2026-06-24  

Những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ đang chuẩn bị cho năm 2028  

Nhóm này đang yêu cầu các thành viên trên khắp 250 chi nhánh cân nhắc xem họ muốn ủng hộ ai trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới và tại sao, theo một kế hoạch được chia sẻ lần đầu với POLITICO.

Zohran Mamdani holds his hand up with Darializa Avila Chevalier.


(William Steakin, Politico, 24/06/2026)

Những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ vừa gây ra một cơn địa chấn chính trị. Giờ đây, họ đang nhắm đến năm 2028.

Sau những chiến thắng vang dội trên khắp thành phố New York, cho thấy sức mạnh ngày càng tăng của cánh tả tiến bộ chống lại giới cầm quyền trong Đảng Dân chủ, các lãnh đạo của Tổ chức Xã hội chủ nghĩa Dân chủ Hoa Kỳ (DSA), háo hức tận dụng đà thắng lợi, đã bắt đầu lên kế hoạch cho bước đi tiếp theo: bảo đảm một người trong số họ sẽ có mặt trên sân khấu sơ bộ tranh cử tổng thống, bất kể đảng có muốn hay không.

“Những gì DSA đại diện là sự tương phản thực sự với những người Dân chủ đã vận động tranh cử dựa vì sợ hãi, trong vài cuộc bầu cử gần đây,” đồng chủ tịch quốc gia của DSA, Megan Romer, nói. “Bạn không thể tranh cử vì sợ hãi. Bạn phải đưa ra một giải pháp thay thế. Và điều thực sự quan trọng là chúng ta phải tham gia vào cuộc đối thoại đó vào năm 2028. Điều quan trọng là chúng ta phải có người nói những điều hợp lý.”

Quá trình tìm kiếm của họ đã bắt đầu. Mùa hè này, DSA đang gửi các cuộc khảo sát đến tất cả 250 chi nhánh của mình, yêu cầu các thành viên cân nhắc xem họ muốn ủng hộ ai và tại sao, và gửi lại kết quả cho ban lãnh đạo quốc gia trước ngày 15 tháng 9, chi tiết mà nhóm này lần đầu tiên chia sẻ với POLITICO. DSA dự kiến ​​sẽ nhận được một chồng hồ sơ dài từ 20 đến 40 trang từ các chi nhánh trên khắp cả nước, nêu ý kiến ​​về việc ai nên mang ngọn cờ xã hội chủ nghĩa dân chủ vào năm 2028.

Tổ chức này dự định tổ chức các cuộc thảo luận trên toàn quốc, bao gồm cả với các nhà lãnh đạo như Thị trưởng New York Zohran Mamdani và Thượng nghị sĩ Bernie Sanders (độc lập - Vermont), người 84 tuổi và không dự kiến ​​tranh cử vào năm 2028, với một cuộc bỏ phiếu chính thức dự trù ​​tại đại hội năm 2027 của nhóm vào năm tới — mặc dù các nhà lãnh đạo cho biết họ có thể tiến hành nhanh hơn nếu thời gian biểu bầu cử sơ bộ yêu cầu.

“Chúng tôi sẽ dành hàng triệu giờ để gõ cửa vận động tranh cử cho năm 2028 — vì vậy khi chúng tôi quyết định thực sự đề cử ai đó, mọi người phải cảm thấy rằng họ đã có tiếng nói,” Romer nói.

Các ứng cử viên được Mamdani hậu thuẫn đã giành chiến thắng áp đảo trong ba cuộc bầu cử sơ bộ quốc hội tại New York được theo dõi sát sao hôm thứ Ba, với Claire Valdez, Brad Lander và Darializa Avila Chevalier đều đánh bại các đối thủ có khuynh hướng chính trị truyền thống hơn — bao gồm cả hai dân biểu đương nhiệm. Đây là một màn thể hiện sức mạnh lớn của bộ máy chính trị của Mamdani, và là bằng chứng mới nhất về sức mạnh ngày càng tăng của phe cánh tả hướng tới năm 2028. “Họ hỏi, ‘Bạn muốn ai tranh cử vào năm 2028?’ Rồi họ hỏi, ‘Cuộc đua năm 2028 bắt đầu khi nào?’ Nó bắt đầu ngay bây giờ. Nó bắt đầu vào thứ Ba,” Mamdani nói tại một cuộc mít tinh ở Brooklyn tuần trước.

Vấn đề lớn nhất mà nhóm này quan tâm, tất nhiên, là nữ dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez.

Nữ dân biểu đại diện tiểu bang New York này vẫn chưa cho biết liệu bà có tranh cử tổng thống vào năm 2028 hay không — và từng có tin đồn rằng bà quan tâm đến việc tranh cử vào ghế thượng nghị sĩ hiện do Lãnh đạo Thiểu số Thượng viện Chuck Schumer nắm giữ. Tên tuổi của bà luôn xuất hiện trong mọi cuộc thảo luận nghiêm túc của các lãnh đạo DSA về cuộc đua này. Tuy nhiên, bà Romer khẳng định rõ rằng một trong những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ nổi tiếng nhất đất nước này cũng sẽ phải trải qua quy trình tương tự như bất kỳ ứng cử viên nào khác, chứ không phải nghiễm nhiên được tổ chức này ủng hộ.

"Bà ấy sẽ phải thuyết phục mọi người về chiến dịch của mình và lý do tại sao DSA nên dốc sức ủng hộ nó," bà nói, đồng thời lưu ý rằng điều đó đồng nghĩa với việc phải tiếp cận khoảng 110.000 thành viên thuộc 250 chi hội của tổ chức. "Chúng tôi không đóng vai trò 'người định đoạt ngôi vương' (kingmakers)."

Mối quan hệ giữa DSA và Ocasio-Cortez đôi khi khá phức tạp. Sau khi ủng hộ chiến dịch tranh cử đầy bất ngờ của bà vào năm 2018, vào năm 2024, tổ chức DSA cấp quốc gia đã tạm thời đặt điều kiện cho việc tiếp tục ủng hộ bà tái đắc cử, dựa trên một số yêu cầu về quan điểm của bà đối với vấn đề Israel. Động thái này đã bộc lộ sự rạn nứt với chi hội NYC-DSA (tại New York), vốn đã ủng hộ bà và yêu cầu các lãnh đạo cấp quốc gia rút lại sự ủng hộ có điều kiện đó.

Khi được hỏi thẳng liệu DSA có muốn Ocasio-Cortez tranh cử hay không, bà Romer tỏ ra thận trọng, không muốn đưa ra kết luận thay cho các thành viên cơ sở khi chưa biết rõ ý kiến ​​ủng hộ hay phản đối của họ.

"Nếu kết quả cho thấy mọi chi hội đều đồng lòng kiểu như 'Chúng tôi muốn AOC, chúng tôi muốn AOC' — thì đó là điều có thể nảy sinh từ quy trình này," bà nói. "Và nếu đó là ý kiến ​​áp đảo, thì có thể chúng tôi sẽ quyết định làm theo hướng đó. Chúng tôi muốn tham gia ngay từ giai đoạn đầu. Sẽ thật tuyệt vời nếu được góp mặt trong một chiến dịch ngay từ ngày đầu tiên."

Và rồi còn có trường hợp của Mamdani.

Vị chính khách này đã vươn mình từ một người hoàn toàn vô danh trở thành một trong những nhân vật cấp tiến nổi tiếng và có ảnh hưởng nhất cả nước, giúp nâng cao vị thế chính trị của chủ nghĩa xã hội dân chủ theo cách chưa từng thấy kể từ khi Ocasio-Cortez nổi lên, và có lẽ là kể từ chiến dịch tranh cử tổng thống đầu tiên của Sanders. Tuy nhiên, Mamdani không sinh ra tại Hoa Kỳ, khiến ông không đủ điều kiện tranh cử tổng thống theo quy định của Hiến pháp. “Một số người kiểu như: cứ để ông ấy ra tranh cử đi — cứ tạo ra một cuộc khủng hoảng hiến pháp xem sao,” Romer nói, mô tả đó như một câu chuyện đùa vui, mặc dù bà “không chắc là mọi người hoàn toàn chỉ đang đùa.”

Những chiến thắng hôm thứ Ba tại New York là sự kiện mới nhất trong chuỗi thắng lợi của DSA trên khắp cả nước, bao gồm chiến thắng của Chris Rabb trong cuộc bầu cử sơ bộ tại Khu vực bầu cử số 3 (ở Philadephia, tiểu bang Pennsylvania), cũng như các cuộc đua vào ghế thị trưởng ở Washington, D.C. tuần trước và Seattle vào mùa thu năm ngoái.

Tổ chức này đang hậu thuẫn Melat Kiros — một ứng cử viên lần đầu tranh cử, đối đầu với dân biểu đương nhiệm đã tại vị 30 năm là Diana DeGette tại Colorado vào tuần tới — cũng như Oliver Larkin ở Florida và cựu dân biểu Cori Bush trong nỗ lực giành lại ghế tại Quốc hội đại diện cho Missouri mà bà đã để mất ở kỳ bầu cử trước. Lịch trình bầu cử sơ bộ dày đặc này phản ánh quyết tâm mạnh mẽ của DSA trong việc mở rộng tầm ảnh hưởng hướng tới năm 2028.

“Quy mô của những gì vừa diễn ra tại New York thực sự mang tính lịch sử,” Bhaskar Sunkara, cựu phó chủ tịch DSA kiêm chủ tịch tạp chí *The Nation*, nhận định. “Trên bình diện quốc gia, đây là cú hích lớn cho phong trào xã hội chủ nghĩa dân chủ. Phe cánh tả truyền thống đã trở nên rỗng tuếch — DSA đã chứng tỏ mình là lực lượng thực sự duy nhất còn khả năng huy động quần chúng tại cơ sở.”

Tuy nhiên, Sunkara cũng lưu ý rằng phong trào này vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết trước thềm năm 2028, đặc biệt là nếu muốn lan tỏa đà phát triển này ra ngoài các thành trì đô thị vốn nghiêng hẳn về cánh tả của DSA. Các đảng viên Dân chủ ôn hòa từ lâu đã lập luận rằng các ứng cử viên theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa dân chủ là một bất lợi tại những khu vực bầu cử cạnh tranh gay gắt; họ bị coi là quá thiên tả để có thể thu hút nhóm cử tri mà đảng cần chinh phục tại các khu vực bầu cử "màu tím" và các tiểu bang nghiêng về phe Cộng hòa.

“Bản đồ chính trị toàn quốc bao gồm cả những khu vực bầu cử nghiêng hẳn về màu đỏ đậm (Cộng Hòa) và các vùng nông thôn, nơi phe cánh tả vẫn cần tìm cách tiếp cận cử tri thuộc tầng lớp lao động và cạnh tranh hiệu quả,” Sunkara nhận định. “Việc có các nền tảng chính sách cấp quốc gia thông qua nhiều dân biểu tại Quốc hội cũng là một bước khởi đầu cho nỗ lực đó.”

Các lãnh đạo của DSA cho rằng thành quả hiện tại của tổ chức là kết quả của quá trình nỗ lực suốt nhiều năm — diễn ra sau những giai đoạn đầy biến động: từ cột mốc đáng nhớ là sự trỗi dậy của nhóm “The Squad” vào năm 2018, cho đến những năm tháng chật vật với nhiều trở ngại — bao gồm đại dịch làm tê liệt các hoạt động vận động trực tiếp, kỷ nguyên Biden mà Romer mô tả như một “gáo nước lạnh” dập tắt nhiệt huyết, và chiến dịch tranh cử năm 2024 của Kamala Harris — nơi những nỗ lực của DSA nhằm thúc đẩy ứng viên này theo hướng tả khuynh đã không được lắng nghe.

“Sức ảnh hưởng của nhóm ‘The Squad’ đã phần nào suy giảm,” Romer nói. “Năm 2022 thực sự là một năm vô cùng khó khăn đối với nền chính trị cánh tả.”

Chu kỳ bầu cử năm 2024 cũng chứng kiến ​​thất bại của cả Bush và Jamaal Bowman; ông Bowman đã bị đánh bại trong cuộc bầu cử sơ bộ tốn kém nhất lịch sử Hạ viện tính đến thời điểm đó, với nguồn lực tài chính khổng lồ chủ yếu đến từ AIPAC.

Giờ đây, cục diện dường như đang dần thay đổi theo chiều hướng tích cực.

Hướng tới năm 2028, phe xã hội chủ nghĩa trong Đảng Dân chủ muốn thúc đẩy một cuộc nhìn nhận lại nghiêm túc bên trong đảng — tổ chức mà họ cho rằng đã dành nhiều năm để quay lưng lại với chính cơ sở cử tri của mình, trong khi lại yêu cầu cử tri phải chấp nhận những giải pháp thỏa hiệp kém hiệu quả.

“Kịch bản lý tưởng nhất là giành được một loạt chiến thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, qua đó buộc Đảng Dân chủ cấp quốc gia phải thay đổi cách tiếp cận đối với các vấn đề này, đồng thời gia tăng đáng kể sự hiện diện trong các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng và hy vọng là cả trong cuộc đua vào Tòa Bạch Ốc,” Hasan Piker chia sẻ. Ông là một streamer tiến bộ nổi tiếng trên Twitch và là một trong những tiếng nói có ảnh hưởng nhất trong phong trào dân chủ xã hội chủ nghĩa, người từng tích cực vận động tại New York cho toàn bộ danh sách ứng viên của DSA.

Theo ông, những chiến thắng vào thứ Ba vừa qua là phương thức để kéo đảng về phía họ nhiều hơn, giúp đưa các quan điểm chính trị cánh tả triệt để trở thành xu hướng chủ đạo.

Về việc ai sẽ là người đại diện cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa vào năm 2028, Piker vẫn đặt kỳ vọng vào Ocasio-Cortez. “Điều đó có thể thay đổi vì năm 2028 còn khá xa,” ông nói. “Nhưng đó là lựa chọn mà tôi đang hướng tới vào lúc này.”

https://www.politico.com/news/2026/06/24/democratic-socialists-new-york-2028-presidential-00973341
 

NVV

 

 2026-06-29  

Các đảng viên Dân chủ truyền thống đang chấp nhận thất bại.
Một số người theo chủ nghĩa trung dung thà để Trump thắng cử còn hơn là liên minh với cánh tả.


(Jeet Heer, The Nation, 29/6/2026)

Các thành viên Đảng Dân chủ truyền thống đang hoảng loạn khi cử tri trong đảng của họ chuyển mạnh sang cánh tả. Tờ Politico đưa tin: “Các ứng cử viên cánh tả đã giành chiến thắng vang dội tại ba ghế Hạ viện vốn thuộc về Đảng Dân chủ ở thành phố New York, một chiến thắng chấn động đã lật đổ hai nghị sĩ đương nhiệm, trong đó có chủ tịch quyền lực của Nhóm Nghị sĩ gốc Tây Ban Nha tại Quốc hội. Và sau một loạt chiến thắng của các ứng cử viên tiến bộ tại các cuộc bầu cử sơ bộ trước đó, các ứng cử viên ôn hòa đang cho thấy rõ rằng chuỗi chiến thắng của cánh tả có thể chỉ mới bắt đầu.”

Những chiến thắng ở New York tuần này có thể được giải thích một phần bởi các yếu tố địa phương. Thị trưởng Zohran Mamdani rất được lòng dân, và ông đã ủng hộ một loạt các ứng cử viên tiến bộ, những người đã thành công trong việc tạo nên những bất ngờ trước các đối thủ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ giới cầm quyền. Chiến thắng bất ngờ của chính Mamdani được thúc đẩy bởi sức mạnh tổ chức của Đảng Xã hội Dân chủ Hoa Kỳ (Democratic Socialists of America - DSA), một tổ chức đã nổi lên như một cỗ máy đáng gờm trong chính trường New York.

Nhưng sự trỗi dậy của cánh tả không chỉ là câu chuyện của New York. Như Politico đã lưu ý, “Những người theo chủ nghĩa tiến bộ đã càn quét các cuộc bầu cử sơ bộ mùa xuân của đảng Dân chủ, giành được một loạt chiến thắng ở cả các khu vực an toàn và cạnh tranh, đồng thời đảo lộn kế hoạch tranh cử của các nghị sĩ Dân chủ tại Hạ viện và Thượng viện.” Trong cuộc bầu cử sơ bộ Thượng viện của đảng Dân chủ ở Maine, Graham Platner, một ứng cử viên đầy nhiệt huyết chống lại hệ thống, đã dễ dàng đánh bại Janet Mills, thống đốc tiểu bang, người đã được lãnh đạo đảng tại Thượng viện, Chuck Schumer, ủng hộ.

Các thành viên Dân chủ thuộc giới cầm quyền không phản ứng với những thất bại này một cách lịch sự hay bình thản. Trên thực tế, họ đang hoảng loạn, đôi khi thậm chí công khai đe dọa chia rẽ đảng thay vì hợp tác trong một liên minh rộng lớn bao gồm cả một cánh mạnh mẽ của những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ. Trên thực tế, những đảng viên Dân chủ thuộc phe bảo thủ đang đe dọa bắt giữ đảng làm con tin, nói rằng nếu phe tả không bị ngăn chặn, họ thà không tham gia bầu cử hoặc trục xuất phe tả.

Trong một hệ thống lưỡng đảng, thái độ "hoặc làm theo ý tôi, hoặc không làm gì cả" này có nguy cơ làm tăng sức mạnh cho đảng Cộng hòa, ngay cả trong một môi trường chính trị dễ bị tổn thương. Mặc dù Donald Trump có mức độ không được lòng dân cao trong lịch sử, đảng Cộng hòa vẫn có thể thắng cử giữa nhiệm kỳ và bầu ra người kế nhiệm MAGA vào năm 2028 nếu đủ số lượng đảng viên Dân chủ ôn hòa nổi giận và chia rẽ đảng.

CNN đưa tin, "Một nghị sĩ Dân chủ tại một khu vực tranh chấp nói với CNN rằng họ rất lo ngại về sự trỗi dậy của những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ ở Mỹ đến nỗi gần đây họ đã bắt đầu có những cuộc thảo luận nghiêm túc với các nhà tài trợ về việc rời bỏ đảng hoàn toàn."

James Carville, cựu cố vấn chiến dịch tranh cử của Bill Clinton, đã bày tỏ ý kiến ​​tương tự bằng những lời lẽ hoa mỹ hơn. Trong một podcast, Carville đã chỉ trích gay gắt Darializa Avila Chevalier, một ứng cử viên của DSA được Mamdani ủng hộ, người đã thắng vòng bầu cử sơ bộ quốc hội hôm thứ Ba. Carville dẫn ra một số quan điểm cực đoan mà ứng cử viên này từng đưa ra khi còn trẻ (chẳng hạn như chỉ trích hôn nhân khác chủng tộc), điều mà bà đã từ bỏ sau đó. Mặc dù bản thân ông liên tục bày tỏ sự không thích đối với các bài kiểm tra sự thuần khiết, Carville không hề thông cảm cho việc Avila Chevalier thay đổi quan điểm. Thay vào đó, ông nói:

Thưa bà, tôi không cùng đảng với bà. Tôi xin lỗi. Tôi thực sự không cùng đảng. Và tôi thực sự nghĩ đã đến lúc đảng Dân chủ nên nói về từ "ly khai". Tôi thực sự nghĩ vậy. Mọi người luôn nói, "Không, không. Chúng ta là một liên minh. Chúng ta là một đại gia đình." Và có một số điều tôi không thể cùng chung một lều được.

Carville tiếp tục nói rằng đảng Dân chủ nên "thương lượng các điều khoản ly khai" với DSA. Trong một cuộc phỏng vấn khác, ông khẳng định rằng nếu Avila Chevalier thắng cử, đảng Dân chủ “không nên cho bà ấy ngồi trong nhóm nghị sĩ. Quan điểm của bà ấy hoàn toàn trái ngược với bất cứ điều gì mà bất kỳ thành viên đảng Dân chủ nào khác có. Chúng tôi tin vào chủ nghĩa đa nguyên.” Carville dường như không nhận ra sự trớ trêu khi vừa ca ngợi chủ nghĩa đa nguyên lại vừa kêu gọi thanh lọc.

Với giọng văn ôn hòa hơn, Jaimie Harrison, cựu chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ, cũng thúc đẩy sự chia rẽ trong một bài đăng trên X.com:

"Tôi nói điều này không hề có ác ý hay thù hận: nếu bạn ghét Đảng Dân chủ, thì xin chúng tôi đề cử bạn. Đừng sử dụng nguồn lực của chúng tôi. Đừng dựa vào các tình nguyện viên của chúng tôi. Đừng sử dụng cơ sở hạ tầng của chúng tôi. Đừng yêu cầu các đảng viên Dân chủ đầu tư thời gian, tiền bạc và năng lượng vào chiến dịch tranh cử của bạn. Hãy tập trung vào việc xây dựng đảng mà bạn thực sự ủng hộ. Các đảng chính trị không hoàn hảo, nhưng chúng được xây dựng bởi hàng triệu người gõ cửa, gọi điện thoại, tổ chức các cuộc họp và đấu tranh cho các giá trị mà họ tin tưởng. Nếu bạn không tin vào đảng, thì đừng yêu cầu các thành viên của đảng đưa bạn về đích."

Một người khác ủng hộ sự chia rẽ là Cathy Young, một nhà văn bảo thủ chống Trump của The Bulwark. Bà lập luận rằng Adriano Espaillat, người đã bị Avila Chevalier đánh bại, nên tranh cử với tư cách ứng cử viên độc lập trong cuộc tổng tuyển cử. Đây là chiến thuật vận động tranh cử của kẻ thua cuộc cay cú mà Andrew Cuomo đã sử dụng, người đã bị cử tri sơ bộ của đảng Dân chủ từ chối trong cuộc đua chức thị trưởng năm ngoái và sau đó tranh cử trong cuộc tổng tuyển cử, chỉ để bị Zohran Mamdani đánh bại lần thứ hai. Nếu các thành viên đảng Dân chủ thuộc phe bảo thủ muốn sử dụng Cuomo làm hình mẫu và bác bỏ ý chí của chính cử tri của mình theo cách này, họ có thể sẽ gặp phải số phận tương tự như ông ta.

Ngoài việc là chính trị tồi tệ, những lời kêu gọi chia rẽ này về cơ bản là trẻ con. Chúng cho thấy một tư duy non nớt không thể chấp nhận thất bại. Chúng bắt nguồn từ ý tưởng sai lầm rằng một đảng chính trị là một tài sản mà một nhóm sở hữu. Trên thực tế, các đảng được tạo thành từ các thành viên của nó, những người thuộc các phe phái khác nhau. Nếu phe của bạn thua, điều chín chắn cần làm là cố gắng tổ chức để giành chiến thắng trong lần tới.

Điều đáng chú ý là, phe bảo thủ hiện đang làm điều mà họ thường cáo buộc phe tả làm: đóng vai trò là kẻ phá hoại. Từ lâu, người ta đã cho rằng các ứng cử viên độc lập như Ralph Nader và Jill Stein chia rẽ phiếu bầu của cánh tả đủ để giúp đảng Cộng hòa đắc cử. Phát biểu trên CNN năm 2023, Carville tuyên bố, không có bằng chứng, rằng Jill Stein “gần như chắc chắn là một điệp viên của chính phủ Nga”. Carville cũng nói rằng việc Cornel West tranh cử tổng thống là “mối đe dọa đối với trật tự hiến pháp hiện hành ở Hoa Kỳ”, và “Ralph Nader chịu trách nhiệm trực tiếp cho việc George W. Bush đắc cử”. Hơn nữa, Bernie Sanders thường bị chỉ trích là không phải một đảng viên Dân chủ thực thụ vì ông tranh cử với tư cách ứng cử viên độc lập. Trong nhiều chu kỳ bầu cử, cánh tả được khuyến khích làm điều chín chắn và ủng hộ các ứng cử viên trung dung như là lựa chọn ít tệ hơn so với đảng Cộng hòa. Khẩu hiệu được đưa ra là đảng Dân chủ cần phải là một đảng bao trùm mọi tầng lớp.

Carville phát biểu vào thời điểm cánh tả là đối tác nhỏ bé trong liên minh Dân chủ và Joe Biden theo chủ nghĩa trung dung là người nắm quyền quyết định. Nhưng giờ đây, cánh tả đang trỗi dậy; Không quá xa vời khi nghĩ rằng phe cánh tả có thể sớm trở thành đối tác chủ chốt trong liên minh. Trong điều kiện mới này, Carville đang từ bỏ luận điệu trước đây về sự đoàn kết đảng. Thay vào đó, ông kêu gọi một sự chia rẽ hoàn toàn. Nhưng chính vì phe cánh tả hiện nay lớn mạnh hơn, một sự chia rẽ như vậy sẽ gây thiệt hại cho đảng Dân chủ nhiều hơn so với các ứng cử viên tương đối nhỏ như Nader, Stein và West, những người dù sao cũng hoàn toàn có quyền tranh cử với tư cách ứng cử viên của đảng thứ ba.

Khi suy ngẫm về những nhân vật như James Carville, tôi nhớ đến Satan, như được miêu tả trong tác phẩm Paradise Lost của John Milton. Trong tác phẩm bất hủ đó, ác quỷ đưa ra châm ngôn này: “Thà trị vì ở Địa ngục còn hơn phục vụ ở Thiên đường”. Theo cách nói hiện đại, những nhân vật như Carville tin rằng thà trị vì ở Địa ngục trên một đảng bị chia rẽ và thất bại còn hơn là bị buộc phải phục vụ trong một đảng chiến thắng do DSA thống trị.

Satan của Milton sở hữu sự cao quý lãng mạn trong sự thách thức của hắn. Nhưng nếu xét về mặt chính trị thông thường, khẩu hiệu “cai trị ở địa ngục” là triết lý của những kẻ thất bại.

https://thenationmagazine.substack.com/p/establishment-democrats-are-embracing
 

Ghi chú

Tuần trước, 3 ứng cử viên được ông Mamdani ủng hộ đã giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ tại thành phố New York, gồm có:

 - Darializa Avila Chevalier đã đánh bại dân biểu đương nhiệm Adriano Espaillat

 - Brad Lander, cựu Kiểm soát viên Thành phố New York, đã đánh bại dân biểu đương nhiệm Dan Goldman – người đang giữ ghế này ở nhiệm kỳ thứ hai.

 - Claire Valdez, một thành viên Hội đồng Lập pháp tiểu bang và là đồng minh của Mamdani, cũng đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ để tranh cử kế nhiệm dân biểu  Nydia Velazquez, người sắp nghỉ hưu.

Bà Darializa Avila Chevalier, từng tham dự một cuộc biểu tình chống Israel tại Quảng trường Times Square chỉ một ngày sau cuộc tấn công khủng bố của Hamas vào Israel ngày 7 tháng 10 năm 2023. Darializa Avila Chevalier đã thành lập một tổ chức kêu gọi "Cái chết cho nước Mỹ" và "Sự xóa sổ hoàn toàn nền văn minh phương Tây". Bà ta cũng nói rằng bà ta dùng quốc kỳ Mỹ làm khăn ăn, kêu gọi bãi bỏ nhà tù và biên giới, đồng thời chỉ trích cựu Tổng thống Joe Biden. Bà tập trung chương trình tranh cử vào việc chấm dứt viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho Israel và thúc đẩy việc cắt toàn bộ đầu tư liên quan đến quốc gia này.

Brad Lander, một người Do Thái và cựu thành viên Democratic Socialists of America, cho rằng Israel đang thực hiện hành động diệt chủng tại Gaza. 


NVV 

 2026-06-25  

Một chuyên gia hàng đầu về hạt nhân nhận định về những thành quả của cuộc chiến tranh Iran.
David Albright cho rằng tuyên bố Iran mạnh hơn sau cuộc chiến là hoàn toàn sai sự thật.


(Marc A. Thiessen, The Washington Post, 25/6/2026)

Đây đã trở thành điệp khúc quen thuộc của đảng Dân chủ: Quyết định gây chiến với Iran của Tổng thống Donald Trump đã phản tác dụng, khiến Tehran mạnh hơn trước. “Điều này có làm cho mọi thứ tốt hơn chút nào không?” Lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện Hakeem Jeffries (D-New York) hỏi. “Iran giờ mạnh hơn chứ không yếu hơn, và người dân Mỹ kém an toàn hơn.”

Trump đã gây chiến để ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân có thể thay đổi cục diện, dự án của chế độ này nhằm áp đặt ý chí của mình lên khu vực và khiến người dân Mỹ “kém an toàn hơn”. Vậy Iran giờ mạnh hơn so với ngày 1 tháng 1 không?

Tôi đã đặt câu hỏi này cho nhà vật lý và chuyên gia vũ khí hạt nhân David Albright, người sáng lập Viện Khoa học và An ninh Quốc tế. Albright là một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về chương trình hạt nhân của Iran.

“Bạn phải bị điên mới nghĩ đó là sự thật,” ông nói với tôi trong một cuộc phỏng vấn trên podcast, và sau đó nói thêm, “Nếu nhìn nhận một cách nghiêm túc về mặt kỹ thuật, cuộc chiến này – bất kể bạn cảm nhận thế nào về cuộc chiến – đã rất thành công trong việc làm suy yếu nghiêm trọng khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân của Iran.”

Albright đưa ra một đánh giá thẳng thắn về thiệt hại đối với chương trình hạt nhân của chế độ: “Chương trình ly tâm khí, chương trình làm giàu uranium, chương trình bí mật biến uranium ở cấp độ vũ khí thành vũ khí hạt nhân… đã bị thiệt hại nghiêm trọng,” ông nói. “Chương trình ly tâm như trước đây không còn tồn tại nữa. Và về cơ bản, những gì chúng ta đang thảo luận chỉ là tàn dư.” Những tàn dư đó, ông nói, “rất nguy hiểm, nhưng dù sao đây cũng là một chương trình làm giàu – nó không làm giàu uranium, nó không chế tạo máy ly tâm, và nó sẽ rất khó để tái tạo lại bất cứ thứ gì gần giống như những gì nó đã có trong nhiều năm.”

Ông Albright cho biết, không chỉ Hoa Kỳ và Israel tấn công các địa điểm hạt nhân đã biết của Iran tại Fordow, Isfahan và Natanz, mà “Israel còn tiết lộ các địa điểm mà họ đã tấn công, những địa điểm này trước đây chưa được công khai và họ nói là có liên quan đến việc chế tạo vũ khí hạt nhân”. Tổng cộng, ông Albright nói, “khoảng 10 địa điểm liên quan đến vũ khí hạt nhân đã bị phá hủy” – bao gồm các cơ sở lưu trữ, chuyển đổi và nghiên cứu phát triển của Iran – và “nhiều nhà khoa học và kỹ sư thiệt mạng”.

Một điều bất ngờ là không có cuộc tấn công nào vào địa điểm hạt nhân tại Pickaxe Mountain, một khu phức hợp ngầm gần Natanz. “Chúng tôi tự hỏi tại sao nơi đó không bao giờ bị tấn công”, ông nói. Khi nhóm của ông hỏi cộng đồng tình báo Hoa Kỳ, “câu trả lời chúng tôi nhận được là: ‘Chưa có đủ sự kiện xảy ra ở đó để biện minh cho việc tấn công.’” Ông nói thêm, “địa điểm này đang được xây dựng, đó là một địa điểm nguy hiểm, ít nhất cần phải được giải quyết trong các cuộc đàm phán”.

Nhưng điều quan trọng là thế này: Ông Albright nói rằng trước khi Trump phát động Chiến dịch Búa Nửa Đêm vào tháng 6 năm 2025, Iran có “một chương trình với 22.000 máy ly tâm, nhiều máy trong số đó đang hoạt động, làm giàu uranium lên đến 60%. Giờ đây, họ không còn làm giàu nữa và hầu hết các máy ly tâm đó đã bị phá hủy.”

Điều đó có ý nghĩa gì đối với tương lai của việc Iran theo đuổi vũ khí hạt nhân? Ông nói, vào tháng 6 năm 2025, thế giới phải đối mặt với “mối đe dọa cận kề” rằng Iran có thể chế tạo vũ khí hạt nhân trong vòng vài tháng và nhiều vũ khí hơn trong vòng sáu tháng đến một năm – và làm như vậy với độ chắc chắn 100%. Giờ đây, ông nói, “Họ sẽ mất ít nhất một năm, và với mức độ thiệt hại, sẽ có nhiều bất trắc hơn về khả năng thành công.” Điều này làm giảm nhiều khả năng một nhà lãnh đạo tối cao của Iran đưa ra quyết định chế tạo bom hạt nhân – bởi vì không chỉ mất một năm hoặc hơn mà nỗ lực đó “không hề chắc chắn sẽ thành công.” Nguy cơ cố gắng chế tạo bom một cách bí mật — điều có thể bị phát hiện bất cứ lúc nào, dẫn đến hành động quân sự từ phía Israel và Mỹ — mà không có bất kỳ sự đảm bảo nào về thành công là một yếu tố răn đe nghiêm trọng.

Tôi đã hỏi ông ấy về tuyên bố từ các quan chức cấp cao của chính quyền Trump rằng vật liệu hạt nhân của Iran hiện được chôn sâu đến mức Iran cho biết họ không thể tiếp cận để giao nộp; Mỹ sẽ phải tự mình đào lên. Ông ấy nói: “Chúng tôi nghĩ rằng những quả bom xuyên hầm đi xuống qua các đường ống thông gió thực sự đã phá hủy [Fordow]. Nếu sóng xung kích đánh trúng các xi lanh, và chúng tôi nghĩ là có, và làm chúng bị vỡ hoặc mở ra theo một cách nào đó,” thì cơ sở này đã bị “chôn vùi” và có khả năng bị biến thành “bãi chứa chất thải hạt nhân”.

“Nhưng nếu bạn đến Natanz, đến Isfahan, thì không phải vậy,” ông nói. Tại Isfahan, “một số thiệt hại có lẽ đã xảy ra ở sâu bên trong khu phức hợp, nhưng có thể không đủ để phá vỡ những thùng chứa uranium làm giàu vẫn còn chôn vùi bên trong hệ thống đường hầm,” trong khi tại Natanz, ông nói, “không ai biết chính xác những gì đã bị phá hủy.” Chiến dịch Epic Fury “kết thúc quá nhanh,” ông nói.

Giờ đây, khi chính quyền Trump theo đuổi một thỏa thuận hạt nhân, phép thử cơ bản là liệu Iran có thừa nhận họ từng có chương trình vũ khí hạt nhân hay không. “Liệu [Iran] có nói, ‘Được rồi, đúng vậy, chúng tôi đã từng có chương trình vũ khí hạt nhân. Đây là về chương trình đó. Đây là nơi nó diễn ra.’ Và tất cả những lời nói dối mà họ đã duy trì trong nhiều năm về vấn đề này cần phải được giải quyết.” Trừ khi Iran sẵn sàng làm như vậy, nếu không thì họ không nghiêm túc. Họ cần phải “thú nhận sự thật,” ông nói.

Hiện tại, Albright lo ngại rằng “Iran đang thiết lập một quy trình để trì hoãn… và họ sẽ nhận ra rằng đã quá muộn để Trump quay trở lại chiến tranh.” Nhưng bất kể điều gì xảy ra tại bàn đàm phán, ông nói, “những gì đã đạt được [bằng hành động quân sự] là khá đáng kể trên mặt trận hạt nhân.”

Quan điểm cho rằng Iran mạnh hơn ngày nay là hoàn toàn sai lầm.

https://www.washingtonpost.com/opinions/2026/06/25/is-iran-stronger-now-nuclear-expert-what-war-accomplished/
 

NVV

 

 2026-06-25  

Đảng Dân chủ tại Quốc hội đang chơi trò "chiến tranh" với Iran. Điều đó sẽ phản tác dụng đối với họ.

(Norman Solomon, The Hill, 25/6/2026)

Những lời nói nhảm nhí đến từ nhiều đảng viên Đảng Dân chủ trong Quốc hội nhằm đáp lại sáng kiến ​​hòa bình của Tổng thống Trump với Iran là một ngạc nhiên chính trị đáng chú ý. Trong khi tuyên bố chính xác rằng Trump lẽ ra không nên bắt đầu cuộc chiến, họ vẫn thường xuyên lên án bản ghi nhớ đưa ra một quy trình để chấm dứt chiến tranh.

Thay vì ủng hộ các nỗ lực hòa bình có thể đưa Trung Đông hướng tới chính sách ngoại giao thực sự thay vì chiến tranh không ngừng nghỉ, Lãnh đạo đảng Dân chủ tại Thượng viện Chuck Schumer (D-N.Y.) đã chọn cách bắn tỉa theo đảng phái. Ông nhanh chóng chê bai bản ghi nhớ. Ông nói: “Thật tệ đến mức ngay cả những đảng viên Đảng Cộng hòa phải quỳ gối trước khi chỉ trích Trump cũng không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải nói rằng đây là một thỏa thuận tồi tệ như thế nào”.

Các đảng viên Đảng Dân chủ tại Thượng viện khác đã vượt lên dẫn đầu khi nhắm đến một loạt các bước hợp lý được nêu trong bản ghi nhớ.

Tố cáo cái mà ông gọi là “một thỏa thuận đáng hổ thẹn” và “đầu hàng vô điều kiện”, Thượng nghị sĩ Richard Blumenthal (D-Conn.) thề rằng “bất cứ điều gì như thỏa thuận này sẽ chết khi đến Thượng viện”. Không chịu thua kém trong việc tạt một gáo nước lạnh vào kịch bản hòa bình, Thượng nghị sĩ Cory Booker (D-N.J.) đã coi đó là “một món quà nguy hiểm”. Thượng nghị sĩ Adam Schiff (D-Calif.) nói rằng “thật khó để tưởng tượng một sự đầu hàng triệt để hơn”.

Ngay cả Thượng nghị sĩ Ed Markey (D-Mass.) - người có thành tích lâu năm ủng hộ hòa bình và giải trừ quân bị - cũng tham gia vào cuộc đua xuống đáy quân phiệt này. Ông nhanh chóng tuyên bố phản đối thẳng thừng thỏa thuận Iran đang nổi lên, viết trên Twitter: “Quốc hội phải xem xét và bác bỏ thỏa thuận này ngay lập tức”.

Markey đang phải đối mặt với thách thức cho chiếc ghế Thượng viện của mình trong cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ ở Massachusetts từ dân biểu Seth Moulton (D-Mass.), người đã tuyên bố rằng “thỏa thuận khủng khiếp” “về cơ bản là một tài liệu đầu hàng của Donald Trump trước nhà lãnh đạo tối cao của Iran”. Không chịu thua kém với lối hùng biện cường điệu, Dân biểu Jake Auchincloss (D-Mass.) đã mô tả bản ghi nhớ là “vụ an ninh quốc gia nhục nhã nhất kể từ khi người Anh đốt Tòa Bạch Ốc”.

Về phần mình, Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ đã ngay lập tức gửi đơn tố cáo thỏa thuận này là một “thỏa thuận” yếu đuối và không vững với Iran”. DNC đã tán thành việc trích dẫn một số thành viên theo đường lối cứng rắn của Đảng Cộng hòa, trên thực tế là có lý do chung với một số thành viên Quốc hội Đảng Cộng hòa diều hâu nhất. Một liên minh ngầm như vậy có thể bóp nghẹt nỗ lực hòa bình non trẻ ngay trong cái nôi của nó.

Khi các đảng viên Đảng Dân chủ cho rằng bản ghi nhớ có nghĩa là đầu hàng, họ đang đùa với lửa. Trump đã đột ngột chuyển hướng giữa các đề xuất hợp lý về đối thoại ngoại giao và khoa trương các mối đe dọa mới. Có vẻ thông minh khi nhử tổng thống bằng cách coi ông là người phục tùng Iran, nhưng khiến ông chứng minh điều ngược lại rõ ràng là họ vô trách nhiệm.

Tất cả những điều này là tin xấu đối với một thế giới đang bị bao vây bởi những tác động nghiệt ngã của chiến tranh, từ tàn sát và khủng hoảng người tị nạn đến giá năng lượng tăng vọt, gián đoạn thương mại và thiệt hại về môi trường. Đó cũng là một hoạt động chính trị tồi tệ đối với Đảng Dân chủ.

Nếu đảng Dân chủ bị coi là đang cố gắng làm chệch hướng thỏa thuận hòa bình của Trump, họ sẽ tạo điều kiện cho ông và Phó Tổng thống JD Vance miêu tả Đảng Dân chủ là đảng của chiến tranh, điều này khó có lợi cho triển vọng bầu cử. Cả hai cuộc tranh cử tổng thống thành công của Trump đều được hỗ trợ bởi sự bất mãn của cử tri với việc các nhà lãnh đạo Đảng Dân chủ ủng hộ chiến tranh.

Chiến dịch tranh cử năm 2016 của Hillary Clinton chống lại Trump đã bị cản trở bởi danh tiếng của bà là một chính trị gia “chưa bao giờ gặp phải một cuộc chiến mà bà không muốn những người Mỹ khác tham gia”. Một nghiên cứu sau bầu cử của Douglas Kriner tại Đại học Cornell và Francis Shen tại Đại học Minnesota đã tìm thấy “mối quan hệ quan trọng và có ý nghĩa giữa tỷ lệ hy sinh quân sự của một cộng đồng và sự ủng hộ của họ dành cho Trump”. Các giáo sư viết, “Mô hình thống kê của chúng tôi gợi ý rằng nếu ba bang quan trọng cho chiến thắng của Trump - Pennsylvania, Michigan và Wisconsin - có tỷ lệ thương vong thậm chí thấp hơn một chút, thì cả ba bang đó có thể chuyển từ màu đỏ sang màu xanh và đưa Hillary Clinton vào Tòa Bạch Ốc."

Lập trường ủng hộ chiến tranh của Đảng Dân chủ cũng gây tổn hại cho chiến dịch tranh cử năm 2024 của Kamala Harris. Vào giữa tháng 8 năm đó, những người thăm dò ý kiến ​​của YouGov đã công bố những phát hiện ở các bang xung đột quan trọng cho thấy rằng Harris sẽ giành được số phiếu bầu nhiều hơn gấp 5 lần số phiếu mà lẽ ra bà sẽ mất nếu bà kêu gọi cấm vận vũ khí đối với Israel trong khi cuộc chiến ở Gaza vẫn tiếp diễn. Cuộc bỏ phiếu sau bầu cử cũng cho kết quả tương tự.

Nhìn về phía trước, những nỗ lực nhằm hạ bệ đảng Cộng hòa rất có thể sẽ khiến đảng Dân chủ mất đi (luận cứ) đề xuất. Như vào năm 2016 và một lần nữa vào năm 2024, một người mang tiêu chuẩn được coi là ủng hộ chiến tranh chỉ là tấm vé khiến tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu giảm sút mà đảng cần từ cơ sở của mình.

Sự phản đối kịch liệt từ các nhà lãnh đạo Đảng Dân chủ chống lại con đường đã thống nhất hướng tới hòa bình này không phải là điềm báo tốt cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 hoặc cho cuộc đua tổng thống năm 2028. Đảng Dân chủ không nên biến mình thành một đảng chiến tranh.

https://thehill.com/opinion/international/5938456-democratic-leaders-criticize-iran-peace/

NVV

 

 2026-06-26  

Tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Trump tăng vọt trở lại khi giá dầu giảm mạnh.

(Shane Harris, Amac, 26/6/2026)

Một cuộc thăm dò mới cho thấy tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Donald Trump tăng vọt khi giá dầu giảm mạnh giữa lúc có tin về thỏa thuận ngừng bắn với Iran.

Một cuộc khảo sát 1.000 cử tri có khả năng đi bầu trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ được thực hiện từ ngày 17 đến 23 tháng 6 bởi công ty thăm dò dư luận McLaughlin & Associates cho thấy 50% số người được hỏi tán thành hiệu quả công việc của Trump, trong khi 46% không tán thành. Phần lớn những người cho biết họ biết các điều khoản của thỏa thuận ngừng bắn mà Trump đã công bố với Iran – 51% – cũng cho biết họ tán thành thỏa thuận này.

Điều quan trọng là, các yếu tố then chốt trong thỏa thuận ngừng bắn của Trump đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ cả hai đảng. 76% người được hỏi tán thành yêu cầu Iran “không bao giờ được chế tạo vũ khí hạt nhân, được hỗ trợ bởi các cuộc thanh tra của Mỹ và quốc tế để xác minh việc tuân thủ” – xương sống của thỏa thuận. Chỉ có 14% phản đối điều khoản đó.

75% số người được hỏi cũng cho biết họ tán thành các điều khoản của thỏa thuận ngừng bắn, trong đó yêu cầu Iran ngừng tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố quốc tế nhắm vào Israel và các quốc gia khác. Một lần nữa, sự ủng hộ này không phân biệt đảng phái.

Tuy nhiên, McLaughlin cũng phát hiện ra rằng sự ủng hộ đối với thỏa thuận ngừng bắn có mối tương quan chặt chẽ với nguồn tin tức mà người được hỏi tiếp nhận. Những cử tri chủ yếu dựa vào các phương tiện truyền thông cánh hữu ủng hộ thỏa thuận này với tỷ lệ 72% so với 17% không ủng hộ, trong khi những cử tri dựa vào các phương tiện truyền thông cánh tả phản đối với tỷ lệ 54% so với 35%. Những người không thường xuyên xem tin tức truyền hình cáp ủng hộ thỏa thuận này với tỷ lệ 42% so với 36% không ủng hộ.

Sự gia tăng mạnh mẽ tỷ lệ ủng hộ của ông Trump chắc chắn cũng liên quan đến giá dầu giảm khi thị trường lạc quan về việc chấm dứt xung đột ở Iran và việc mở cửa hoàn toàn eo biển Hormuz. Giá dầu đã giảm xuống chỉ còn dưới 70 đô la một thùng vào lúc 6 giờ sáng thứ Sáu, ngày 26 tháng 6, một ngày sau khi BBC đưa tin rằng giá dầu đã chạm mức thấp nhất kể từ trước khi xảy ra xung đột Iran. Giá dầu đạt đỉnh 112 đô la một thùng vào ngày 7 tháng 4 và ở mức 82 đô la một thùng vào ngày 2 tháng 6.

Giá xăng cũng đang giảm. Giá trung bình một gallon xăng thường vào sáng thứ Sáu là 3,90 đô la, giảm từ 4,49 đô la và gần bằng mức giá của một năm trước là 3,22 đô la.

Vẫn còn một vài trở ngại phía trước để kết thúc cuộc xung đột Iran và khôi phục hoàn toàn chuỗi cung ứng dầu mỏ toàn cầu. Mặc dù một số tàu hiện đang di chuyển qua eo biển Hormuz, các công ty vận tải biển cho biết tuyến đường thủy này còn lâu mới an toàn và các mối đe dọa vẫn còn hiện hữu. Thêm vào đó, các nhà lãnh đạo Iran đã nhiều lần đe dọa rút khỏi các cuộc đàm phán, nhưng ông Trump lại đưa họ trở lại bàn đàm phán bằng những lời đe dọa về các cuộc tấn công quân sự mới.

Nhưng cuộc thăm dò của McLaughlin cho thấy, mặc dù tỷ lệ ủng hộ của Trump gắn liền chặt chẽ với khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn ngăn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân – cũng như giá nhiên liệu – người dân Mỹ nói chung vẫn tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của tổng thống. Vài tuần tới sẽ là một thử thách quan trọng đối với sự ổn định mong manh đó.

https://amac.us/newsline/economy/president-trumps-approval-rating-roars-back-as-oil-prices-plummet/
 

NVV

 

 

 2026-06-26  

Trong khi nước Mỹ kỷ niệm 250 năm thành lập, phe tả gửi lời tiếc nuối.

(Hugo Gurdon , Washington Examoner, 26/6/2026)

Hình minh họa trang bìa của tạp chí New Yorker số ra ngày 11 tháng 5 có tựa đề “Đỏ, Trắng và Hơi Xanh”. Hình ảnh cho thấy George Washington trông ủ rũ. Hàm ông chống lên tay một cách buồn rầu trong tư thế u sầu, khuỷu tay tựa vào quầy bar; ông nhấp một ngụm martini buồn bã; một chiếc gạt tàn đầy tàn thuốc lá đang cháy âm ỉ trước mặt; trong miệng ông là một chiếc kèn giấy mà ông đã thổi một hơi hờ hững như một lời chúc mừng mỉa mai; ánh mắt ông thể hiện sự buồn bã và chán nản.

Vị lãnh đạo vĩ đại ấy không hài lòng với tình trạng của nước Mỹ khi bước vào cột mốc quan trọng năm nay. Họa sĩ minh họa của ông suy ngẫm rằng có lẽ vẫn còn chút an ủi khi “các thảm họa khí hậu vẫn còn tương đối hiếm hoi… bạn được tự do bày tỏ ý kiến ​​của mình, miễn là bạn giữ giọng nói nhỏ nhẹ và nhớ mình đang nói chuyện với ai… [và] nếu may mắn, cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ sẽ mang đến một tia hy vọng cho ngày Quốc khánh 4 tháng 7 lần thứ 251, và cả những năm tháng sau đó.”

Chúng ta được cho là phải hiểu rằng các vị Cha lập quốc tin vào những ảo tưởng cánh tả ngày nay về thảm họa khí hậu toàn cầu và chế độ chuyên chế ở Mỹ. Họ mong muốn đảng Dân chủ chiến thắng trong cuộc bầu cử tháng 11 và năm 2028. Họ than thở rằng Donald Trump đang làm tổng thống.

Ở bờ biển phía bên kia, tờ Seattle Times gần đây đã cố tình đăng một bài báo hoài nghi về việc liệu có phù hợp hay không khi cổ vũ cho đội tuyển Mỹ tại World Cup, trong bối cảnh sự tồi tệ của Trump. Điều này phản ánh quan điểm của phe cánh tả rằng họ phải chỉ trích đất nước mình và đồng thời phản đối bất cứ điều gì Trump làm để tránh ám chỉ rằng đất nước họ đang xuống dốc. Sự cần thiết này lấn át mọi cân nhắc khác.

Nam diễn viên Robert DeNiro, một hình mẫu điển hình của người theo chủ nghĩa tả khuynh ôn hòa và từng là một diễn viên xuất sắc vài thập kỷ trước, đã phát biểu tại một “nhóm” những người bất mãn ở New York và nói, “Đất nước chúng ta hiện không còn đáng yêu như trước nữa.” Ông đưa ra một loạt những lời phàn nàn nông cạn và đầy định kiến ​​về chiến tranh, hàng triệu người mất quyền được chăm sóc sức khỏe, và tiền bạc đổ vào “giai cấp Trump-Epstein”. Ông lên án các nhóm dân quân đeo mặt nạ, mà ông ám chỉ là các sĩ quan cảnh sát, đã bắn người dân và tra tấn hàng xóm. Ông than thở về “kẻ bạo chúa phân biệt chủng tộc, kỳ thị phụ nữ và bài ngoại” của nước Mỹ. Ông kêu lên, “Tôi muốn yêu đất nước mình một lần nữa. Tôi muốn lấy lại đất nước của mình.”

Tất cả những điều này có thể cho thấy sự bất mãn trong phe tả chỉ là hiện tượng tạm thời, đơn giản là do cán cân chính trị nghiêng về phía bất lợi cho đảng Dân chủ, đưa ông Trump trở lại Tòa Bạch Ốc và đảng Cộng hòa nắm quyền tại Quốc hội. Nhưng sẽ là một sai lầm nếu không nhận ra rằng sự tức giận và tinh thần đấu tranh của phe tả còn sâu xa hơn thế nhiều. Và nó cũng sẽ không được xoa dịu bởi một cuộc bầu cử có lợi cho họ. Thay vào đó, nó là một ma trận bất mãn từ trên xuống dưới — đúng vậy, chính trị hiện tại, nhưng cũng là một sự căm ghét dai dẳng, sâu sắc và chết người đối với chính nước Mỹ.

Khi ngày Quốc khánh 4 tháng 7 năm nay đến gần, những người cánh tả sẽ không chỉ từ chối ăn mừng đất nước của họ. Nhiều người trong số họ sẽ mong muốn điều xấu xảy ra. Họ hoặc cha mẹ họ có thể nằm trong số những người đã hân hoan với các lễ kỷ niệm 200 năm cách đây 50 năm, chẳng hạn như cảnh tượng đoàn thuyền khổng lồ gồm hàng ngàn chiếc thuyền neo đậu dưới ánh nắng mặt trời ở bến cảng thành phố New York.

Nhưng giờ đây họ sẽ không tham gia một sự kiện như vậy. Thay vào đó, nhiều người sẽ mang vẻ mặt khó chịu và căm hận vào ngày 4 tháng 7, và họ không chỉ quan tâm đến sự thay đổi chóng mặt của chính trị. Họ muốn một trái bóng phá hủy chỉ có một chiều và đập tan một cách dứt khoát nước Mỹ đã từng tồn tại trước đây.

Đảng Dân chủ ở New York vừa đề cử một người theo chủ nghĩa xã hội 32 tuổi tên là Darializa Avila Chevalier để đại diện cho họ tại Quốc hội. Cô là một người cải đạo sang đạo Hồi, thường đội khăn keffiyeh và từng đăng tải trên mạng xã hội rằng cô dùng quốc kỳ Mỹ làm khăn lau tay bẩn. Cô tóm tắt quan điểm chính trị của mình là “cuộc cách mạng phải tiếp tục”, đề cập đến “chủ nghĩa phát xít ăn sâu vào ý thức người Mỹ”, và tuyên bố “chúng tôi là người phương Tây đang chiến đấu để xóa sổ hoàn toàn nền văn minh phương Tây. Chúng tôi hoàn toàn đoàn kết với mọi phong trào giải phóng ở các nước đang phát triển. Cuộc nổi dậy của chúng tôi là một cuộc nổi dậy quốc tế.”

Đây không phải là suy nghĩ của người muốn nước Mỹ thịnh vượng thêm 250 năm nữa. Và Avila Chevalier, dĩ nhiên, không phải là trường hợp cá biệt. Bà là một trong ba người theo chủ nghĩa xã hội được Thị trưởng New York theo chủ nghĩa xã hội Zohran Mamdani ủng hộ, những người đã thắng vòng bầu cử sơ bộ vào ngày 23 tháng 6. Toàn bộ năng lượng của Đảng Dân chủ và cánh tả rộng lớn hơn đều tập trung vào những người cấp tiến này và những người cùng chí hướng với họ. Một số người đã có ghế trong Quốc hội, và sẽ có thêm nhiều người nữa sau cuộc bầu cử tháng 11.

Thật trớ trêu, khát vọng giành lại đất nước của DeNiro lại chính là ngôn ngữ của phong trào MAGA. Những người khao khát giành lại đất nước của mình lại chính là những người đã bầu chọn và tái bầu chọn Tổng thống Donald Trump.

Thật khó để dung hòa chương trình nghị sự của phe tả với bất kỳ mong muốn nào về việc khôi phục hay quay trở lại một nước Mỹ mà tất cả chúng ta đã biết và yêu mến. Rõ ràng, nó hướng tới việc biến nước Mỹ thành một thứ mà nó chưa từng là trước đây. Một bộ phận lớn và ngày càng tăng những người thuộc phe Dân chủ muốn có quyền tự do tuyệt đối – như thể quay về 'year zero'. Điều đó thể hiện rõ trong luận điệu của những người theo chủ nghĩa xã hội, nhưng cũng đã hiển hiện từ lâu trong chương trình nghị sự của toàn bộ Đảng Dân chủ.

Cả hai đều muốn bãi bỏ Cử tri đoàn và bầu tổng thống bằng đa số phiếu phổ thông. Điều này sẽ cho phép một vài tiểu bang đông dân cư do phe tả thống trị phớt lờ những lo ngại của đa số các tiểu bang bảo thủ hơn với dân số ít hơn. Chuyên chế của đa số là một ý tưởng của chủ nghĩa Mác - đó không phải là điều mà các nhà lập quốc đã nghĩ đến.

Đảng "hơi xanh" này cũng đã muốn từ nhiều năm nay bổ nhiệm thêm các thẩm phán dễ dãi vào Tòa án Tối cao, những người sẵn sàng bỏ qua các nguyên tắc kiểm soát và cân bằng của Hiến pháp và đóng dấu chấp thuận chương trình nghị sự của đảng Dân chủ.

Họ muốn Đặc khu Columbia và Puerto Rico trở thành tiểu bang, toan tính rằng điều này sẽ bổ sung thêm bốn ghế thường trực cho đảng Dân chủ tại Thượng viện, thiết lập thế độc quyền về chính sách và việc phê chuẩn hoặc bác bỏ các quan chức cấp cao và thẩm phán liên bang. Nói cách khác, phe tả muốn lách luật Hiến pháp. Làm thế nào họ có thể giành lại đất nước của mình bằng cách đó?

Nó muốn chấm dứt thủ tục filibuster tại Thượng viện, vốn yêu cầu 60 phiếu để thông qua hầu hết các dự luật. Ông Trump cũng mong muốn điều này. Nhưng chính các thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đang ngăn chặn hành động phá hoại hiến pháp này diễn ra.

Tất cả những điều này và hơn thế nữa cho thấy rằng điều mà phe tả tìm kiếm không phải là sự trở lại với tầm nhìn ban đầu về đất nước, trong đó sự thay đổi chỉ có thể thực hiện được với sự chấp thuận rộng rãi của công chúng và các nhân vật được bầu, và do đó đòi hỏi các chính trị gia sẵn sàng thỏa hiệp. Về mặt này, tầm nhìn ban đầu về đất nước mang tính bảo thủ theo định nghĩa. Cấu trúc hiến pháp của những người sáng lập được xây dựng cho sự ổn định và cho sự phát triển dần dần và được thúc đẩy bởi một điều gì đó gần như là sự đồng thuận. Điều này là trái ngược với quan điểm của phe tả, những người muốn cách mạng.

Đảng Dân chủ hiện nay thực chất là một đảng xã hội chủ nghĩa với sắc thái cực đoan ngày càng sâu sắc. Chủ nghĩa xã hội là một tín điều chính trị về sự bình đẳng cưỡng bức về kết quả chứ không phải bình đẳng trước Chúa và pháp luật. Nó hướng đến chính phủ lớn mạnh và sự kiểm soát từ trên xuống. Nó trái ngược với ý tưởng nền tảng của nước Mỹ, đó là tự do — “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Phe tả không chỉ tạm thời thất vọng mà còn hoàn toàn xa lánh nước Mỹ, không chỉ với chính phủ và các chính sách hiện tại mà còn với chính ý tưởng về quốc gia của chúng ta.

Đảng Dân chủ ngày nay hầu như không còn bất kỳ quan điểm ôn hòa hay trung dung nào. Phần lớn trong số họ thẳng thắn xuất phát từ sự căm ghét mang tính chất Mác-xít đối với những giá trị được trân trọng nhất của nước Mỹ. Gần như là một điều hiển nhiên khi nói rằng người dân tự do lựa chọn cách sống và tự quản lý cuộc đời mình, và họ lựa chọn những cách hoàn toàn trái ngược với cách mà phe tả muốn mọi việc được sắp xếp.

Đối với phe tả, nước Mỹ không phải là một thành phố rực rỡ trên đỉnh đồi, một ngọn đèn soi sáng cho các quốc gia và dân tộc khắp nơi, mà là một thế lực xấu xa không thể cứu vãn. Điều này đã được thể hiện rõ ràng trong cuốn sách giáo khoa lịch sử đầy dối trá, Dự án 1619, mặc dù ngày nay không còn được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông, nhưng vẫn thể hiện quan điểm phổ biến của phe tả rằng các lý tưởng truyền thống của Mỹ là đạo đức giả và quốc gia này được thành lập để nô dịch một nhóm thiểu số chủng tộc và thiết lập sự thống trị của người da trắng đối với tất cả các nhóm khác.

Vì phe tả xã hội chủ nghĩa muốn một nước Mỹ mới và hoàn toàn khác biệt, và vì những người theo chủ nghĩa xã hội đang nhanh chóng chiếm lĩnh Đảng Dân chủ, nên lực lượng kết hợp của họ tấn công mọi yếu tố của quốc gia và các giá trị truyền thống của nó.

Họ không còn tôn trọng hay bảo vệ tài sản, mà muốn kìm hãm sự giàu có của người khác bằng các loại thuế bổ sung, đặc biệt là thuế đánh vào các tỷ phú, những kẻ thù không đội trời chung của Thượng nghị sĩ Bernie Sanders (độc lập - tiểu bang Vermont), người được mệnh danh là cha đẻ của chủ nghĩa xã hội Mỹ.

Họ thậm chí không muốn nước Mỹ trở thành một quốc gia hoàn chỉnh, điều này giải thích cho những nỗ lực đạt đến đỉnh điểm dưới thời chính quyền Biden nhằm xóa bỏ biên giới quốc gia và mở cửa cho càng nhiều người từ các nền văn hóa khác càng tốt. Đảng Dân chủ và phe cánh tả bác bỏ nguyên tắc đạo đức của nền dân chủ rằng công dân phải có quyền quyết định ai được phép và ai không được phép đến sống cùng họ như những người hàng xóm.

Giờ đây, vào ngày kỷ niệm 250 năm thành lập quốc gia, phe cánh tả tin rằng người Mỹ phải chấp nhận những người lạ mà họ không muốn và những người, theo những lời lẽ sáo rỗng về đa văn hóa, được khuyến khích từ chối lối sống của chúng ta sau khi chính phủ tồi tệ ở Washington đã cho họ vào bằng cửa sau.

Đây không phải là mục tiêu của một phong trào yêu nước. Và không chỉ mục tiêu mà cả phương pháp của phe cánh tả cũng cho thấy sự độc ác và dối trá của họ. Họ đã xây dựng một mạng lưới tinh vi gồm các nhà tài trợ, tổ chức phi lợi nhuận và các ủy ban hành động chính trị nhằm thúc đẩy các tư tưởng tự do ở mọi cấp độ chính phủ và xã hội bằng những thủ đoạn và che giấu có chủ đích.

Nó chuyển tiền thông qua các mạng lưới đến các nhà hoạt động ở tuyến đầu, che giấu nguồn gốc của tiền. Hàng trăm triệu đô la được đổ vào các nhóm tạm thời được tạo ra để trông giống như các tổ chức cơ sở, một hình thức giả tạo của nền dân chủ phổ biến, nhưng trên thực tế là những kênh trung gian cho các nhà hoạt động giàu có, những người chuyển tiền của họ thông qua các trung gian như các nhóm phi lợi nhuận trong Mạng lưới Arabella, điều này có thể che giấu nguồn tài trợ thực sự của các nhóm bình phong.

Hãy lấy ví dụ về Quỹ Sixteen Thirty, một trong những nhóm tài trợ bí mật lớn nhất của cánh tả. Trước đây, nó là một phần của Mạng lưới Arabella, một mạng lưới khổng lồ các tổ chức phi lợi nhuận cánh tả. Theo hồ sơ thuế, năm 2024, quỹ này đã chi hơn 310 triệu đô la. Mạng lưới Arabella đã đổi tên thành Sunflower Services sau chiến thắng của Trump năm 2024, và Sunflower Services đã né tránh việc xác nhận liệu họ có mua lại Quỹ Sixteen Thirty hay không.

Các nhà tài trợ bao gồm tỷ phú người Thụy Sĩ Hansjorg Wyss, George Soros, Pierre Omidyar và Mark Zuckerberg, mỗi người đều đóng góp vào cơ sở hạ tầng trung gian của nhóm thông qua các quỹ từ thiện của họ, theo báo cáo Influence Watch của Capital Research Center. Nhóm này cũng nhận được nguồn tài trợ đáng kể từ các công đoàn giáo viên, công đoàn lao động và các nhóm cánh tả khác.

Một phần tiền trong năm 2024 đã được chuyển cho các ủy ban hành động chính trị truyền thống của đảng Dân chủ như Future Forward USA, vốn ban đầu là PAC của Joe Biden. Ủy ban này đã nhận được 3 triệu đô la trực tiếp từ Sixteen Thirty Fund vào năm 2024. Trong các trường hợp khác, Sixteen Thirty Fund tài trợ cho các nhóm cánh tả độc lập, chẳng hạn như Black Voters Matter Fund, đã nhận được khoản tài trợ 100.000 đô la vào năm 2024, và Sierra Club, đã nhận được 3,84 triệu đô la vào năm 2024 và đã đệ trình nhiều vụ kiện nhằm ngăn chặn việc phát triển các nguồn năng lượng của Mỹ.

Hoạt động chính của Sixteen Thirty Fund là "tài trợ tài chính" cho các nhóm tạm thời không cần phải đăng ký riêng với IRS (Cơ quan Thuế vụ Hoa Kỳ) với tư cách là các tổ chức phi lợi nhuận vì chúng nằm dưới sự bảo trợ của Sixteen Thirty Fund. Hiện có 104 "dự án" như vậy. Một trong số đó là Demand Justice, được thành lập năm 2018 dưới sự bảo trợ của Sixteen Thirty Fund để phản đối việc đề cử Brett Kavanaugh vào Tòa án Tối cao, trước khi đăng ký là một tổ chức phi lợi nhuận độc lập nhiều năm sau đó.

Một nhóm khác là New Jersey for a Better Future, một nhóm có tên nghe có vẻ địa phương nhưng thực chất không phải, được thành lập để chống lại việc cắt giảm thuế trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump. Những nhóm như vậy không tồn tại ngoài sự bảo trợ tài chính của Sixteen Thirty Fund, nhưng họ cố gắng tạo cho mình vẻ ngoài của các phong trào tự phát và do đó mang tính dân chủ. Michigan Families for Economic Prosperity và Secure Michigan Elections là hai nhóm khác có tên gọi độc lập được Sixteen Thirty Fund thành lập để thúc đẩy các ưu tiên tự do tại một tiểu bang tranh chấp.

Các tổ chức phi lợi nhuận khác thuộc mạng lưới Arabella trước đây bao gồm Quỹ Hopewell, Quỹ New Venture, Quỹ North và Quỹ Windward. Mỗi quỹ đều nhận tiền từ các nhà tài trợ lớn và chuyển hướng nó đến các mục tiêu cánh tả.

Quỹ Ford, giống như nhiều quỹ khác, được thành lập dựa trên sự giàu có được tạo ra bởi tinh thần kinh doanh thị trường tự do của Mỹ, đã biến thành nguồn tài trợ cho các mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Quỹ này tài trợ tiền cho các cuộc biểu tình bạo lực — ví dụ, 425.000 đô la vào tháng 5 năm 2025 cho tổ chức Make the Road New Jersey. Tổ chức này đã giúp tổ chức các cuộc biểu tình bạo lực bên ngoài trung tâm giam giữ người nhập cư Delaney Hall ở Newark. Make the Road New Jersey cũng điều phối các dịch vụ pháp lý do người đóng thuế tài trợ cho những người nhập cư bất hợp pháp đối mặt với việc trục xuất ở New Jersey, một nỗ lực tổng thể mà Thống đốc Mikie Sherill (Đảng Dân chủ - New Jersey) cũng đã cam kết 20 triệu đô la.

Quỹ Ford đã tài trợ 4,6 triệu đô la từ năm 2016 đến năm 2024 cho Liên minh Tầm nhìn Miền Nam (Southern Vision Alliance), một tổ chức hỗ trợ các nhóm tham gia vào bạo lực chính trị. Một trong số đó là Charlotte Uprising, nhóm đã châm ngòi cho các cuộc biểu tình hỗn loạn ở Bắc Carolina xung quanh Đại hội Đảng Cộng hòa năm 2020.

Quỹ Ford đã tài trợ 300.000 đô la cho tổ chức MPower của Linda Sarsour từ năm 2019 đến năm 2023, mặc dù họ đã xóa thông tin này khỏi trang web của mình. MPower tổ chức các cuộc biểu tình chống Israel và tham gia vào các hình thức hoạt động khác, chẳng hạn như gây bất ổn trong nội bộ Microsoft để buộc công ty này hủy bỏ các hợp đồng với chính phủ Israel.

Quỹ Ford đã tài trợ hơn 17 triệu đô la từ năm 2020 đến năm 2025 cho Trung tâm Dân chủ Nhân dân, tổ chức này, trong số những hoạt động khác, đã trả tiền cho những người xông vào văn phòng quốc hội. Quỹ cũng đã tài trợ 1,6 triệu đô la cho Dream Defenders, một tổ chức chuyên chặn đường giao thông.

Soros, một tỷ phú được giới cấp tiến yêu thích, đã quyên góp rất nhiều tiền cho những người mà mục đích rõ ràng không phải là khôi phục nước Mỹ mà là định hình lại nó thành một cái gì đó mới.

Một báo cáo năm 2025 của Trung tâm Nghiên cứu Thủ đô cho thấy mạng lưới từ thiện của Soros đã quyên góp hơn 80 triệu đô la cho các nhóm “có liên hệ với khủng bố hoặc bạo lực cực đoan”. Trong đó có 23 triệu đô la cho bảy nhóm “tham gia hoặc hỗ trợ vật chất cho bạo lực, phá hoại tài sản, phá hoại kinh tế, quấy rối và các hành vi phạm tội khác đáp ứng định nghĩa về khủng bố nội địa của FBI”.

Trong số đó có Trung tâm Tổ chức Thế giới Thứ ba (Center for Third World Organizing), nhận được 400.000 đô la. Trung tâm này đã hỗ trợ Ruckus Society, một tổ chức cung cấp đào tạo và hỗ trợ cho các hoạt động gây rối như chặn đường, chiếm đóng các tòa nhà và phá hoại tài sản. Tiền của Soros cũng được chuyển qua cùng kênh này đến BlackOUT Collective, một tổ chức hoạt động tích cực trong các cuộc bạo loạn George Floyd năm 2020.

Năm 2017, Soros đã rót vốn ban đầu cho Indivisible, nhóm đứng sau các cuộc biểu tình No Kings và các vụ hạ bệ Tesla. Ông làm điều đó thông qua Quỹ Tides, quỹ đã huy động được 33 triệu đô la cho phong trào Black Lives Matter trong bối cảnh bạo loạn sắc tộc năm 2020. Tides nhận tiền từ cùng các quỹ và cá nhân cánh tả như các nhà tài trợ lớn khác và chuyển hướng nó đến những mục đích không mấy tốt đẹp, chẳng hạn như Quỹ WESPAC cực kỳ chống Israel. WESPAC trước đây đã tài trợ cho Students for Justice in Palestine, tổ chức chính đã tổ chức các cuộc biểu tình chống Israel trong khuôn viên trường đại học, các cuộc chiếm đóng và đe dọa người Do Thái.

Từ tháng 8 năm 2015, hai công đoàn giáo viên lớn nhất, Liên đoàn Giáo viên Hoa Kỳ (AFT) và Hiệp hội Giáo dục Quốc gia (NEA), đã rót 660 triệu đô la vào các hoạt động cánh tả. Họ tài trợ cho các chi nhánh cấp tiểu bang và địa phương, những chi nhánh này đưa các ứng viên do công đoàn lựa chọn vào hội đồng nhà trường và điều chỉnh chương trình giảng dạy theo hướng tuyên truyền tư tưởng cực đoan. Tiền của công đoàn giáo viên được đổ vào mạng lưới "tiền đen" để cấp tài trợ cho các nhóm cơ sở giả mạo. Theo Defending Education, AFT và NEA đã tài trợ cho Sixteen Thirty Fund 4,4 triệu đô la từ năm 2015 đến năm 2026. Các công đoàn cũng đã tài trợ 500.000 đô la cho Hopewell Fund và 535.000 đô la cho New Venture Fund, những phần thuộc mạng lưới của Arabella chuyên chuyển tiền vào các nhóm cơ sở giả mạo.

Tiền từ cánh tả đổ vào các cuộc tranh cử chức vụ công tố viên địa phương bắt đầu từ giữa những năm 2010, giúp hàng chục công tố viên cấp tiến giành chiến thắng trong các cuộc tranh cử chi phí thấp và theo đuổi các chính sách khoan hồng với tội phạm. Điều này bắt đầu với Soros vào năm 2015: Ông tính toán rằng một cuộc cách mạng trong hệ thống tư pháp có thể đạt được hiệu quả hơn bằng cách tập trung vào các cuộc tranh cử địa phương ít được chú ý hơn là bằng cách đổ nhiều tiền hơn vào các cuộc tranh luận chính sách ở Washington.

Tính đến năm 2022, Soros đã chi 40 triệu đô la cho các cuộc tranh cử chức vụ công tố viên quận và bầu chọn ít nhất 75 công tố viên theo chủ nghĩa "công bằng xã hội", theo Quỹ Bảo vệ Pháp lý cho Cơ quan Thực thi Pháp luật. Các cuộc tranh cử chức vụ công tố viên quận thường có chi phí thấp, đó là lý do tại sao số tiền từ cánh tả lại mang lại hiệu quả cao đến vậy.

Larry Krasner ở Philadelphia là một công tố viên được Soros hậu thuẫn vẫn đang tại chức, mặc dù nhiều người đã bị cách chức giữa sự phẫn nộ của công chúng về cách làm việc của họ. Soros đã chi 1,45 triệu đô la để hỗ trợ Krasner vào năm 2017. Chỉ vài tuần sau khi nhậm chức, ông đã ngừng truy tố tội tàng trữ cần sa và mại dâm, đồng thời làm giảm nhẹ các cáo buộc đối với tội trộm cắp tại cửa hàng bán lẻ, mang súng không có giấy phép và tạo điều kiện buôn bán cần sa. Theo Heritage Foundation, tội trộm cắp ô tô, trộm đột nhập và giết người đều gia tăng dưới thời Krasner, bao gồm cả mức tăng 130% các vụ trộm đột nhập thương mại vào năm 2020.

Người ta có thể chỉ trích gay gắt những hành động xấu xa được tài trợ mạnh mẽ của phe tả cho đến tận cùng, nhưng tóm lại, những người trong chúng ta yêu mến và tôn vinh nước Mỹ, đặc biệt là vào thời điểm kỷ niệm 250 năm ngày thành lập kỳ diệu của đất nước, đang phải đối mặt với một kẻ thù không thể khuất phục, quyết tâm phá hủy hầu hết những ý tưởng đã mang lại cho đất nước sự thành công và khiến nó trở thành niềm mơ ước của cả thế giới.

Tờ Washington Examiner đã khởi động dự án Khôi phục nước Mỹ cách đây gần 5 năm, và thật vui mừng khi thấy một số thế lực văn hóa cánh tả đang thoái trào. Lòng yêu nước và thực hành tôn giáo đã hồi phục. Nhiều người đã rũ bỏ tấm màn tự ti bao phủ họ bởi những lời rao giảng về tội lỗi quốc gia và chủ nghĩa thượng đẳng da trắng của cánh tả. Lời buộc tội phân biệt chủng tộc, giống như việc hô hoán “sói đến”, đã mất đi sức mạnh của nó. Nhiều người nhận ra rằng đó chỉ là một cách để dập tắt cuộc thảo luận, nơi mà các giá trị truyền thống của Mỹ chiếm ưu thế về logic, lý trí và phẩm giá.

Bạo lực mà phe cánh tả đổ tiền và năng lượng vào chính là thước đo của sự tuyệt vọng. Sự thù địch vô bờ bến của họ đối với Trump không chỉ đơn thuần là do những khuyết điểm rõ ràng của ông ta mà còn do một số bản năng của ông, đặc biệt là lòng yêu nước, đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi trong dân chúng và cho phép người dân bình thường bác bỏ sự hăm dọa của phe cánh tả. Nước Mỹ đã nhận ra rằng, như người ta vẫn nói, "đứng về phía đúng của lịch sử" không phải là những người đối lập cực đoan của quốc gia.

Nhận thức này, kết hợp với sự cực đoan hóa ngày càng tăng trong phe tả, đang tạo ra những chia rẽ ngày càng sâu rộng trong quốc gia. Nước Mỹ đang bị chia rẽ sâu sắc. Và phe tả tiếp tục đạt được những thành quả trong chương trình nghị sự phá hoại của họ. Các trường học đang làm hại trẻ em hơn bao giờ hết. Tăng trưởng kinh tế và khả năng chi tiêu bị cản trở bởi thủ tục hành chính rườm rà và chi tiêu chính phủ quá mức. Cuộc khủng hoảng về khả năng chi tiêu, vốn là cơ sở vững chắc cho việc giảm bớt quy định và tăng cường tự do kinh tế, lại đang thúc đẩy sự ủng hộ đối với các phần tử cực tả và các giải pháp xã hội chủ nghĩa, điều chỉ làm cho tình hình thêm tồi tệ.

Vào dịp kỷ niệm 250 năm thành lập, nước Mỹ vẫn là quốc gia hùng mạnh và giàu có nhất thế giới. Có rất nhiều điều đáng để ăn mừng — du khách đến xem World Cup đều kinh ngạc trước sự thịnh vượng và sung túc, lòng hào phóng và sự thân thiện của đất nước chúng ta. Nhiều người nói rằng họ không muốn rời đi. Một số người nhận xét rằng chúng ta không biết mình may mắn đến mức nào.

Điều đó có phần đúng. Chúng ta có một quốc gia mà chúng ta nên biết ơn và nên nỗ lực bảo vệ. Nhưng chúng ta không thể phớt lờ một phong trào chính trị đang ngày càng lớn mạnh muốn phá hủy nó.

https://www.washingtonexaminer.com/opinion/4624208/america-250-left-sends-regrets/

Hugo Gurdon (@hgurdon) là giám đốc biên tập của tờ Washington Examiner. 

NVV

______________

 

TIN LIÊN QUAN

Theo thăm dò của Viện Gallup công bố ngày 30/6/2026:

Tỷ lệ người trưởng thành ở Mỹ cho biết họ “cực kỳ” (41%) hoặc “rất” (17%) tự hào là người Mỹ đã giảm xuống mức thấp kỷ lục, chỉ còn 58%, giảm 9 điểm phần trăm so với năm ngoái và thấp hơn 5 điểm so với mức thấp nhất trước đó vào năm 2020. Tỷ lệ 41% người “cực kỳ tự hào” không khác biệt đáng kể so với mức thấp trước đó là 38% vào năm 2022 và 39% vào năm 2023, cho thấy phần lớn sự thay đổi trong năm nay là do tỷ lệ người “rất tự hào” giảm.

Đảng Dân chủ là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm lòng tự hào dân tộc Mỹ năm nay, với chỉ 36% người được hỏi cho biết họ cực kỳ hoặc rất tự hào, giảm so với 62% của năm ngoái. Đây chỉ là lần thứ hai lòng tự hào của đảng viên Dân chủ giảm xuống dưới mức đa số, cùng với mức 42% vào năm 2020, năm cuối cùng của chính quyền Trump nhiệm kỳ đầu tiên. Cuộc thăm dò đó được thực hiện trong giai đoạn đầu của đại dịch COVID-19 và ngay sau vụ sát hại George Floyd bởi các sĩ quan cảnh sát Minneapolis.

Lòng tự hào của những người độc lập về chính trị cũng chạm đáy, với 53% bày tỏ sự tự hào sâu sắc, giảm 7 điểm phần trăm so với năm ngoái, mức thấp nhất trước đó của nhóm này. Lòng tự hào của những người độc lập đã giảm dần kể từ đầu những năm 2000, lần đầu tiên giảm xuống dưới 80% vào năm 2005, sau đó xuống dưới 70% vào năm 2019 và dưới 60% trong năm nay.

Mức độ tự hào dân tộc của đảng Cộng hòa luôn ổn định hơn, thường đạt trên 90%, bao gồm cả 92% trong năm nay, tăng từ 85% năm 2024. Chỉ có năm 2016 và các năm từ 2020 đến 2024 là có ít hơn 9/10 đảng viên Cộng hòa tự hào. Tất cả các năm đó, trừ năm 2020, đều là thời kỳ tổng thống thuộc đảng Dân chủ nắm quyền.

https://news.gallup.com/poll/692150/american-pride-slips-new-low.aspx


NVV 

 

 

 

 2026-06-18  

Iran có thể đánh mất hòa bình khi đòi thu phí eo biển

(Nate Swanson, Foreign Affairs, 18/6/2026)

Khi Hoa Kỳ và Israel phát động chiến tranh chống Iran vào cuối tháng Hai, chính quyền Tehran đang ở trong một vị thế yếu kém chưa từng có. Họ phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng kinh tế và môi trường nghiêm trọng, khả năng phòng thủ suy giảm, và tình trạng bất ổn nội bộ cũng như sự giám sát từ bên ngoài sau cuộc đàn áp tàn bạo hồi tháng Giêng đối với các cuộc biểu tình khiến hàng nghìn người dân của họ thiệt mạng. Nhưng sau 40 ngày chiến tranh và hai tháng ngừng bắn mong manh, Cộng hòa Hồi giáo đã nổi lên nguyên vẹn, mạnh mẽ hơn, và được trang bị một vũ khí răn đe mới dường như còn mạnh hơn tất cả các vũ khí mà đối thủ của họ đã phá hủy bằng các cuộc không kích: quyền kiểm soát eo biển Hormuz. Cuối tháng Tư, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio thừa nhận rằng eo biển này đã trở thành "vũ khí hạt nhân kinh tế" của Iran. Giờ đây, thế giới hiểu rằng nếu Iran bị tấn công, họ sẽ đóng cửa eo biển, làm gián đoạn thị trường năng lượng toàn cầu.

Nói một cách đơn giản, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã thua cả cuộc chiến và các cuộc đàm phán để chấm dứt nó. Nhưng nếu Tehran quá lạm dụng quyền lực, họ có thể đánh mất nền hòa bình sau đó. Bản ghi nhớ được ký kết giữa Iran và Hoa Kỳ hoãn việc giải quyết hầu hết các vấn đề khó khăn (bao gồm cả việc hạn chế chương trình hạt nhân của Iran) đến thời hạn đàm phán 60 ngày. Nhưng tình hình ở eo biển Hormuz sẽ khó giải quyết hơn nhiều so với dự đoán của nhiều người. Bản ghi nhớ sẽ đảm bảo việc đi lại an toàn của các tàu thương mại mà không mất phí trong 60 ngày trong khi Iran và, có lẽ, Hoa Kỳ tìm cách xác định chính quyền hậu chiến của eo biển. Nhưng dù có đạt được thỏa thuận cuối cùng hay không, Iran đã nói rõ rằng họ dự định áp đặt các hạn chế và phí mới đối với các tàu thương mại đi qua eo biển sau khi thời gian đàm phán kết thúc. Nhà đàm phán chính của Iran, Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf, đã thẳng thắn tuyên bố rằng “eo biển Hormuz sẽ không bao giờ trở lại tình trạng trước đây” và “tất nhiên, chúng tôi sẽ thu phí để đổi lấy các dịch vụ mà chúng tôi cung cấp”.

Có thể hiểu được tại sao một thỏa thuận như vậy lại hấp dẫn Iran. Quốc gia này đã chịu thiệt hại kinh tế to lớn trong chiến tranh, và họ rất muốn dập tắt bất kỳ quan niệm nào còn sót lại cho rằng họ yếu kém. Nhưng việc thúc ép duy trì hiện trạng mà không mở hoàn toàn eo biển Hormuz cho tất cả các hoạt động giao thông hàng hải mà không thu phí có nguy cơ làm suy yếu khả năng răn đe mới đạt được của Iran và làm tăng khả năng tái diễn xung đột. Điều này có thể làm đảo lộn vĩnh viễn hoạt động vận tải biển toàn cầu và, bằng cách đẩy nhanh nỗ lực của thế giới trong việc tìm kiếm các tuyến đường thay thế, làm giảm chi phí mà các đối thủ của Iran phải đối mặt khi phát động một cuộc chiến tranh trong tương lai. Do đó, eo biển Hormuz có thể trở thành tâm điểm của sự bất ổn hậu chiến. Và giống như việc Trump đã đánh giá quá cao lợi thế chiến lược của mình khi phát động chiến tranh, Tehran có thể sắp mắc phải sai lầm tương tự bây giờ khi chiến tranh đã kết thúc.

THỎA THUẬN HAY KHÔNG THỎA THUẬN


Bản ghi nhớ 14 điểm giữa Mỹ và Iran chính thức hóa các thỏa thuận ngừng bắn mong manh ở Iran và Lebanon, khẳng định rằng Iran sẽ không theo đuổi vũ khí hạt nhân, và cam kết rằng Hoa Kỳ sẽ ngay lập tức chấm dứt lệnh phong tỏa hải quân và ban hành các miễn trừ (waiver) của Bộ Tài chính, cho phép Iran bán dầu của mình. Bản báo cáo cũng nêu rõ các thông số của một thỏa thuận cuối cùng giả định, bao gồm việc dỡ bỏ hoàn toàn các lệnh trừng phạt để đổi lấy việc Iran giao nộp uranium được làm giàu cao và một thỏa thuận không xác định liên quan đến việc làm giàu uranium của Iran trong tương lai.

Mặc dù văn kiện đề cập đến việc nối lại hoạt động vận chuyển hàng hóa từ Vịnh Ba Tư đến Biển Oman, những nhượng bộ về hạt nhân từ phía Iran và việc nới lỏng trừng phạt, nhưng các chi tiết cụ thể vẫn chưa được xác định. Và những trở ngại đáng kể khiến cho việc đạt được thỏa thuận cuối cùng trong vòng 60 ngày – hoặc thậm chí là không bao giờ – trở nên khó xảy ra. Washington đã không thể hiện sự kiên nhẫn cần thiết để hoàn thành một thỏa thuận hạt nhân phức tạp, đòi hỏi các biện pháp giám sát và xác minh mới. Chế độ trừng phạt hiện tại của Hoa Kỳ đối với Iran, được thiết kế trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, được hình thành rõ ràng để ngăn chặn việc quay trở lại một thỏa thuận hạt nhân bằng cách sử dụng các chỉ định trừng phạt chồng chéo dưới nhiều thẩm quyền, cố tình tạo ra những phức tạp về pháp lý và hành chính. Sẽ cần sự sáng tạo để tháo gỡ điều này.

Các nhà lãnh đạo mới của Iran cũng có thể không muốn gì hơn một thỏa thuận nhỏ, mang tính giao dịch với Hoa Kỳ. Họ không tin tưởng vào cam kết của Trump đối với một thỏa thuận lớn, xét đến việc ông rút khỏi Kế hoạch Hành động Toàn diện chung (JCPOA) năm 2018, ba năm sau khi thỏa thuận được thành lập, và thực tế là Hoa Kỳ và Israel đã sát hại cha, mẹ, vợ và con trai của Lãnh tụ tối cao Mojtaba Khamenei. Các điều khoản trong bản ghi nhớ (MOU) có lợi cho Iran, nhưng khoảng cách giữa các điều kiện cuối cùng mà Tehran và Washington sẵn sàng chấp nhận có thể quá lớn đến mức một thỏa thuận toàn diện trở nên bất khả thi. Cuối cùng, Israel có thể sử dụng ảnh hưởng của mình để ngăn chặn hoặc làm suy yếu một thỏa thuận rộng hơn, đặc biệt nếu các điều khoản bất lợi cho họ như các báo cáo đã chỉ ra.

Nhưng điều đáng lo ngại nhất là tình trạng của eo biển Hormuz. Nếu sự hiểu biết về eo biển Hormuz không được củng cố, chiến tranh có thể dễ dàng tái diễn. Việc không thể khôi phục lại hiện trạng thông suốt trước chiến tranh của tuyến đường thủy quốc tế này là không thể chấp nhận được.

CHƠI VỚI LỬA

Iran sẽ không từ bỏ quyền kiểm soát mới giành được đối với eo biển Hormuz một cách dễ dàng. Vào tháng 5, Iran đã thiết lập một cơ chế mới, Cơ quan Quản lý Eo biển Vịnh Ba Tư (PGSA), để quản lý eo biển Hormuz. Trong quá trình này, Iran đơn phương tuyên bố kiểm soát một vùng biển mở rộng đáng kể (vùng biển này xâm phạm lãnh hải của Oman và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất), yêu cầu tàu thuyền phải xin phép trước khi đi qua eo biển, và cho biết các tàu quân sự không thân thiện không được phép đi qua đây. Iran cũng liên tục bày tỏ sự quan tâm mạnh mẽ đến việc khai thác thương mại từ eo biển.

Không điều kiện nào trong số này tồn tại trước khi chiến tranh bắt đầu. Ông Trump đã nhiều lần tuyên bố sẽ không cho phép Iran thu phí qua eo biển, nhưng các nhà lãnh đạo Iran đã nói với các phương tiện truyền thông và các đối tác nước ngoài rằng nước này dự định bắt đầu thu phí thông qua các khoản phí môi trường và dịch vụ sau thời gian đàm phán 60 ngày sau khi ký kết biên bản ghi nhớ. Iran đề xuất rằng PGSA (Cơ quan Quản lý An ninh Vùng biển) được quản lý chung với Oman, quốc gia cũng giáp eo biển. Hoa Kỳ gần đây đã trừng phạt PGSA vì mối liên hệ của nó với Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo. Tuy nhiên, thông qua biên bản ghi nhớ, về lâu dài, Washington có thể chấp thuận việc eo biển Hormuz về cơ bản do IRGC điều hành.

Nếu Iran áp đặt phí qua eo biển Hormuz, điều đó không chỉ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho vận tải biển toàn cầu mà còn phản tác dụng đối với Tehran. Các công ty Mỹ, châu Âu và các nước khác sẽ ngần ngại trả phí hoặc thậm chí phối hợp với một thực thể bị Washington trừng phạt. Nói rộng hơn, PGSA có liên hệ với IRGC, bản thân lực lượng này cũng bị Liên minh châu Âu, Úc, Canada và các quốc gia lớn khác trừng phạt. Ngay cả khi Oman tham gia PGSA và Hoa Kỳ cuối cùng chấp thuận một kế hoạch thu phí, một trong những điểm nghẽn hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới vẫn có thể chỉ dành cho mạng lưới tàu thuyền bất hợp pháp của Iran, được gọi là "hạm đội ma", và các tàu thuyền không bị ảnh hưởng bởi các lệnh trừng phạt của Mỹ và châu Âu. Đây là một kết cục không thể chấp nhận được đối với các quốc gia vùng Vịnh, cũng như phần lớn châu Á và châu Âu. Một nhà ngoại giao châu Âu gần đây nói với tôi rằng ông sẽ không ngần ngại liên hệ với Trung Quốc để gây áp lực lên Iran nhằm ngăn chặn việc thực hiện cơ chế như vậy.

Diễn biến này sẽ thúc đẩy nỗ lực của khu vực trong việc tìm kiếm các tuyến đường thay thế để tránh eo biển – một việc tốn thời gian và chi phí, nhưng cần thiết nếu eo biển không được mở hoàn toàn. Mặc dù chiến tranh đã cho thấy khó khăn trong việc tìm kiếm các tuyến đường thay thế, các quốc gia vùng Vịnh sẽ có động lực để phát triển cơ sở hạ tầng năng lượng mới nhằm tránh đi qua eo biển. Tương tự, sự phản đối của Iran đối với việc các tàu quân sự đi qua eo biển cũng không thể duy trì được. Hoa Kỳ và Pháp đều có các căn cứ hải quân lớn ở Vịnh Ba Tư chỉ có thể tiếp cận được qua eo biển và rất quan trọng đối với an ninh khu vực.

LƯỠI DAO EO BIỂN


Iran đối mặt với một lựa chọn khó khăn. Nước này có thể sử dụng eo biển Hormuz như một công cụ kiếm tiền hoặc như một sự đảm bảo an ninh. Nhưng có lẽ họ không thể làm cả hai. Giá trị răn đe của eo biển phụ thuộc hoàn toàn vào tính xác thực của mối đe dọa đóng cửa nó. Khoảnh khắc Iran cố gắng kiếm tiền từ việc đi lại hoặc cản trở dòng chảy thương mại tự do qua eo biển, điều đó sẽ làm suy yếu lập luận mạnh mẽ nhất chống lại chiến tranh: chi phí liên quan đến việc tấn công Iran. Và bằng cách thu phí, Iran sẽ cung cấp luận điểm cho một bộ phận lớn những người theo chủ nghĩa diều hâu chống Iran ở Hoa Kỳ và Israel, những người sẽ hoan nghênh sự trở lại của xung đột và coi việc Iran kiếm tiền và kiểm soát eo biển là một kết quả cuối cùng không thể chấp nhận được.

Eo biển Hormuz không phải là vấn đề duy nhất sẽ định hình Iran thời hậu chiến. Là một bên ký kết Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân, Iran phải tuân thủ các cam kết của mình và cho phép Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế tái thiết lập sự hiện diện để đảm bảo rằng họ không bí mật theo đuổi vũ khí hạt nhân. Iran phải bắt đầu xây dựng lại mối quan hệ với các nước láng giềng mà nước này đã nhắm mục tiêu một cách bất công trong cuộc chiến mà họ không hề mong muốn. Và Iran phải giải quyết những bất bình về chính trị, kinh tế và xã hội của người dân, nếu không sẽ đối mặt với tình trạng bất ổn hệ thống đã hoành hành đất nước trong 30 năm qua. Nếu chính quyền Tehran coi việc đánh bại Hoa Kỳ trong các cuộc đàm phán là một kết cục thắng lợi, họ sẽ mắc phải một sai lầm nghiêm trọng — sự thật là một bản ghi nhớ và thậm chí một thỏa thuận rộng hơn giữa Hoa Kỳ và Iran chỉ là những bước đi đầu tiên trên con đường đầy thách thức.

Sáu tháng trước, Israel và Hoa Kỳ đang ở trong một vị thế đáng ghen tị. Cho dù suy yếu đến đâu, Iran cũng sẽ không bao giờ hoàn toàn đầu hàng trước các yêu cầu của Trump, bao gồm cả việc phải giải tán hoàn toàn chương trình hạt nhân của mình. Nhưng nước này hoàn toàn có thể xem xét một thỏa thuận rộng hơn nhằm tránh chiến tranh và cung cấp sự giảm nhẹ trừng phạt rất cần thiết để đổi lấy những nhượng bộ đáng kể về chương trình hạt nhân và hành vi trong khu vực. Nhưng thay vì tận dụng những thành tựu quân sự của cuộc chiến 12 ngày vào tháng 6 năm 2025 để tạo ra những lợi ích chiến lược lâu dài, Hoa Kỳ và Israel đã liều lĩnh leo thang – và rơi vào tình thế tồi tệ hơn. Giờ đây, Iran đang đứng trước ngã ba đường tương tự; nước này tin rằng mình đã thắng trong cuộc chiến gần đây và có thể sẽ bị cám dỗ để tận dụng lợi thế đó. Nhưng điều này có thể dễ dàng khiến Iran tự gây bất lợi cho mình.

Hầu hết thế giới muốn eo biển Hormuz được mở cửa trở lại mà không thu phí. Nhưng việc giao thông hàng hải tự do lưu thông qua eo biển cũng nằm trong lợi ích của Tehran. Iran cần học hỏi từ lịch sử Hoa Kỳ và làm theo chỉ thị của Tổng thống Abraham Lincoln dành cho các tướng lĩnh của mình sau khi Liên minh miền Nam đầu hàng tại Appomattox: “Hãy để họ đi dễ dàng”. Nói cách khác: hãy chống lại cám dỗ đòi hỏi mức độ trừng phạt tối đa. Nếu sự tự tin thái quá của Iran dẫn đến việc nước này tìm cách trừng phạt Hoa Kỳ ở eo biển Hormuz, họ sẽ không thể thiết lập các điều khoản bền vững cần thiết để tối đa hóa cơ hội sống còn của mình. Khả năng phong tỏa eo biển là sự đảm bảo an ninh mạnh mẽ nhất mà Cộng hòa Hồi giáo Iran từng sở hữu – bền vững hơn, đáng tin cậy hơn và có thể sử dụng ngay lập tức hơn cả một vũ khí răn đe hạt nhân. Điều khôn ngoan nhất mà Tehran có thể làm lúc này là không sử dụng nó.

https://www.foreignaffairs.com/iran/iran-won-war-may-lose-peace

NVV
 

 2026-06-19  

Thỏa thuận hạt nhân Iran không chỉ liên hệ Iran: Nga, Trung Quốc và Triều Tiên đang theo dõi. 
Một sai lầm chiến lược


(Andrew Michta, 1945, 19/6/2026)

Bản ghi nhớ (MoU) vừa được hoàn tất giữa Hoa Kỳ và Iran nhằm đàm phán chấm dứt vĩnh viễn các cuộc xung đột bị hiểu lầm về chiến lược. Nó giả định rằng Iran có thể được xem như một vấn đề khu vực độc lập, nhưng trên thực tế, Iran là một thành viên chủ chốt của “Trục các chế độ độc tài” ngày càng phối hợp chặt chẽ, một liên minh trên thực tế gồm Nga, Trung Quốc, Iran và Triều Tiên. Do đó, bất kỳ sự nhượng bộ nào đối với Iran mà chính quyền Trump đưa ra khó có thể chỉ giới hạn ở Trung Đông; chúng sẽ ảnh hưởng đến Ukraine, sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc, quan hệ của Mỹ với các đồng minh châu Âu, Israel và các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh, cũng như trật tự toàn cầu đang nổi lên rộng lớn hơn.

Những người ủng hộ thỏa thuận lập luận rằng nó làm giảm nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn ở Trung Đông, mở lại hoạt động thương mại hàng hải qua eo biển Hormuz và tạo không gian cho các cuộc đàm phán trong tương lai về chương trình hạt nhân của Iran và các hoạt động khu vực.

Đây là những mục tiêu quan trọng, nhưng khả năng đạt được chúng hoặc Iran tuân thủ thỏa thuận như vậy là vô cùng nhỏ. Chiến lược tổng thể đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải nhìn xa hơn những lợi ích ngoại giao trước mắt và đánh giá tác động lâu dài của hành động của họ đối với cán cân quyền lực. Nói một cách đơn giản, theo tiêu chuẩn đó, bản ghi nhớ Mỹ-Iran làm suy yếu vị thế chiến lược của Hoa Kỳ và các đồng minh.

* Xem Iran như một vấn đề riêng biệt

Sai lầm chính trong cách tiếp cận của chính quyền Trump là coi Iran như một vấn đề riêng lẻ chứ không phải là một phần của hệ thống địa chính trị rộng lớn hơn. Sau Chiến tranh Lạnh, các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã quen với việc giải quyết các thách thức chủ yếu từ góc độ khu vực. Nga ngày càng được coi là vấn đề của châu Âu, Trung Quốc là mối quan ngại của châu Á, và Iran là vấn đề của Trung Đông .

Cách suy nghĩ này không còn phản ánh thực tế, vì hệ thống quốc tế đã bước vào một giai đoạn mới, được đánh dấu bằng sự bất ổn cấu trúc ngày càng gia tăng do sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các cường quốc theo chủ nghĩa xét lại nhằm hạn chế ảnh hưởng của Mỹ và định hình lại trật tự hiện tại.

* Trục các chế độ độc tài

Sự liên kết chiến lược ngày càng tăng giữa Nga, Trung Quốc, Iran và Triều Tiên là diễn biến địa chính trị quan trọng nhất của thế kỷ XXI. Mặc dù các quốc gia này không thành lập liên minh chính thức, nhưng họ hợp tác theo những cách giúp tăng cường khả năng thách thức phương Tây của nhau. Nga cung cấp chuyên môn quân sự và chiều sâu chiến lược. Trung Quốc cung cấp quy mô kinh tế, năng lực công nghiệp và nguồn lực công nghệ. Iran đóng góp nguồn năng lượng, vị trí địa lý thuận lợi, mạng lưới ủy nhiệm và khả năng quân sự đang mở rộng. Triều Tiên cung cấp nhân lực và vũ khí.

Cùng nhau, họ tạo thành một liên minh các quốc gia tuy liên kết lỏng lẻo nhưng ngày càng hiệu quả, cam kết lật đổ hoặc ít nhất là định hình lại sự phân bổ quyền lực hiện tại.

* Vì sao việc tăng cường sức mạnh cho Iran lại làm tăng cường sức mạnh cho khối?

Trong bối cảnh đó, việc tăng cường sức mạnh cho Iran như bản ghi nhớ này có thể mang lại không thể chỉ được nhìn nhận qua lăng kính Trung Đông. Bất kỳ thỏa thuận nào mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn tài chính của Iran, chẳng hạn như gói viện trợ tái thiết trị giá 300 tỷ đô la được đề xuất, đều giúp giảm bớt áp lực kinh tế bằng cách dỡ bỏ các lệnh trừng phạt, giải phóng các tài sản bị đóng băng và đẩy nhanh quá trình tái hội nhập của nước này vào thị trường toàn cầu.

Điều này đương nhiên sẽ tăng cường khả năng của một thành viên trong liên minh rộng lớn hơn này. Các quốc gia chuyển đổi nguồn lực kinh tế thành ảnh hưởng chính trị và sức mạnh quân sự; Iran cũng không ngoại lệ. Doanh thu bổ sung sẽ hỗ trợ quá trình hiện đại hóa quân sự của Iran, phát triển tên lửa và máy bay không người lái, năng lực mạng, các hoạt động tình báo, duy trì mạng lưới đối tác và lực lượng ủy nhiệm trong khu vực của Tehran, và cuối cùng là việc triển khai vũ khí hạt nhân.

* Mối liên hệ Ukraine

Những tác động của bản ghi nhớ này đối với cuộc chiến ở Ukraine là đặc biệt quan trọng. Kể từ khi Nga xâm lược, Iran đã trở thành một trong những đồng minh chiến lược chủ chốt của Moscow. Máy bay không người lái của Iran đã được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động quân sự của Nga, và sự hợp tác giữa hai nước đã phát triển nhanh chóng trong sản xuất công nghiệp quốc phòng, công nghệ tên lửa, chia sẻ thông tin tình báo và né tránh các lệnh trừng phạt.

Moscow và Tehran hiện duy trì mối quan hệ đối tác chiến lược vượt xa những giao dịch đơn thuần. Mối quan hệ này dự kiến ​​sẽ ngày càng bền chặt khi Iran tái thiết và mở rộng cơ sở công nghiệp quốc phòng cũng như tăng cường cung cấp cho Nga .

Bất kỳ chính sách nào tăng cường ảnh hưởng của Iran, như bản ghi nhớ này có khả năng thực hiện nếu được tiến hành đầy đủ, sẽ ngay lập tức tác động đến xung đột ở Đông Âu và áp lực của Nga lên NATO. Viện trợ kinh tế cho Tehran sẽ gián tiếp củng cố khả năng duy trì nỗ lực chiến tranh của Nga ở Ukraine. Các nguồn lực không còn cần thiết cho sự ổn định kinh tế của Iran có thể được chuyển hướng sang sản xuất quân sự và các liên minh chiến lược. Ngay cả khi không có các khoản chuyển giao trực tiếp, hiệu quả tổng thể là hỗ trợ mạng lưới rộng lớn hơn ủng hộ ảnh hưởng của Nga. Thêm vào đó, việc hiện đại hóa quân sự và mở rộng sản xuất vũ khí và đạn dược đang diễn ra của Nga, được Iran hỗ trợ, sẽ làm tăng áp lực lên sườn phía đông của NATO .

Điều này tạo ra một mâu thuẫn đáng lo ngại trong chiến lược của phương Tây. Hoa Kỳ và các đồng minh đã đầu tư nguồn lực chính trị và kinh tế đáng kể vào việc làm suy yếu khả năng chiến đấu của Nga chống lại Ukraine. Hơn nữa, bản ghi nhớ với Iran có nguy cơ củng cố một quốc gia đã trở thành trọng tâm trong chiến lược thời chiến của Moscow. Nói cách khác, nếu bản ghi nhớ này được thực hiện, nỗ lực thành công một phần của chính quyền Trump nhằm làm suy yếu một thành viên của liên minh xét lại sẽ dẫn đến việc củng cố một thành viên khác.

* Trung Quốc được lợi gì?

Hậu quả của bản ghi nhớ hợp tác Mỹ-Iran không chỉ giới hạn ở châu Âu. Trung Quốc sẽ hưởng lợi rất nhiều từ một Iran ổn định hơn về kinh tế. Bắc Kinh đã dành nhiều năm để xây dựng một kế hoạch dài hạn nhằm mở rộng ảnh hưởng của mình trên khắp lục địa Á-Âu đồng thời làm suy yếu sự hiện diện của Hoa Kỳ tại các khu vực trọng yếu. Iran đóng vai trò trung tâm trong kế hoạch này. Nước này nằm dọc theo các tuyến đường giao thông quan trọng kết nối Đông Á, Trung Á, Trung Đông và châu Âu. Iran là một nhà sản xuất năng lượng lớn và là đối tác ngày càng có giá trị trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm xây dựng các mạng lưới kinh tế và chính trị thay thế trên khắp lục địa Á-Âu.

Khi nền kinh tế Iran cải thiện, các công ty Trung Quốc có khả năng sẽ mở rộng sự tham gia của họ vào các lĩnh vực năng lượng, cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải và viễn thông của nước này. Những phát triển này sẽ làm sâu sắc thêm sự hiện diện của Trung Quốc tại một trong những khu vực chiến lược quan trọng nhất thế giới, đồng thời làm suy yếu hơn nữa ảnh hưởng của phương Tây. Trớ trêu thay, một thỏa thuận nhằm giảm bớt bất ổn ở Trung Đông lại có thể củng cố vị thế địa chính trị lâu dài của Trung Quốc trên khắp lục địa Á-Âu, tiềm ẩn nguy cơ gây ra nhiều bất ổn hơn. 

* Vấn đề về sự nhất quán chiến lược

Vấn đề rộng hơn là vấn đề về sự nhất quán chiến lược. Thách thức địa chính trị then chốt mà Hoa Kỳ phải đối mặt là duy trì sự cân bằng quyền lực khu vực để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng cục bộ leo thang thành một cuộc chiến tranh làm thay đổi hệ thống. Sự trỗi dậy của Trục các chế độ độc tài, một liên minh các cường quốc ngày càng gắn kết đang nỗ lực định hình lại trật tự quốc tế, đặt ra mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh của Hoa Kỳ. Thành công trong môi trường này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải hiểu được những diễn biến khu vực tác động đến an ninh toàn cầu như thế nào. Các quyết định ở Vịnh Ba Tư ảnh hưởng đến cán cân quyền lực của châu Âu.

Các sự kiện ở Ukraine ảnh hưởng đến tính toán chiến lược của Bắc Kinh. Tình hình an ninh xấu đi trên bán đảo Triều Tiên tác động đến động lực quyền lực nội bộ ở Thái Bình Dương. Quan hệ kinh tế ở lục địa Á-Âu định hình cạnh tranh quân sự ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Những khu vực cạnh tranh khác nhau này đang nhanh chóng trở nên liên kết chặt chẽ, nhưng chính quyền Trump dường như tin rằng – như bản ghi nhớ này minh họa – chúng có thể được tách rời, rằng Đại Tây Dương và Thái Bình Dương là hai chiến trường riêng biệt chứ không phải là một phần của cùng một vấn đề.

Đây là một sự đánh lạc hướng chính trị; cộng đồng quốc phòng và chính sách đối ngoại tuyên bố rằng việc "xoay trục" có thể được thực hiện trong khi vẫn giảm chi phí. Tuy nhiên, thực tế của địa chính trị là không gì có thể thay thế chi tiêu quốc phòng đầy đủ để duy trì khả năng răn đe, và các bên đối lập luôn có tiếng nói.

Từ góc nhìn này, bản ghi nhớ với Iran không phải là một bước đột phá ngoại giao mà là dấu hiệu của một vấn đề chiến lược lớn hơn. Nó phản ánh xu hướng phân chia các vấn đề vốn dĩ có mối liên hệ mật thiết với nhau. Bằng cách tập trung quá hẹp vào việc chấm dứt chiến tranh và giảm căng thẳng với Iran, các nhà hoạch định chính sách có nguy cơ bỏ qua những tác động tích lũy của hành động của họ đối với cán cân quyền lực rộng lớn hơn.

Lịch sử cho thấy trật tự quốc tế hiếm khi sụp đổ vì một sự kiện quyết định duy nhất. Thường thì, chúng suy yếu dần dần khi một loạt các quyết định tưởng chừng như riêng lẻ định hình lại các khu vực trọng yếu và chuyển dịch quyền lực theo hướng có lợi cho các thế lực mới nổi.

* Thử thách thực sự: Thập kỷ tiếp theo

Do đó, câu hỏi cốt lõi không phải là liệu bản ghi nhớ này có làm giảm căng thẳng ở Vịnh Ba Tư hiện nay hay không, mà là liệu thỏa thuận này sẽ củng cố hay làm suy yếu vị thế chiến lược của Hoa Kỳ và các đồng minh trong thập kỷ tới. Nếu kết quả cuối cùng là một Iran mạnh mẽ hơn, một nước Nga được hỗ trợ tốt hơn, một Triều Tiên hùng mạnh hơn và sự hiện diện của Trung Quốc ngày càng sâu rộng hơn trên khắp lục địa Á-Âu, thì thỏa thuận này thực chất lại đẩy nhanh chính những xu hướng địa chính trị mà nó hướng đến việc kiểm soát.

* Giải pháp ngắn hạn nhưng hậu quả dài hạn.


Thách thức lớn nhất của thời đại chúng ta là sự trở lại của chính trị quyền lực toàn cầu. Bất kỳ chính sách nào tăng cường nguồn lực, khả năng phục hồi và ảnh hưởng của một thành viên trong nhóm Nga-Trung Quốc-Iran-Triều Tiên đều phải được đánh giá dựa trên tác động của nó đối với toàn bộ liên minh .

Xét theo tiêu chí đó, bản ghi nhớ Iran là một sai lầm chiến lược: một giải pháp ngoại giao ngắn hạn nhưng thực chất lại dẫn đến sự mất cân bằng quyền lực toàn cầu về lâu dài .

https://www.19fortyfive.com/2026/06/the-iran-deal-doesnt-stop-at-iran-russia-china-and-north-korea-are-watching/

Andrew A. Michta là Giáo sư Nghiên cứu Chiến lược tại Trường Hamilton thuộc Đại học Florida, Nghiên cứu viên cao cấp không thường trú tại Hội đồng Đại Tây Dương ở Washington, DC, và Nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Viện Hoover thuộc Đại học Stanford.



NHẬN XÉT CỦA DỊCH GIẢ

Chính quyền Trump đương nhiên hiểu rõ mối liên kết giữa các quốc trong trục các quốc gia độc tài. Nhưng trong hiện trạng, ông Trump bất chấp. Nga đã kiệt quệ trong chiến tranh với Ukraine không giúp gì được cho Iran. Triều Tiên là một quốc gia nhỏ bé, sức lực không có bao nhiêu, lại ở xa. Triều Tiên đã giúp Nga phần nào trong chiến tranh Ukraine, nhưng chưa hề và sẽ không giúp gì được cho Iran. Trung quốc thì dĩ nhiên sẽ nhảy vào Iran thời hậu chiến, dù có quỹ tái thiết 300 tỉ USD hay không, họ sẽ vung tiền ra giúp Iran tái thiết, dùng sức mạnh mềm để nắm cổ Iran như họ đã làm ở một số quốc gia khác. Chỉ khi nào Iran có một chế độ dân chủ ngả theo phương tây mới ngăn cản được Trung quốc.

Điều quan trọng Trump phải làm ngay là mở cửa cho tự do hàng hải ở eo biển Hormuz, cứu vãn kinh tế thế giới và kinh tế Hoa Kỳ nhằm mục đích tối thượng là giúp đảng Cộng Hòa giữ vững thế đa số ở lưỡng viện quốc hội trong kỳ bầu cử tháng 11 sắp tới, nếu không thì phần lớn di sản của ông bị tiêu tan bởi đảng Dân Chủ.

Qua tháng 11, Trump sẽ tính sau. Cho nên đừng ai hy vọng vào thỏa thuận cuối cùng giữa Mỹ và Iran sẽ bền vững với những nhượng bộ của Hoa Kỳ.

Hiện nay qua các cuộc thăm dò, số ghế của đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ tại Thượng Viện và Hạ Viện là ngang ngửa, rất nguy hiểm cho Trump.

NVV

 

 2026-06-20  

Cuộc chiến tranh Iran có hiệu quả không?

(Vahid Beheshti, The Spectator, 20/6/2026)

Khi Donald Trump ký Biên bản ghi nhớ với Iran hồi đầu tuần này, dư luận lúc đó cho rằng đó là một thất bại thảm hại của chính sách đối ngoại Mỹ. Cuộc chiến bắt đầu bằng vụ ám sát đầy kịch tính Ayatollah Khamenei, nhưng kết thúc với việc Mỹ bị trói tay.

Nhưng những lời lẽ cường điệu này không phù hợp với thực tế bên trong Iran. Đằng sau những lời lẽ ồn ào, thì chế độ này, với năng lực hạt nhân và kho vũ khí tên lửa bị suy giảm nghiêm trọng, cũng đang ở trong một vị thế dễ bị tổn thương – có lẽ là yếu nhất trong 47 năm tồn tại. Bản thân tôi đã trốn khỏi chế độ này 28 năm trước và đã điều phối các cuộc biểu tình từ trong và ngoài nước, bao gồm cả những cuộc biểu tình đẫm máu nhất trong gần 5 thập kỷ lịch sử của chế độ này hồi đầu năm nay, khiến hàng chục nghìn người dân nước tôi bị tàn sát. Bất chấp những tuyên truyền không ngừng nghỉ của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), chế độ này đang trên bờ vực sụp đổ.

Cuộc chiến đã phơi bày những chia rẽ sâu sắc trong chính phủ. Trong khi bộ phận ít cực đoan hơn hiểu rằng họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận những yêu cầu do Mỹ đưa ra nếu muốn tồn tại, thì vẫn không thiếu những người kiên định với lý tưởng chiến đấu đến cùng. Điều này đã châm ngòi cho các cuộc biểu tình đường phố hàng đêm, mỗi bên đều cáo buộc bên kia phản bội và hành động như đặc vụ Mossad và Mỹ.

Một khía cạnh ít được khai thác của cuộc xung đột này là sự căng thẳng nội bộ trong chế độ và khả năng hai bên có thể chĩa vũ khí vào nhau. Hai phần tử cứng rắn khao khát quyền lực đang củng cố cơ sở quyền lực của mình và tham gia vào một cuộc chiến tranh thông tin khốc liệt: chỉ huy hiện tại của IRGC, Ahmad Vahidi, đối đầu với Mohammad Bagher-Ghalibaf, chủ tịch quốc hội Iran và là người đàm phán chính của chế độ.   

Điều gây bất ổn lớn nhất hiện nay là sự vắng mặt kéo dài của người được cho là Lãnh đạo tối cao mới, Mojtaba Khamenei, cháu trai của Ayatollah. Được biết, ông bị thương nặng trong các cuộc không kích mở màn cuộc chiến và kể từ đó không xuất hiện trước công chúng, và những tuyên bố được đưa ra nhân danh ông cần được xem xét hết sức thận trọng. Dù sao đi nữa, Mojtaba thiếu thẩm quyền của cha mình để hòa giải sự chia rẽ giữa các nhóm đối lập này.

Có thể thấy rõ chế độ đang lo lắng về sự tồn tại của mình. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo và cảnh sát đang tràn xuống đường phố. Các trạm kiểm soát mọc lên khắp nơi. Chế độ biết rằng khát vọng nổi dậy chưa bao giờ cao đến thế, vì vậy họ đang sử dụng những công cụ duy nhất còn lại: nỗi sợ hãi và bạo lực. Các vụ hành quyết đang được sử dụng để gieo rắc nỗi sợ hãi. Đây không phải là hành động của một chính phủ đang nắm quyền.

Với nền kinh tế bị tàn phá, lạm phát hoành hành và ước tính 70% dân số sống dưới mức nghèo khổ, tiếng kêu gọi thay đổi sẽ ngày càng lan rộng. Việc dỡ bỏ một số lệnh trừng phạt sẽ không giúp cải thiện tình hình này nhiều vì chế độ này có khả năng sẽ đổ tiền vào việc khôi phục năng lực quân sự của Iran và tái vũ trang các lực lượng ủy nhiệm của mình.

Nhiều người dân Iran bình thường phản đối thỏa thuận này. Họ muốn Mỹ tiếp tục làm suy yếu chế độ và tạo điều kiện thuận lợi để họ xuống đường lần cuối cùng. Họ vẫn tin tưởng – một niềm tin hợp lý – rằng lệnh ngừng bắn này là một phần của quá trình dài hạn hơn nhằm tạm thời kiểm soát giá năng lượng và giúp Mỹ tổ chức lễ kỷ niệm 250 năm thành lập và cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. 

Sau 47 năm chờ đợi để lật đổ chế độ tàn bạo này, người dân Iran coi sự tạm ngừng chiến lược này là cái giá nhỏ phải trả. Họ cảm thấy an ủi khi biết rằng chương trình tên lửa đạn đạo và hạt nhân của chế độ đã bị phá hủy hoàn toàn.

Dĩ nhiên, lịch sử đã chứng minh rằng khi chế độ này dễ bị tổn thương, nó sẽ phản công. Đó là lý do tại sao người dân nên theo dõi sát sao Lebanon và lực lượng khủng bố Hezbollah của nước này. Chúng đã tăng mạnh các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái tự sát nhằm vào Israel trong một nỗ lực có tính toán nhằm chỉ đích danh Israel là kẻ phá hoại. Israel có thể – và phải – bảo vệ lợi ích của mình. Đó là thực tế mới sau ngày 7 tháng 10. Hôm thứ Sáu, bốn binh sĩ Israel đã thiệt mạng do Hezbollah gây ra. Đã có những cuộc tấn công trả đũa.

Thật đau lòng khi dự đoán rằng sự thất bại kéo dài hàng thập kỷ của phương Tây trong việc giải quyết vấn đề Iran sẽ dẫn đến những cuộc đổ máu ngày càng tốn kém hơn trên khắp Trung Đông, nhưng chế độ của Ayatollah Khamenei giờ đây đã bị lật đổ. Cộng hòa Hồi giáo mà chúng ta đã biết trong 47 năm qua không còn tồn tại. Thay vào đó là một chế độ chia rẽ, đầy thù hận và biết rõ mình dễ bị tổn thương. Giống như tất cả các chế độ độc tài trước đó, cuối cùng nó sẽ sụp đổ. Cuộc chiến này đã khởi động cho sự kết thúc của nó.

https://spectator.com/article/did-the-iran-war-work/?edition=us&rcp=true

NVV

 

 2026-06-20    

Ban lãnh đạo mới của Iran sẽ rút ra bài học gì từ cuộc chiến kéo dài 110 ngày?

Giờ đây, cuộc chiến đã kết thúc, câu hỏi đặt ra là chính phủ Iran sẽ hành xử như thế nào. Những dấu hiệu ban đầu cho thấy họ sẽ gia tăng chủ nghĩa độc đoán và ưu tiên quan hệ với Trung Quốc.


(Patrick Wintour, The Guardian, 20/6/2026)
  


Những bài học tư tưởng cụ thể mà giới lãnh đạo mới của Iran rút ra từ cuộc chiến 110 ngày có thể là yếu tố quyết định liệu các cuộc đàm phán với Mỹ có dẫn đến một thỏa thuận ngăn chặn nước này phát triển vũ khí hạt nhân hay không – một kết quả có thể mở ra một kỷ nguyên mới cho nền kinh tế Iran đồng thời định hình lại khu vực Trung Đông.

Liệu đội ngũ lãnh đạo được tập hợp vội vã này, được tôi luyện trong lửa chiến tranh, vẫn đại diện cho một cuộc thập tự chinh tư tưởng Hồi giáo – một thuật ngữ do Henry Kissinger đặt ra – hay việc chấp nhận bản ghi nhớ, theo lời của JD Vance, thể hiện mong muốn hướng tới chủ nghĩa thực dụng?

Khoảng trống quyền lực do sự vắng mặt của nhà lãnh đạo tối cao Iran, Mojtaba Khamenei, khiến thời điểm này trở nên khá mơ hồ. Hôm thứ Năm, Khamenei đã công bố một bức thư nói rằng ông phản đối thỏa thuận về nguyên tắc nhưng đã nhường quyền quyết định cho tổng thống Masoud Pezeshkian, sau khi nhận được cam kết rằng nếu Mỹ đòi hỏi quá nhiều, ông sẽ không chấp nhận.

Khamenei nói rằng quyền lợi của đất nước và trục kháng chiến phải được bảo vệ. Giống như cha và người tiền nhiệm của mình, Ali Khamenei, ông đã đặt mình vào vị thế cao là có thể bảo đảm sự miễn trừ trách nhiệm nếu các chính trị gia được bầu bị tổn hại khi giao dịch với phương Tây.

Việc ông công khai phát biểu, ngay trước thềm cuộc đàm phán tại Thụy Sĩ (nay đã bị hủy bỏ), có thể sẽ ảnh hưởng đến cán cân của một cuộc tranh luận căng thẳng trong chính quyền Mỹ về bản chất của giới lãnh đạo trẻ mới của Iran.

Thứ Sáu tuần trước, Donald Trump dường như đứng về một phía khi ông cáo buộc giới lãnh đạo Iran là "những người rất vô liêm sỉ, không hành xử thiện chí".

Đánh giá đó dường như trùng khớp với quan điểm của John Ratcliffe, giám đốc CIA, người đã cảnh báo tổng thống rằng có một khoảng cách đáng kể giữa những lập trường được các quan chức Iran công khai và những gì họ nói riêng tư. “Tình báo cho thấy ý định của Iran không giống với những cam kết đã được đưa ra trong thỏa thuận”, Ratcliffe kết luận, một nguồn tin thân cận với các cuộc thảo luận nói với Axios.

Lời ám chỉ là giới lãnh đạo Iran hoặc sẽ trì hoãn thỏa thuận hạt nhân, hoặc tệ hơn, sẽ đi đến kết luận rằng họ phải bí mật chế tạo vũ khí vì eo biển Hormuz cuối cùng sẽ trở thành một tài sản không còn giá trị.

Ít người Iran nào phủ nhận rằng eo biển Manche đóng vai trò quyết định trong việc chứng minh rằng Mỹ không còn có thể đơn phương áp đặt trật tự toàn cầu nữa.

Payam Fazlinejad, một biên tập viên cứng rắn của tạp chí Naqd Andisheh, nói: “Lịch sử cũng đã cho nước Mỹ thấy rằng địa lý đôi khi quan trọng hơn công nghệ; một phần sức mạnh nằm ở vị trí địa lý, chứ không phải ở trang thiết bị quân sự hạng nặng. Iran đã hiểu rằng họ sở hữu sức mạnh răn đe lớn hơn cả vũ khí hạt nhân.”

Nhưng, giống như nhiều người khác, Fazlinejad kêu gọi giới lãnh đạo phá vỡ vòng luẩn quẩn không hồi kết của chiến tranh, đàm phán và biểu tình. “Đất nước không thể để xảy ra thêm một sai lầm nào nữa và phải khôi phục lại sự ổn định cho đất nước”, ông nói với Pezeshkian tại một cuộc họp của các biên tập viên truyền thông tuần này. Các chính trị gia có thể có những giải pháp khác nhau nhưng rõ ràng là công chúng khao khát sự trở lại bình thường.

Dựa trên những phát biểu của ông Trump tại hội nghị thượng đỉnh G7 ở Évian-les-Bains, có vẻ như ông đã hoàn toàn tin tưởng vào một phiên bản của bài phân tích này và kết quả là đã quyết định ủng hộ giới lãnh đạo Iran. Hôm thứ Ba, ông mô tả các nhà lãnh đạo nước này – nhóm thứ ba mà ông phải đàm phán – là “nhóm người lý trí nhất mà chúng tôi từng làm việc cùng… Họ không bị cực đoan hóa. Họ đang tìm cách giúp đỡ đất nước của mình.”

Nhóm của Trump thích nghĩ rằng trong vài tuần qua, họ đã được tiếp cận đặc quyền với các nhân vật cấp cao nhất ở Tehran theo cách chưa từng có đối với các chính trị gia Mỹ kể từ cuộc cách mạng năm 1979.

Ví dụ, Vance nói rằng Mỹ chưa bao giờ gần gũi với giới lãnh đạo Iran đến vậy. “Điều tuyệt vời nhất về những tiến bộ chúng ta đạt được trong vài tuần qua là bạn đang thấy những người trong hệ thống Iran – giới lãnh đạo cấp cao, thậm chí cả các quan chức IRGC – nói: 'Các bạn biết đấy, chúng tôi nhận ra cách chúng ta làm việc với Mỹ trong 47 năm qua là một sai lầm.'”

Ông nói rằng chính những người theo đường lối cứng rắn ở Tehran đang thổi phồng những lợi ích của thỏa thuận đối với Iran và hạ thấp những bất lợi của nó - một đánh giá trên thực tế có lẽ trái ngược với những gì đã xảy ra ở thủ đô trong hai tuần qua.

Trên thực tế, chính phe cứng rắn nhất, được gọi là Mặt trận Paydari và từ lâu đã phản đối việc hợp tác với phương Tây, đã chỉ trích gay gắt thỏa thuận này. Nhóm này, có liên hệ với cựu nhà đàm phán hạt nhân Saeed Jalili và có vị thế nổi bật trong quốc hội, đã mô tả thỏa thuận là một thảm họa và cho rằng việc chấm dứt phong tỏa ngay bây giờ là quá sớm.

Nhiều thành viên của tổ chức này đã xuất hiện tại các cuộc biểu tình đường phố và trên truyền hình để lên án nhóm đàm phán là sự phản bội đối với cuộc cách mạng và nhà lãnh đạo tối cao đã hy sinh. Anh trai của Jalili, Vahid, người điều hành phần lớn đài truyền hình nhà nước Irib, đã tạo diễn đàn cho những người chỉ trích thỏa thuận, điều này khiến Pezeshkian vô cùng thất vọng. Những người chỉ trích cho rằng Irib là phiên bản đảo ngược của Fox News, đàn áp các ý kiến ​​đa dạng.

Cuộc đấu tranh nội bộ về thỏa thuận này, ở một khía cạnh nào đó, là sự lặp lại những tranh luận mà Iran đã trải qua khi ký kết thỏa thuận hạt nhân năm 2015. Trưởng đoàn đàm phán, khi đó là Ngoại trưởng Javad Zarif, đã trở thành mục tiêu chỉ trích gay gắt trong nhiều năm, bị cáo buộc là ngây thơ khi đạt được thỏa thuận với "Kẻ ác lớn nhất" (Great Satan).

Khi Trump đơn phương rút khỏi thỏa thuận năm 2018, ông đã làm suy yếu nghiêm trọng phe phái coi việc Iran mở cửa thị trường phương Tây là điều thiết yếu. Kể từ đó, những người ủng hộ đàm phán đã phải vượt qua lập luận hợp lý rằng không thể tin tưởng Mỹ. Hiện tại, chính việc Trump không thể kiểm soát Israel ở Lebanon đang làm suy yếu các cuộc đàm phán ở Tehran.

Tuy nhiên, dường như dù có sự can thiệp của Khamenei, phe cứng rắn vẫn là những người phải rút lui. Những người ủng hộ thỏa thuận không chỉ thắng trong cuộc tranh luận mà còn thắng cả cuộc đấu tranh quyền lực. Mohammad Bagher Ghalibaf, người xây dựng sự đồng thuận theo khuynh hướng bảo thủ, vừa được tái đắc cử chức Chủ tịch Quốc hội Iran , có lẽ – cùng với Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) mà ông xuất thân – là người hưởng lợi nổi bật nhất từ ​​cuộc chiến này.

Ghalibaf tự tin đến mức đề nghị tổ chức một cuộc bỏ phiếu tại Hội đồng An ninh Quốc gia tối cao về việc có chấp nhận thỏa thuận hay không. Điều bất thường là các thành viên quân đội cũng được phép bỏ phiếu. Chỉ có một người phản đối, được cho là Jalili.

https://www.theguardian.com/world/2026/jun/20/what-lessons-will-irans-new-leadership-draw-from-the-110-day-war

NVV