkin hứa sẽ truy tố chính trị những người ủng hộ Tổng thống Trump để “ngăn chặn” họ chống lại các chính sách của giới nòng cốt.  

Ngay cả khi các chính phủ phương Tây tấn công công dân phương Tây, họ vẫn kỳ vọng những công dân đó sẽ hy sinh mạng sống của mình trong một cuộc chiến tranh toàn cầu sắp xảy ra. Tướng Sir Roland Walker, người đứng đầu quân đội Anh, gần đây đã nói với  binh lính: “Rất sớm thôi, các nhà lãnh đạo chính trị của đất nước này sẽ bắt đầu có một cuộc đối thoại thẳng thắn với công dân của đất nước này về những gì đang thực sự diễn ra.” Vào thời điểm đó, công dân “phải chấp nhận hy sinh để ưu tiên quốc phòng và an ninh.”

Gần một nửa số người Anh trong độ tuổi quân ngũ cho biết “không có hoàn cảnh nào” mà họ sẽ bảo vệ Vương quốc Anh. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên. Tại sao công dân phương Tây lại phải bảo vệ những chính phủ lạm dụng họ? Nếu phương Tây đã “thuộc về” người nước ngoài, thì còn gì để bảo vệ nữa?

Những thất bại liên tiếp của các chính phủ phương Tây đang dẫn đến sự sụp đổ của họ. Người dân không nợ họ bất cứ điều gì.

https://www.americanthinker.com/articles/2026/10/many-western-governments-won-t-survive/