Showing posts with label Universities. Show all posts
Showing posts with label Universities. Show all posts

 2025-09-21  

Phe cánh tả ở trường đại học Mỹ đầy lòng thù hận đến tận xương tủy 
Hệ tư tưởng của họ không phải về quản trị mà là về việc xúi giục các nhóm người khác nhau chống lại nhau.


(John Ellis, WSJ, 21/9/2025)

Sau vụ ám sát Charlie Kirk, người ta thường nói rằng những người có quan điểm chính trị khác nhau phải học cách bất đồng quan điểm một cách tôn trọng lẫn nhau. Một lời khuyên hợp lý - ngoại trừ việc nó không đề cập đến bản chất của sự thù hận chính trị trong các trường đại học, hay những gì nó đang gây ra cho chúng ta.

Nếu tất cả những gì liên quan chỉ là những khác biệt về học thuyết chính trị - chẳng hạn như thị trường tự do trái ngược với kế hoạch hóa tập trung - thì có lẽ chỉ cần nói rằng hai bên của cuộc tranh luận đó nên học cách khoan dung hơn với nhau. Nhưng nền chính trị đang thống trị các trường đại học lại là một thứ hoàn toàn khác.

Nó không bắt đầu từ những vấn đề quản trị truyền thống mà thay vào đó là việc xúi giục các nhóm người khác nhau chống lại nhau. Nó bắt đầu bằng việc xác định một nhóm người bị đối xử bất công và một nhóm khác là những kẻ làm sai - những người "bị áp bức" so với "kẻ áp bức".

Nhóm trước là vô tội và đáng khen ngợi, nhóm sau là xấu xa và sai trái. Ngược đãi những người bị áp bức đồng nghĩa với việc bên kia phải bị lên án, căm ghét, và phỉ báng. Những kẻ cấp tiến thống trị các trường đại học áp dụng mô hình của Karl Marx về nhóm bị áp bức chống lại nhóm áp bức, công nhân chống tư bản, nhưng họ cũng thêm vào những nhóm khác do chính họ tạo ra - chẳng hạn như người da màu bị "những kẻ da trắng thượng đẳng" áp bức và người đồng tính bị người dị tính áp bức. Những người bảo thủ độc ác đến mức đủ để bị gán mác phát xít và Quốc xã, điều này khiến họ trở thành một nhóm áp bức đáng bị căm ghét.

Trong kiểu chính trị này, thù hận không phải là vấn đề phong cách, việc đưa ra những lập luận quá gay gắt, hay việc bất cẩn xúc phạm những người có tư tưởng khác biệt. Không, những kẻ cấp tiến trong trường đại học biến thù hận thành một phần bản chất tư tưởng chính trị của họ. Thù hận là cốt lõi của tư tưởng đó.

Nếu bạn yêu cầu một kẻ cấp tiến trong trường đại học từ bỏ thù hận, nghĩa là yêu cầu kẻ đó từ bỏ khuôn khổ chính trị của mình, và điều đó tương đương với việc yêu cầu kể đó từ bỏ niềm tin và chủ nghĩa cấp tiến của mình. Bạn không thể yêu cầu những kẻ cấp tiến tìm kiếm điểm chung với những đối thủ trí thức khi toàn bộ mục đích tư tưởng chính trị của họ là chia rẽ mọi người.

Việc chính trị quốc gia của chúng ta trong những năm gần đây ngày càng trở nên chia rẽ và thù hận là điều thường thấy. Sự thù hận vốn là cốt lõi của chính trị trong các trường đại học phần lớn chịu trách nhiệm cho sự thay đổi đó. Đảng Dân chủ, đảng có mối liên hệ chặt chẽ hơn với chính trị trong trường đại học, giờ đây hiếm khi tham gia thảo luận về những khác biệt chính sách với phía bên kia. Họ chẳng buồn nói với Đảng Cộng hòa về những lựa chọn thay thế của họ, ngoài việc đóng cửa biên giới hay chấm dứt tội phạm ở các thành phố lớn. Thay vào đó, họ tập trung vào sự căm ghét Tổng thống Trump, phản đối bất cứ điều gì ông ta làm.

Các vụ ám sát dễ xảy ra hơn do chính trị thù hận đang dần lan rộng từ các trường đại học sang văn hóa quốc gia. Chúng ta có thể chịu đựng được bao lâu nữa một hệ thống giáo dục đại học đang đầu độc nước Mỹ? Khi nào chúng ta mới giành lại được các trường đại học từ tay những kẻ cực đoan phá hoại đang kiểm soát chúng?

https://www.wsj.com/opinion/americas-campus-left-is-hateful-to-its-core-eec348bf?st=pXT8XD
 

NVV dịch

 

 2025-04-24 

Harvard là tiền đồn Hồi giáo
Trong nhiều thập kỷ, trường đã nuôi dưỡng những người theo chủ nghĩa cánh tả bất mãn, và chủ nghĩa bài Do Thái đã đoàn kết họ trong một mục tiêu chung.


(Ruth R. Wisse, WSJ, 24/4/2025)

Tôi đã giảng dạy tại Harvard từ năm 1993 đến năm 2014, và tôi không nghĩ rằng những lời đe dọa của chính phủ liên bang sẽ có hiệu quả trong việc thay đổi văn hóa của trường đại học. Các nhà lãnh đạo của Harvard vẫn chưa hiểu được mối nguy hiểm mà văn hóa gây ra cho đất nước hoặc tại sao nó lại cần sự can thiệp.

Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những người theo chủ nghĩa Hồi giáo của al Qaeda đã tấn công Hoa Kỳ trong một nhiệm vụ tự sát sử dụng máy bay Mỹ làm công cụ hủy diệt của họ. Vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, những người theo chủ nghĩa Hồi giáo Hamas đã lợi dụng sự cởi mở của Israel bằng cách xâm lược đất nước này, thảm sát thường dân và bắt cóc những người khác. Những kẻ thánh chiến sử dụng những hình thức chiến tranh mới này để chống lại những người mà chúng không thể chinh phục bằng vũ lực. Điều khiến chúng tôi lo ngại ở đây là việc chúng chiếm giữ các trường học ưu tú của Hoa Kỳ làm tiền đồn.

Harvard đã bị liên lụy trực tiếp vào ngày 8 tháng 10 năm 2023, khi Ủy ban Đoàn kết Palestine của Sinh viên Đại học ban hành một tuyên bố được hơn 30 nhóm sinh viên tán thành, khẳng định rằng "chế độ Israel" "hoàn toàn chịu trách nhiệm cho mọi hành vi bạo lực đang diễn ra". Sinh viên vì Công lý ở Palestine (Students for Justice in Palestine - SJP) tuyên bố ngày 12 tháng 10 là "ngày phản kháng" và đã chuẩn bị "bộ công cụ" cho các trại tị nạn và biểu tình lan rộng ra ngoài khuôn viên trường. SJP ca ngợi "cuộc nổi dậy đoàn kết" và "cuộc phản kháng" và tuyên bố rằng sinh viên Palestine là "MỘT PHẦN của phong trào này, không phải chỉ đoàn kết với phong trào này". Năm 2001, không có nhóm hỗ trợ nào như vậy dành cho những người theo chủ nghĩa Hồi giáo tại Harvard.

Harvard là mục tiêu dễ bị xâm nhập của nước ngoài, đã phát triển mối quan hệ thù địch với chính phủ Hoa Kỳ và ngày càng trở nên thù địch với chính đất nước này. Những cựu chiến binh của phong trào phản chiến đã trục xuất Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Dự bị (Reserve Officers’ Training Corps) khỏi Harvard vào những năm 1970 và giữ quân đoàn này ngoài khuôn viên trường trong 40 năm. Khi ký ức về Việt Nam phai nhạt, việc quân đội loại trừ những người đồng tính công khai đã trở thành cái cớ cao thượng để loại trừ những người tuyển dụng—nhưng không phải là vì nguồn tài trợ của chính phủ. Chính sách chống chính phủ có chọn lọc này đã được phản ánh trong chương trình giảng dạy, vốn có cách tiếp cận ngày càng chỉ trích nước Mỹ và nền văn minh phương Tây.

Trong khi đó, luật dân quyền những năm 1960 cấm phân biệt đối xử đã không làm hài lòng những người tìm kiếm kết quả bình đẳng. Trường đại học đã phản ứng bằng cách ưu tiên tuyển dụng phụ nữ và người thiểu số. Điều đó đã nâng cao các nhóm khiếu nại và đưa Harvard vào phe "tiến bộ" của các nhà hoạt động. Với những trường hợp ngoại lệ hiếm hoi, sẽ không còn việc tuyển dụng những người bảo thủ hoặc giảng dạy những ý tưởng "phản động" của họ nữa.

Đến những năm 1990, các nhóm sinh viên da đen đã bảo trợ các diễn giả châu Phi và Hồi giáo, những người đã kích động chống lại người da trắng và người Do Thái. Năm 1992, Giáo sư Henry Louis Gates Jr. đã cảnh báo: "Đây là chủ nghĩa bài Do Thái từ trên xuống, được thiết kế và thúc đẩy bởi các nhà lãnh đạo có vẻ như đang nói lên sự phẫn nộ lớn hơn". Liên minh phản kháng này đã có thêm các nhóm Marxist, chống tư bản, chống thực dân và chống đế quốc. Các trại biểu tình Occupy Wall Street năm 2011 đã được phép đóng cửa Harvard Yard trong nhiều tháng.

Tất cả những người biểu tình này đều không có mục tiêu chung cho đến khi họ đoàn kết xung quanh mục tiêu thuận tiện nhất trong lịch sử văn minh dưới chiêu bài giải phóng người Palestine. Những sinh viên đã bị ngăn cản không được diễu hành vì đất nước của họ và được cảnh báo không được xúc phạm mọi nhóm thiểu số khác, đã chớp lấy cơ hội để tấn công một mục tiêu được chính trị chấp thuận.

Trong một lá thư gửi cộng đồng Harvard, Chủ tịch Alan Garber thừa nhận những lo ngại chính đáng về tình trạng bài Do Thái đang gia tăng và cam kết rằng Harvard sẽ tiếp tục đấu tranh chống lại "lòng căm thù" với sự cấp bách mà trường đòi hỏi và luật liên bang yêu cầu. Hồ sơ của Harvard cung cấp nhiều bằng chứng chống lại tuyên bố này. Các liên minh trong khuôn viên trường cho cuộc thánh chiến dựa vào các nhà quản lý tự do để thích ứng với cuộc tấn công của họ.

Nhiệm vụ chính trị hữu ích nhất trong nhiều nhiệm vụ chính trị của chủ nghĩa bài Do Thái—giống như chủ nghĩa bài Do Thái trước khi người Do Thái trở về quê hương—là xây dựng các liên minh phản kháng và đổ lỗi cho một quốc gia nhỏ với hình ảnh bị thổi phồng và chủ yếu là tiêu cực. Sự thù địch mạnh mẽ này đã đoàn kết liên minh toàn Ả Rập và Hồi giáo chống lại Israel kể từ năm 1948. Nó thúc đẩy liên minh đỏ-xanh tại Liên hợp quốc và gieo mầm cho các liên minh trong khuôn viên trường chống Israel, chống lại nước Mỹ về mọi mặt trừ tên gọi. Chỉ tấn công người Do Thái—bây giờ chỉ tấn công Israel—là chìa khóa để trở thành hệ tư tưởng phản dân chủ mạnh mẽ nhất thế giới.

Mục tiêu phá hủy Israel vẫn là trọng tâm của bản sắc Ả Rập và Hồi giáo và được Harvard nhận vào cùng với một số sinh viên và nhà đầu tư nước ngoài. Bộ Giáo dục báo cáo rằng trường đại học đã nhận được hơn 100 triệu đô la từ Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Ai Cập, Ả Rập Xê Út, Qatar và Bangladesh trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 10 năm 2024.

Vào năm 2007, tôi bắt đầu cảnh báo các hiệu trưởng và trưởng khoa kế tiếp rằng các tiêu chuẩn học thuật đang bị vi phạm do thay thế chương trình tuyên truyền chống Israel bằng một chương trình toàn diện tại Trung tâm Nghiên cứu Trung Đông. Họ thừa nhận vấn đề nhưng từ chối giải quyết. Miễn là các tổ chức khác nhận tiền của người Hồi giáo và phớt lờ cuộc chiến chống lại người Do Thái, tại sao Harvard lại phải thánh thiện hơn giáo hoàng?

Ngày 7 tháng 10, giống như Kristallnacht năm 1938, đã buộc một số người phải đối mặt với những gì họ đã cố gắng phớt lờ. Sinh viên và giảng viên ăn mừng những hành động tàn bạo chống lại Israel có thể đã gây ra những hành động đó, nếu có cơ hội. Một ủy ban của Liên minh Cựu sinh viên Do Thái Harvard mới đã điều tra "lòng căm thù" trong khuôn viên trường và thấy rằng nó "tệ hơn những gì chúng tôi dự đoán". Chủ nghĩa bài Do Thái về mặt ý thức hệ không những chỉ chi phối Trung tâm Nghiên cứu Trung Đông mà còn cả Trường Y tế Công cộng và Trường Thần học, và được xếp vào các khoa theo thứ tự bảng chữ cái từ nhân chủng học và Nghiên cứu người Mỹ gốc Phi đến Viện Quan hệ Quốc tế Weatherhead, và về mặt học thuật từ âm nhạc đến trường y. Harvard đã tiến hành một cuộc đánh giá tương tự chỉ dưới áp lực của Quốc hội.

Trường đại học đã thực hiện các bước để ngăn chặn tình trạng bất ổn trong khuôn viên trường—bằng cách hạn chế sự hiện diện của người Do Thái và Cơ đốc giáo. Bảo tàng Semitic, được Jacob Schiff thành lập vào năm 1907 để nêu cùng quan điểm như Hiệp định Abraham về nguồn gốc chung của ba tôn giáo, đã được đổi tên thành Bảo tàng Cận Đông Cổ đại. Dấu tích duy nhất về ý định của Schiff vẫn còn trên đá chạm khắc phía trên lối vào. Các dự án khảo cổ học ở Israel đã bị ngừng lại và các bộ sưu tập bảo tàng từng tập trung vào Kinh thánh và Jerusalem đã được tập trung lại vào các kim tự tháp. Trường Thần học Harvard đã tái cấu trúc chương trình giảng dạy của mình để phản ánh rằng trường không còn là một chủng viện Cơ đốc giáo hay Đơn vị giáo nữa mà là một chương trình nghiên cứu tôn giáo “đa nguyên”.

Đúng vào lúc di sản đáng tự hào của Harvard đáng lẽ phải được củng cố, thì các nghiên cứu về Kinh thánh lại bị hạ thấp, và các truyền thống của trường lại bị đặt vào thế phòng thủ—chống Cơ đốc giáo hơn cả Do Thái giáo. Hồi giáo đang trỗi dậy chống lại nước Mỹ đang suy tàn.

Harvard vẫn còn những người và chương trình tốt, và tôi biết ơn vì thời gian ở đó. Trong một thế giới lý tưởng, chính phủ sẽ không quản lý quá chặt chẽ các trường đại học. Nhưng nếu Harvard trốn tránh trách nhiệm củng cố nền tảng của nước Mỹ và để cho liên minh phản kháng lấy cảm hứng từ Hồi giáo chiếm đoạt, tại sao trường lại mong đợi bất kỳ sự hỗ trợ nào từ chính phủ?


https://www.wsj.com/opinion/harvard-is-an-islamist-outpost-fringe-leftist-views-eventually-united-by-antisemitism-42759e15?st=ts6WWL


NVV dịch


 

 2025-04-21 

Harvard xa lánh những người bảo thủ. Nó xứng đáng bị Trump cắt giảm kinh phí.

(Nicole Russell, USA TODAY, 21/4/2025)

Tổng thống Donald Trump đã leo thang cuộc chiến với trường đại học hàng đầu của Hoa Kỳ bằng cách đóng băng hàng tỷ đô la tiền trợ cấp liên bang và đe dọa thu hồi tư cách [được miễn] thuế phi lợi nhuận của Harvard. Chính quyền Trump thậm chí còn đe dọa sẽ chặn việc tuyển mộ sinh viên nước ngoài của trường đại học, những người là nguồn thu nhập béo bở cho các trường đại học trên khắp Hoa Kỳ.

Cuộc chiến của Trump với Harvard leo thang sau khi trường đại học này từ chối yêu cầu của chính quyền về việc thay đổi chính sách tuyển dụng và tuyển sinh để ưu tiên tuyển sinh và việc làm dựa trên năng lực thay vì nỗ lực thúc đẩy sự đa dạng, công bằng và hòa nhập.

Thật trớ trêu khi một trường đại học được thành lập cách đây gần 400 năm bởi những người Thanh giáo lại chìm sâu vào đầm lầy cấp tiến. Thậm chí còn trớ trêu hơn khi Trump, một sinh viên tốt nghiệp Ivy League, trở thành ngôi sao truyền hình thực tế và sau đó là tổng thống, lại là người ủng hộ các quyết định tuyển dụng và tuyển sinh dựa trên thành tích hơn là hệ tư tưởng tiến bộ.

Tuy nhiên, Trump đã làm được điều quan trọng khi cố gắng cải cách hệ thống giáo dục đại học vốn từ lâu đã loại trừ sinh viên và giảng viên bảo thủ trong khi thúc đẩy chương trình nghị sự cánh tả mà hầu hết người Mỹ đã phản đối.

Harvard, với khoản tài trợ hơn 50 tỷ đô la, đã nhận được hàng tỷ đô la tiền tài trợ của liên bang trong nhiều năm, bề ngoài là dành cho nghiên cứu. Nhưng vì tiền có thể dùng vào việc khác, nên những khoản tiền liên bang đó đã giúp các nhà quản lý và giảng viên rao giảng các hệ tư tưởng chống Mỹ và chống Israel .

Trump không sai khi sử dụng tiền thuế của người dân để buộc Harvard phải điều chỉnh lộ trình. Ông đã thách thức các nhà quản lý Harvard xem xét lại sự đa dạng về ý thức hệ của các nhà quản lý, giảng viên và sinh viên. Áp lực đó bắt nguồn từ mong muốn công bằng, không phải từ trò chơi quyền lực ngẫu nhiên.

Trong khi các nhà lãnh đạo Harvard tuyên bố coi trọng sự đa dạng, thì rõ ràng là những người bảo thủ không cần phải nộp đơn. Một cuộc khảo sát của Harvard Crimson năm 2022 cho thấy hơn 80% giảng viên của trường tự nhận mình là người theo chủ nghĩa tự do hoặc rất tự do, tăng  6% so với năm trước . Ít hơn 2% giảng viên cho biết họ là người bảo thủ; không có giảng viên nào tự nhận mình là người rất bảo thủ.

Sự chia rẽ về mặt ý thức hệ lớn đến mức tờ Harvard Crimson năm 2021 đã tuyên bố rằng những người bảo thủ là "loài có nguy cơ tuyệt chủng" trong khuôn viên trường.

* Tiền thuế của bạn giúp trợ cấp cho hệ tư tưởng của Harvard


Sẽ là một chuyện nếu trường đại học ưu tiên những người cấp tiến hơn những người bảo thủ trong việc tuyển dụng nếu trường không nhận được tiền của liên bang. Nhưng người nộp thuế Hoa Kỳ không nên bị buộc phải tài trợ cho một trường đại học nơi hàng chục triệu cử tri sẽ không được chào đón vì niềm tin chính trị của họ.

Những người theo chủ nghĩa tự do đang mô tả lời đe dọa của Trump về việc thu hồi tình trạng miễn thuế của Harvard là một sự lạm dụng quyền lực. Mặc dù tổng thống không nên cố gắng cai trị bằng sắc lệnh, nhưng có điều gì đó sâu xa hơn đang diễn ra ở đây.

Harvard cho phép những người biểu tình bài Do Thái khủng bố sinh viên Do Thái. Trường cũng đã loại trừ một số người Mỹ nói tiếng Anh vì quan điểm chính trị của họ. Và trường đã làm như vậy trong khi thu về hàng tỷ đô la từ chính phủ liên bang.

Trump không chống lại giáo dục đại học. Ông ấy thậm chí không chống lại Harvard. Ông ấy phản đối việc người nộp thuế tài trợ cho các trường đại học dạy cho thanh thiếu niên Mỹ ghét đất nước chúng ta và các giá trị phương Tây.


https://www.usatoday.com/story/opinion/columnist/2025/04/21/trump-harvard-federal-funding-freeze-dei/83138590007/
 

NVV

 

 2024-12-13 

Các trường Ivy League phải run sợ sự đề cử Harmeet K. Dhillon

(Fox News, 13/12/2024)

Tổng thống đắc cử Donald Trump đề cử Harmeet K. Dhillon làm người đứng đầu bộ phận dân quyền của Bộ Tư pháp khiến sinh viên Do Thái thở phào nhẹ nhõm khi các vụ việc bài Do Thái tiếp tục hoành hành tại các trường đại học trên khắp Hoa Kỳ

Trump đã công bố đề cử Dhillon cho vai trò này vào thứ Hai, ca ngợi bà là một chiến binh dân quyền đã tham gia vào các cuộc chiến pháp lý nổi bật để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, quyền tôn giáo và các vụ kiện phân biệt đối xử chống lại người thức tỉnh.

Nhưng chính quan điểm thẳng thắn của Dhillon chống lại các trường Ivy League vì thất bại trong việc chống lại nạn bài Do Thái đã khiến nhiều sinh viên hy vọng rằng họ sẽ sớm nhận được sự giúp đỡ.

Dhillon đã nhiều lần có lập trường cứng rắn chống lại chủ nghĩa bài Do Thái tại các trường đại học Hoa Kỳ. Vào tháng 4, Sahar Tarktak, một sinh viên Yale đến từ Long Island, đã viết trên X rằng cô đã phải nhập viện sau khi bị một đám đông chống Israel tấn công vì đi cùng người bạn Do Thái rõ ràng của cô trong khuôn viên trường.

Dhillon kêu gọi Tartak và những người khác có hành động pháp lý chống lại trường đại học và những kẻ tấn công cô.

"Kiện Yale. Kiện mọi trường đại học từ chối bảo vệ sinh viên vì lý do tôn giáo. Khiến họ phải hối hận về lựa chọn của mình", Dhillon trả lời trên X. "Cạn kiệt nguồn tài trợ của họ. Kiện từng người biểu tình và tổ chức bạo lực. Rút cạn tài khoản ngân hàng của họ. Thêm muối vào sự nghiệp của họ".

Trong một video riêng biệt lan truyền trực tuyến, Dhillon mô tả những người biểu tình chống Israel đang ngăn cản sinh viên Do Thái vào trường là "những kẻ khủng bố nhỏ".

Một trang web trên trang web của công ty luật Dhillon nêu rõ cam kết của công ty trong việc đại diện cho các nạn nhân của nạn bài Do Thái trong khuôn viên trường đại học như một phần trong sứ mệnh lớn hơn của họ là "bảo vệ quyền công dân và các nguyên tắc hiến pháp trên toàn quốc".

Tartak, hiện là sinh viên năm 3 tại Yale, đã ca ngợi việc Trump đề cử Dhillon, nói với Fox News Digital rằng cô và những sinh viên Do Thái khác vẫn đang phải vật lộn với những vụ việc bài Do Thái đáng lo ngại thường xuyên xảy ra trong khuôn viên trường.

"Vì trường đại học không thể hiện sự sáng suốt về mặt đạo đức và từ chối bảo vệ điều đúng đắn, nên môi trường tại Yale đã và sẽ tiếp tục không an toàn cho sinh viên Do Thái", bà nói. "Thật quan trọng và nhẹ nhõm khi có một người có tầm vóc và vai trò như bà không chỉ bảo vệ sinh viên Do Thái mà còn bảo vệ đất nước và nền văn minh của chúng ta. Tôi ước gì bà ấy không phải làm vậy".

Tartak cho biết việc Trump chọn Dhillon khiến Yale và các trường đại học khác "được chú ý" khi ông thực hiện lời thề trấn áp nạn bài Do Thái và bạo lực không được kiểm soát trong khuôn viên trường.

Shabbos Kestenbaum, sinh viên tốt nghiệp Đại học Harvard, hiện đang kiện trường đại học này với cáo buộc có thái độ bài Do Thái lan rộng và có hệ thống , cũng ca ngợi việc Trump lựa chọn Dhillon và cảnh báo, "Harvard nên rất, rất lo lắng".

"Đây là chủ đề nhất quán trong nhóm chuyển giao của Trump, cụ thể là những lời hứa đã đưa ra sẽ được thực hiện", ông nói với Fox News Digital. "Có một mệnh lệnh về mặt đạo đức và pháp lý đối với các tổ chức giáo dục đại học đã phản bội người nộp thuế Hoa Kỳ, phân biệt đối xử với sinh viên Do Thái và tạo điều kiện cho văn hóa nhồi sọ chính trị, cuối cùng phải chịu trách nhiệm".

Kestenbaum cho biết đây là "một bản cáo trạng đáng lên án đối với chính quyền hiện tại khi chúng tôi, những sinh viên Do Thái, đang đếm ngược đến ngày 20 tháng 1 để công lý cuối cùng được thực thi".

Cô sinh viên tốt nghiệp Harvard ca ngợi Dhillon là "người đi đầu, không chỉ trên mạng xã hội mà còn trong bối cảnh chính trị, khuếch đại tiếng nói của sinh viên Do Thái và khuyến khích họ chịu trách nhiệm với trường đại học của mình", cô nói với Fox News Digital rằng sinh viên trên khắp Hoa Kỳ "vô cùng nhẹ nhõm" khi biết tin cô được đề cử.

"Đến ngày 20 tháng 1, Harvard, Columbia, Yale và bất kỳ trường đại học nào khác không giải quyết triệt để tình trạng bài Do Thái trong khuôn viên trường đều phải gánh chịu hậu quả.

Chiến thắng của Trump đã khiến các trường cao đẳng và đại học phải cảnh giác cao độ sau khi ông tuyên bố sẽ thực hiện giáo dục đại học như một phần trong kế hoạch cải tổ hệ thống giáo dục Hoa Kỳ. Các trường đại học Hoa Kỳ đã bị giám sát chặt chẽ trong những tháng gần đây vì  phản ứng yếu kém của họ đối với chủ nghĩa bài Do Thái khi các cuộc biểu tình và trại tị nạn tràn vào các trường đại học trên toàn quốc trong bối cảnh cuộc chiến đang diễn ra ở Gaza. Nhiều trường đại học đã chọn cách nhìn theo hướng khác, thúc đẩy một cuộc di cư hàng loạt của các nhà tài trợ đã rút hàng triệu đô la tiền tài trợ và cắt đứt quan hệ với các vấn đề liên quan đến trường cũ của họ.

Trump đã nhiều lần nhắm vào các trường cao đẳng và đại học trong chiến dịch tranh cử, cam kết giải phóng nền giáo dục đại học tại Mỹ khỏi sự kìm kẹp của những người mà ông gọi là "Những kẻ điên cuồng theo chủ nghĩa Marx". Chương trình nghị sự của ông vào năm 2024 kêu gọi "trục xuất những kẻ cực đoan ủng hộ Hamas và làm cho các trường đại học của chúng ta trở nên an toàn và yêu nước trở lại". Trump cũng đã tuyên thệ sẽ chống lại "sự thức tỉnh" và văn hóa tiến bộ trong giáo dục, nhiều lần chỉ trích các sáng kiến ​​DEI mà ông tin là vô tình phân biệt đối xử.

Vào tháng 7, Trump cho biết ông sẽ đưa ra biện pháp phạt các trường học "lên tới toàn bộ số tiền tài trợ" nếu họ không chấm dứt các chương trình DEI có "hành vi phân biệt đối xử bất hợp pháp rõ ràng dưới chiêu bài công bằng". Ông cũng đe dọa sẽ cắt giảm tiền liên bang cho các trường học có vai trò trong kiểm duyệt trực tuyến như một phần trong kế hoạch "phá vỡ chế độ kiểm duyệt cánh tả".

Một sinh viên ở New York chia sẻ với Fox News Digital rằng việc ông chọn Dhillon cho nhiệm vụ này "chứng tỏ ông ấy đang hành động đúng lời nói".

Bà và tổng thống đắc cử phần lớn có cùng quan điểm về vấn đề này. Vào tháng 5, Dhillon đã đăng trên X, "Thật không thể tin được số lượng bác sĩ và luật sư tương lai hét lên 'từ sông ra biển' trong khi quấn khăn keffiyeh và kêu gọi giết chết Israel. Chẳng trách những bộ não mềm yếu này lại tiếp tục thúc đẩy hệ tư tưởng giới tính, đại từ nhân xưng, DEI. Nếu bạn không đứng về phía nào, bạn sẽ sa ngã vì bất cứ điều gì."

https://www.foxnews.com/media/ivy-league-schools-should-shaking-boots-trumps-latest-nominee-students-say

NVV

 2024-05-11 

Thượng viện đưa dự luật tước bỏ trợ cấp của liên bang cho các sinh viên ủng hộ Hamas

(Just The News, 11/5/2024)

Dự luật “cắt đứt trợ cấp liên bang dành cho những người trưởng thành đang vi phạm luật pháp của chúng ta, khơi dậy chủ nghĩa bài Do Thái và công khai ủng hộ những kẻ khủng bố” đã được đề xuất bởi một thượng nghị sĩ Bắc Carolina và tám đảng viên Đảng Cộng hòa khác.

Đạo luật No HAMAS - la chữ viết tắt của 'No Higher education Assistance for Mobs of Antisemitic and terrorist Sympathizing Students' - sẽ thu hồi hỗ trợ tài chính liên bang cho sinh viên đối với những sinh viên bị kết tội xâm phạm, bạo loạn hoặc làm hư hại tài sản trong khi phản đối tại một cơ sở giáo dục đại học. Những sinh viên bị kết án sẽ mất khả năng nhận bất kỳ khoản trợ cấp, khoản vay hoặc hỗ trợ việc làm nào của liên bang.

Thượng nghị sĩ đảng CH, Thom Tillis, người dẫn đầu việc giới thiệu đề nghị này cùng với 8 người khác, cho biết: “Đám đông sinh viên ủng hộ Hamas đã vi phạm luật pháp một cách trắng trợn, phá hủy tài sản trong khuôn viên trường và sử dụng bạo lực đối với các sinh viên cùng lớp và cơ quan thực thi pháp luật”. “Những người nộp thuế làm việc cực nhọc không cần phải tiếp tục trả học phí đại học cho những người vi phạm pháp luật bị kết án. Đạo luật No Hamas là đạo luật lương tri sẽ cắt viện trợ liên bang cho những người trưởng thành đang vi phạm luật pháp của chúng ta, gieo rắc chủ nghĩa bài Do Thái và công khai ủng hộ những kẻ khủng bố.”

Bộ trưởng Giáo dục Miguel Cardona xuất hiện hôm thứ Ba trước Ủy ban Giáo dục và Lực lượng lao động của Hạ viện. Ông đã được hỏi thẳng thắn bởi dân biểu Virginia Foxx, RN.C., chủ tịch ủy ban, liệu chương trình của chính quyền Biden chuyển việc trả món nợ đại học từ sinh viên sang người nộp thuế có nên bao gồm việc người nộp thuế trả tiền cho những sinh viên chống Do Thái và ngăn chặn người Do Thái hay không. học sinh khi đến lớp.

Cardona không đưa ra câu trả lời có hay không. Ông cho rằng những sinh viên vi phạm pháp luật và gây rối môi trường giáo dục phải chịu trách nhiệm; cho biết bộ của ông cam kết đảm bảo an toàn cho khuôn viên trường; và nói rằng ông lên án sự căm thù và bạo lực trong khuôn viên trường. Foxx chưa bao giờ được đồng ý sau ba lần hỏi thử.

Tạp chí An toàn Khuôn viên trường (Campus Safety Magazine), cơ quan đi đầu trong việc theo dõi các cuộc biểu tình do cuộc chiến giữa Israel và Hamas, hôm thứ Sáu đã liệt kê 88 khuôn viên trường bị ảnh hưởng . Các tình huống đã thu hút sự đưa tin đáng kể của giới truyền thông tại Đại học Columbia của Ivy League ở Thành phố New York, Nam Cal và UCLA ở Los Angeles, ở Oxford tại Ole Miss, tại Northwestern ở Evanston, Ill., và ở thủ đô của quốc gia tại Đại học George Washington. Trên khắp đất nước, đã xuất hiện bằng chứng cho thấy không phải tất cả những người biểu tình đều là sinh viên.

Các thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa khác cùng với Tillis bảo vệ Nghị quyết 4302 của Thượng viện là Thượng nghị sĩ Mike Crapo và Jim Risch của Idaho, Ted Cruz của Texas, Josh Hawley của Missouri, Steve Daines của Montana, Joni Ernst của Iowa, Marsha Blackburn của Tennessee và Pete Ricketts của Nebraska.


https://justthenews.com/nation/states/center-square/senate-proposal-strips-hamas-sympathizing-students-federal-aid


NVV lược dịch

 

 2024-05-03 

Có thể cứu các trường đại học hiện nay không?

(Victor Davis Hanson, RealClear Politics, 3/5/2024)

Nền giáo dục đại học ưu tú ở Mỹ - từ lâu đã được coi là ưu việt trên toàn cầu - đang phải đối mặt với một cơn bão lớn.

Ít người xin nhập học hơn, chi phí cao hơn, sinh viên nghèo hơn, tiêu chuẩn sụp đổ và đội ngũ giảng viên ngày càng bị chính trị hóa và tầm thường phản ánh sự sụp đổ của hệ thống đại học.

Đất nước này đang nhận thức được thực tế rằng bằng cử nhân không còn đồng nghĩa với việc sinh viên tốt nghiệp được đào tạo rộng rãi và có khả năng phân tích. Cũng như thường lệ, họ bị coi là được nuông chiều, phần lớn là thiếu hiểu biết và có quan điểm tùy tiện.

Không có gì ngạc nhiên khi các cuộc thăm dò cho thấy sự tôn trọng của công chúng đối với giáo dục đại học đang giảm sút nghiêm trọng và đặc biệt là sự thiếu tin tưởng ngày càng tăng đối với các giáo sư.

Mỗi năm, có rất ít sinh viên vào đại học. Mặc dù dân số Hoa Kỳ đã tăng thêm 40 triệu người so với 20 năm trước nhưng tỷ lệ sinh sản đã giảm trong hai thập kỷ với khoảng 500.000 ca sinh đẻ mỗi năm.

Trong khi đó, từ năm 1980 đến năm 2020, tiền phòng, tiền ăn và học phí đã tăng 170%.

Chi phí tăng vọt không thể giải thích chỉ bằng lạm phát, vì các trường đã giảm bớt gánh nặng giảng dạy cho giảng viên trong khi mở rộng đội ngũ hành chính. Tại Stanford, gần như có một nhân viên hoặc chức vụ hành chính cho mỗi sinh viên trong khuôn viên trường.

Đồng thời, để tranh giành số lượng sinh viên ngày càng thu hẹp, các trường cao đẳng bắt đầu cung cấp dịch vụ tư vấn tốn kém cho phụ huynh tại địa phương, ký túc xá và chỗ ở kiểu Club Med cũng như các hoạt động ngoại khóa.

Khi số lượng người xin ngập học ngày càng khan hiếm và chi phí tăng lên, các trường đại học bắt đầu cung cấp các gói hỗ trợ sinh viên toàn diện, phụ thuộc nhiều vào các khoản vay sinh viên được chính phủ trợ cấp. Khoản nợ chung của hơn 40 triệu sinh viên vay tiền là gần 2 nghìn tỷ USD.

Tệ hơn nữa, một loạt các chuyên ngành trị liệu và chuyên ngành phụ mới xuất hiện trong các ngành khoa học xã hội. Hầu hết các khóa học về giới tính/chủng tộc/môi trường này không nhấn mạnh vào các kỹ năng phân tích, toán học hoặc kỹ năng nói và viết. Những môn học này không gây ấn tượng với nhà tuyển dụng.

Việc tuyển dụng giảng viên ngày càng không dựa trên tài năng mà dựa trên các tiêu chí đa dạng/công bằng/hòa nhập. Những giảng viên mới được thuê đã tìm cách thể chế hóa DEI tự phục vụ và điều chỉnh lại giáo dục đại học để chuẩn bị cho một thế hệ mới tiếp tục duy trì các hệ tư tưởng cấp tiến.

Tại những trường ưu tú hơn, chỉ tiêu phân biệt chủng tộc đã hạn chế đáng kể số lượng sinh viên châu Á và da trắng. Nhưng dự án kỹ thuật xã hội phân biệt chủng tộc đó yêu cầu bỏ yêu cầu SAT và điểm trung bình cấp trung học.

Khi những sinh viên kém chuẩn bị tốt vào đại học, giảng viên hoặc tăng điểm (80% là A/A- hiện ở Yale), hạ thấp điều kiện dự khóa học của họ hoặc thêm các lớp dễ học mới. Làm khác đi trong khi cố gắng duy trì các tiêu chuẩn cũ đã khiến giảng viên phải chịu cáo buộc phân biệt chủng tộc và tệ hơn.

Một cách khác để giải quyết chi phí ngày càng tăng và ngày càng có ít sinh viên nghèo hơn là thu hút sinh viên nước ngoài. Họ trả toàn bộ chi phí học đại học, đặc biệt là những khoản trợ cấp hào phóng từ Trung Đông và Trung Quốc. Gần một triệu người nước ngoài, phần lớn đến từ các chế độ phi tự do, hiện đang ở đây với học bổng toàn phần.

Khi ở đây, nhiều người coi các quyền tự do mới có được của họ là lời mời tấn công nước Mỹ. Khi đến đây, họ thường lãng mạn hóa các chính phủ rất chuyên quyền và các giá trị phi tự do của quê hương mà dường như họ đã tìm cách trốn thoát bằng cách đến Mỹ.

Hầu hết sinh viên nước ngoài cho rằng họ được miễn trừ hậu quả của việc vi phạm các nội quy hoặc luật pháp của trường nói chung. Rốt cuộc, họ phải trả toàn bộ chi phí giáo dục của mình và do đó trợ cấp một phần cho những người không trả.

Gần một nửa số người đăng ký học đại học không bao giờ tốt nghiệp. Trung bình, những người làm được điều đó cần sáu năm để tốt nghiệp.

Tất cả những thực tế này giải thích tại sao thanh thiếu niên ngày càng lựa chọn các trường thương mại, giáo dục nghề nghiệp và cao đẳng cộng đồng. Họ thích tham gia vào lực lượng lao động hầu như không mắc nợ và đáp ứng nhu cầu với tư cách là những người thợ có tay nghề cao, được săn đón.

Hầu hết đều cảm thấy rằng nếu chương trình giáo dục phổ thông cũ đã bị phá hủy tại các trường đại học bị vũ khí hóa, thì việc bỏ qua bằng cử nhân truyền thống cũng không có thiệt hại gì lớn. Bạn có thể tìm thấy nhiều lựa chọn tốt hơn về các lớp học có nhu cầu cao và được dạy tốt trên mạng với chi phí thấp hơn.

Kết quả là một thảm họa cho cả giáo dục đại học và là lời cảnh tỉnh cho đất nước nói chung.

Toàn bộ các thế hệ hiện đang phải chịu đựng thời niên thiếu kéo dài khi họ phải học đại học ở độ tuổi đầu và giữa các tuổi hai mươi. Kết quả đáng tiếc cho đất nước là sự chậm trễ triệt để trong việc kết hôn, sinh con và sở hữu nhà - tất cả những chất xúc tác lâu dài cho tuổi trưởng thành và những trách nhiệm đi kèm với nó.

Đội ngũ giảng viên bị chính trị hóa, sinh viên ấu trĩ và các tầng lớp tầm thường đã kết hợp lại để làm xói mòn uy tín của bằng đại học, ngay cả những trường đại học ưu tú. Bằng cấp của Columbia không còn bảo đảm cho sự trưởng thành hay kiến ​​thức ưu việt mà có thể là lời cảnh báo cho các nhà tuyển dụng về một sinh viên mới tốt nghiệp ồn ào, có trình độ học vấn thấp, sẵn sàng phàn nàn với Phòng Nhân sự hơn là nâng cao năng suất của công ty. Tuy nhiên, điều đó có thể không phải đáng tiếc đến nỗi phần lớn giáo dục đại học đang đi theo con đường của các trung tâm thương mại, rạp chiếu phim và đĩa CD. Đất nước cần nhiều lao động thể chất có tay nghề cao hơn và bớt đi thời niên thiếu với nợ nần kéo dài.

Các khóa học STEM, trường chuyên nghiệp và cơ sở truyền thống tránh được sự tầm thường và sẽ tồn tại. Mặt khác, thêm hàng triệu người bắt đầu trưởng thành ở tuổi 18 mà không mắc nợ và ít vướng mắc, thiếu hiểu biết và được hưởng quyền lợi ở tuổi 25 không phải là điều xấu đối với đất nước.


https://www.realclearpolitics.com/articles/2024/05/03/can_the_current_universities_be_saved_150884.html

Victor Davis Hanson là thành viên cấp cao của Martin và Illie Anderson tại Viện Hoover và là tác giả gần đây nhất của cuốn "Vụ án của Trump" (The Case for Trump).


NVV dịch



 

 2024-04-30 

Các trường đại học luôn cực đoan

(Daniel Greenfield, Gatestone Institute, 30/4/2024)

Tiếng reo hò "Sieg Heil" [Chào chiến thắng] của Đức Quốc xã không bắt đầu ở Munich mà ở Massachusetts.

Bài ca của Đức Quốc xã được mượn từ tiếng cổ vũ bóng đá của Harvard và được du nhập vào Đức bởi Ernst "Putzy" Hanfstaengl, một người đàn ông Harvard có danh tiếng tốt, người đã kết bạn với Hitler và giúp xây dựng một thương hiệu đáng kính hơn cho những người theo chủ nghĩa Xã hội Quốc gia.

"Putzy" là một trong số những thành viên ưu tú của Ivy League bị Đệ Tam Đế chế [của Hitler] mê hoặc.

Chủ nghĩa xã hội được thực hiện một cách mạnh mẽ bởi những vĩ nhân, cho dù đó là FDR, Mussolini, Stalin hay Hitler, là nỗi ám ảnh lớn của giới tinh hoa Mỹ thời đó, những người tin chắc rằng đó là câu trả lời duy nhất cho sự hỗn loạn của chủ nghĩa tư bản và sự nặng nề vội vã của dân chủ và công nghệ .

Đại học Columbia, nơi mà sự chiếm đóng của Hamas tràn ngập trang nhất của mọi tờ báo trong nước trong khi xua đuổi sinh viên Do Thái ra khỏi khuôn viên trường, đã có rất ít thay đổi về một số mặt. Một trăm năm trước, Chủ tịch Đại học Columbia Nicholas Murray Butler đã nỗ lực không nhận các sinh viên Do Thái trong khi tôn vinh chủ nghĩa phát xít của Mussolini. Sự ngưỡng mộ của Butler đối với chủ nghĩa phát xít là phổ biến trong các hiệu trưởng trường đại học, các nhà lãnh đạo xã hội và thậm chí cả trong chính quyền FDR.

Không chỉ những lời cổ vũ bóng đá được nêu trở lại, mà thuyết ưu sinh [chủng tộc ưu tú], một nỗi ám ảnh khác của giới tinh hoa Ivy League, đã lan đến Đức, nơi nó được thực hiện theo một cách còn nguy hiểm hơn nhiều, không chỉ chống lại người Do Thái mà còn chống lại người khuyết tật Đức và những người khác được coi là "cuộc sống không xứng đáng", theo hệ tư tưởng mà những người ủng hộ bao gồm Margaret Sanger, người sáng lập Planned Parenthood.

Việc bóc tách các lớp hệ tư tưởng thống trị mà Ivy Leaguers nắm giữ ngày nay sẽ dẫn đến các hệ tư tưởng Xã hội Chủ nghĩa Quốc gia hoặc Cộng sản. Giới tinh hoa của Ivy League, những người theo chủ nghĩa môi trường, xã hội chủ nghĩa, toàn cầu hóa và ủng hộ kiểm soát dân số cách đây một thế kỷ, đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những hệ tư tưởng toàn trị vốn kêu gọi sự chuyên chế và giết người hàng loạt.

Lúc đó họ không phải là những người theo chủ nghĩa tự do và bây giờ họ cũng không phải là những người theo chủ nghĩa tự do.

Một thế kỷ trước họ tin rằng con người được xác định bởi chủng tộc và bây giờ họ vẫn tin như vậy. Một thế kỷ trước, họ tin rằng loài người sẽ tuyệt chủng trừ khi các nhà lãnh đạo mạnh mẽ kiềm chế tư duy độc lập và thực hiện các biện pháp khẩn cấp để áp đặt trật tự. Và bây giờ họ vẫn tin vào điều đó. Một thế kỷ trước, họ tin rằng con đường duy nhất phía trước là một nền kinh tế kế hoạch, sự cai trị của chuyên gia và những cái chết tất yếu của một số người và nhóm nhất định.

Bây giờ họ còn tin vào điều đó không?

Sự ủng hộ hoàn toàn dành cho Hamas tại Columbia, Yale và các trường Ivy League khác khiến một số người ngạc nhiên, nhưng ý tưởng cho rằng các tổ chức học thuật ưu tú từng có chính trị được xác định bởi lý trí, chủ nghĩa tự do và tôn trọng quyền con người là không có cơ sở trên thực tế. Trong khi các trường đại học này và nhiều trường đại học khác có một số giáo sư và sinh viên xuất sắc, đồng thời cung cấp một môi trường học tập phong phú có phương pháp, thì hoạt động chính trị của trường đại học luôn bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cấp tiến.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, Ivy Leagues độc hại chứa đầy sự ghê tởm đối với người Mỹ, nền dân chủ và doanh nghiệp tự do trong khi bị thu hút bởi bất kỳ hệ tư tưởng cấp tiến nào. Câu hỏi chỉ là liệu những người theo chủ nghĩa Marx hay những người theo chủ nghĩa Xã hội Quốc gia sẽ chiến thắng trong khuôn viên trường hay không.

Sau khi Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia chết một cách hầu như không ai thương tiếc, chủ nghĩa Marx và sau đó là chủ nghĩa Hồi giáo bắt đầu một cuộc chiến giành lấy trái tim và khối óc của giới tinh hoa Mỹ. Hamas cung cấp những gì cho Ivy League? Giống như Chủ nghĩa Quốc xã và Chủ nghĩa Cộng sản, họ tin rằng nước Mỹ, chủ nghĩa cá nhân và doanh nghiệp tự do là vô giá trị, và chỉ có hệ tư tưởng cách mạng được thực hiện bằng vũ lực mới có thể thay đổi xã hội của chúng ta. Rất ít sinh viên không theo đạo Hồi ở Yale hoặc Columbia cổ vũ cho Hamas tin vào thông điệp của Kinh Koran, nhưng họ thấy nó đáng tin hơn thông điệp của Mỹ.

Việc cực đoan hóa các sinh viên Ivy League cũng giống như làm người mù vấp ngã. Giữa những nhà hoạt động giàu có ở Thế giới thứ ba tự nhận là nạn nhân của nạn phân biệt chủng tộc và những kẻ giàu có cấp tiến có sở thích cách mạng, họ có thể ủng hộ bất kỳ mục đích nào, bất kể khủng khiếp và xấu xa đến đâu - mà không cần ai thuyết phục - miễn là nó nhắm vào nước Mỹ và tỏ ra ta đây đúng.

Nhiều thế hệ các nhà hoạt động của Tổ chức Anh em Hồi giáo và các đồng minh cánh tả của họ đã làm cho Hamas và Jihad những gì "Putzy" đã làm cho Đức Quốc xã. Họ làm cho chúng được tôn trọng bằng cách đổi tên thương hiệu cho chúng, đặt cho chúng một số khẩu hiệu, biểu tượng mới và một chương trình nghị sự ít mang tính tôn giáo hơn và chống Mỹ nhiều hơn.

Lòng căm thù người Do Thái của "Putzy" hay Hatem 'Hate'em' Bazian, giáo sư đằng sau Jihad trong khuôn viên trường, đã khiến chúng trở nên phổ biến hơn trong các khuôn viên trường, nơi nhiều sinh viên, đặc biệt là những người có nhiều khả năng tham gia các phong trào cánh tả nhất, âm thầm tức giận trước sự cạnh tranh từ các nhóm khá lớn sinh viên Do Thái. Kích động những sinh viên đó bằng cách ủng hộ Hitler hoặc Hamas là điều quá dễ dàng.

Đức Quốc xã đa văn hóa ngày nay có thể đa dạng về chủng tộc hơn so với tổ tiên của họ vào những năm 30, nhưng cũng giống như thời đó, sự đa dạng về trí tuệ của họ dẫn dắt các giai đoạn từ phong trào toàn trị này sang phong trào toàn trị khác. Hồi đó Ivy League bị giằng xé giữa Chủ nghĩa Phát xít và Chủ nghĩa Marx, bây giờ là Chủ nghĩa Marx và Chủ nghĩa Hồi giáo, đã ký kết một loại hiệp ước Hitler-Stalin của riêng họ, cho phép họ hợp sức chống lại Mỹ, những người theo đạo Cơ đốc, người Do Thái và toàn bộ nền văn minh phương Tây.

Một điều mà Ivy League có thể đồng ý là thế giới nên được điều hành bởi những người phù hợp và họ chính là những người phù hợp để điều hành nó. Đằng sau những cuộc biểu tình cuồng loạn và việc giả làm nạn nhân là sự khinh miệt sâu sắc và thậm chí là lòng căm thù đối với phần lớn nhân loại.

Ngay bây giờ trong khuôn viên trường, Hamas Đức Quốc xã có thể đang cổ vũ cho cái chết của người Do Thái, nhưng ngày mai họ sẽ lại cổ vũ một lần nữa cho các cuộc bạo loạn chủng tộc đang thiêu rụi các thành phố hoặc cho một làn sóng khủng bố tà ác mới nào đó. Câu hỏi thực sự không chỉ là họ ghét ai mà là họ không ghét ai.

Sự căm ghét đó là lý do tại sao Ivy League luôn dễ dàng bị cực đoan hóa với một lượng nhỏ học sinh đều đặn háo hức được dạy rằng mọi thứ họ lớn lên với chúng đều là giả tạo, rằng không có gì có thể tin cậy được và đó là cách duy nhất để cứu thế giới. là giao cho họ trách nhiệm quản lý nó.

Các thế hệ Ivy Leaguers đã được thông báo tại các buổi lễ tốt nghiệp đầy suy ngẫm rằng họ là niềm hy vọng của ngày mai và lịch sử đã giao cho họ nhiệm vụ giải quyết những rắc rối của quốc gia và thế giới bằng cách thực hiện giáo điều của thời điểm này. Không có vị vua nào được ban cho quyền cai trị một cách trắng trợn mà không có đủ điều kiện thích hợp hơn những đứa trẻ kiêu ngạo và có quan hệ tốt này.

Giai cấp thống trị sau này càng hung ác, rỗng tuếch và kém cỏi hơn giai cấp trước. Từ việc cổ vũ Đức Quốc xã đến cổ vũ Hamas, điều duy nhất mà giới thượng lưu Ivy League học được là khao khát hủy diệt.


https://www.gatestoneinstitute.org/20608/universities-were-always-extreme

    Daniel Greenfield là thành viên báo chí Shillman tại Trung tâm Tự do David Horowitz

NVV dịch




 

 2024-04-30 

Năm cách sự hỗn loạn trong khuôn viên trường gây tổn hại cho đảng Dân chủ và nước Mỹ

(Charles Lipson, RealClear Politics, 30/4/2024)

Giáo dục đại học ngày càng tụt dốc. Đó là tin xấu cho đất nước chúng ta, đất nước đã được hưởng lợi rất nhiều từ việc có hệ thống giáo dục đại học tốt nhất thế giới. Và đó là tin xấu cho đảng Dân chủ, những người phải đối mặt với một cuộc bầu cử căng thẳng. Đảng của họ gắn chặt với giáo dục các cấp, đặc biệt là ở các trường đại học ưu tú. Rốt cuộc thì đó là đảng của các chuyên gia và đảng của cánh tả. Các trường đại học là cả hai loại người đó. Hơn nữa, vì Đảng Dân chủ kiểm soát Cơ quan Hành pháp nên công chúng buộc họ phải chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm trật tự xã hội. Những thất bại của họ là điều hiển nhiên đối với cử tri bình thường. Điều đó chắc chắn sẽ gây tổn hại cho các ứng cử viên Đảng Dân chủ vào tháng 11.

Cha mẹ có con đang học đại học hoặc dự kiến ​​trúng tuyển sớm có quyền mong đợi con mình có thể học tập trong hòa bình, lắng nghe những quan điểm đa dạng và thoải mái nói chuyện mà không bị đe dọa, hăm dọa hay nhồi sọ lý thuyết nào đó. Điều đó đúng cho dù cha mẹ có phải là người Do Thái hay không. Những người Mỹ tử tế sẽ không chấp nhận những lời đe dọa chống lại sinh viên Do Thái cũng như họ sẽ không dung thứ cho những lời đe dọa chống lại người da đen, người Hồi giáo, người theo đạo Cơ đốc hoặc người Mỹ gốc Á. Tuy nhiên, giờ đây họ thấy những mối đe dọa đó đối với sinh viên Do Thái hàng ngày và tại nhiều trường đại học, họ không thấy các nhà quản lý đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình.

Cha mẹ không hiểu tại sao con mình không được bảo vệ. Họ không hài lòng khi các lớp học bị hủy bỏ và lễ tốt nghiệp được chuyển sang Zoom. Họ thất vọng vì tiền thuế của họ đang bị đổ xuống hố tuyên truyền chống Mỹ. Họ tự hỏi điều gì đã xảy ra với các tổ chức từng được kính trọng. Câu hỏi hay.

Những vấn đề này là tin xấu đối với đảng Dân chủ nói chung. Chúng xảy ra vào năm bầu cử mang lại cho họ tin xấu ngay lập tức. Sự ủng hộ những kẻ khủng bố từ phía sinh viên và một số giảng viên, kết hợp với các cuộc biểu tình lớn, đôi khi bạo lực, đã gây tổn hại cho đảng Dân chủ theo nhiều cách.

1/ Điều thứ nhất và rõ ràng nhất là Đảng Dân chủ và các trường đại học được coi là những người bạn tâm giao về mặt tư tưởng. Sự kết hợp đó đặc biệt nổi bật ở các trường Ivy League, Stanford và các trường đại học hàng đầu của tiểu bang, như Đại học Michigan và Đại học Texas. Nó có sức lan tỏa trong bộ phận nhân văn ở mọi trường học.

Nếu các giảng viên giữ nhiệt tình tư tưởng của họ cho riêng mình, các khóa học của họ sẽ được cách ly hoàn toàn khỏi chính trị đảng phái. Họ không như vậy. Trên thực tế, các giảng viên rất vui khi tuyên bố quan điểm của họ trong lớp và tệ hơn là yêu cầu sinh viên của họ đi theo. Nhiều giáo sư là những nhà tư tưởng kiêu hãnh, không khoan dung với những quan điểm khác. Một số là những nhà tuyên truyền thẳng thắn. Họ mong đợi sinh viên lặp lại những quan điểm đó hoặc phải trả giá. Sai rồi. Đó là sự phản bội với những gì lẽ ra phải có của giáo dục đại học.

Công chúng giờ đây có thể thấy được sự thiên vị này nhờ các cuộc biểu tình trong khuôn viên trường. Họ có thể thấy những tác động tai hại của nền chính trị bản sắc, chia thế giới thành “những người bị áp bức” (những người được coi là chính nghĩa) và “những kẻ áp bức” (những người bị coi là có tội), chỉ dựa trên căn cước của họ. Họ có thể thấy nét mặt đầy khinh miệt đối với những quan điểm khác, hoặc thậm chí là lương tri.

Văn hóa khuôn viên trường đại học mang tính đàn áp, phi tự do này là một vấn đề nghiêm trọng đối với các trường đại học. Nó cũng trở thành một vấn đề đối với đảng Dân chủ vì họ đã thân thiết với các trường đại học trong một thời gian dài. Họ không thể thoát khỏi sự liên kết đó khi nó đã trở nên độc hại. Điều đó đúng mặc dù hầu hết các đảng viên Dân chủ chính thống đều kinh hoàng trước bạo lực và sự không khoan dung mà họ chứng kiến ​​trong khuôn viên trường. Tuy nhiên, chúng gắn bó chặt chẽ với nó trong tâm trí công chúng, không dễ gì thoát ra được.

2/ Cố gắng cắt đứt mối liên kết đó kéo theo những rủi ro chính trị nghiêm trọng. Một phần đến từ việc làm sâu sắc thêm sự chia rẽ giữa các chính trị gia dòng chính và phe cực tả của đảng trên Đồi Capitol, do các Dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez, Rashida Tlaib, Ilhan Omar và nhóm “Squad” lãnh đạo. (Sự chia rẽ sâu sắc và rõ ràng đến mức tờ New York Times thực sự đã đăng một câu chuyện về nó.) Thật là sai lầm khi gọi những đại diện cánh tả cứng rắn đó là “cấp tiến”. Có gì tiến bộ trong việc hỗ trợ những sinh viên vẫy cờ Hamas và diễu hành qua thư viện và hô vang các khẩu hiệu chống Do Thái?

Họ được gọi một cách đúng đắn là “cánh tả”. Họ có thể là một nhóm tương đối nhỏ trong Quốc hội, nhưng họ có sức nặng không tương xứng, giống như phe cực hữu trong các đảng viên Cộng hòa. Bạn có nhớ Matt Gaetz đã lãnh đạo một nhóm nhỏ lật đổ Chủ tịch HV Đảng Cộng hòa, Kevin McCarthy không? Giờ đây, Marjorie Taylor Greene và hai hoặc ba người khác đang đe dọa người kế nhiệm ông, Mike Johnson. Cả cánh hữu và cánh tả đều có cùng một nguồn đòn bẩy. Khi Quốc hội và đất nước bị chia rẽ sâu sắc, thì bất kỳ nhóm nhỏ, gắn kết nào cũng có thể đe dọa sự kiểm soát của đa số. Họ có thể làm điều đó tại Quốc hội và họ có thể làm điều đó ở các tiểu bang xung đột.

Đối với các lãnh đạo Đảng Dân chủ, phe cực tả là một vấn đề nghiêm trọng và các lãnh đạo đảng biết điều đó. Họ hiểu các cuộc biểu tình trong khuôn viên trường và thiện cảm công khai đối với những kẻ khủng bố đã làm tổn thương họ đến mức nào. Phép tắc buộc họ tố cáo sự đe dọa, bạo lực và thiện cảm dành cho những kẻ khủng bố một cách thẳng thắn mà không nói đến sự tương đương về mặt đạo đức, như Joe Biden đã làm trong bình luận công khai cuối cùng của mình.

Sao lại to mồm thế nhỉ? Bởi vì sự rõ ràng về mặt đạo đức có thể khiến họ phải trả giá trong những tiểu bang tranh chấp gay gắt. Rủi ro bầu cử không chỉ đến từ những cử tri Hồi giáo bất mãn. Nó đến từ những cử tri trẻ, những người đã tiến xa hơn nhiều so với cha mẹ họ. Nhóm Squad là tiếng nói của họ trong Quốc hội.

Sự thay đổi này trong số các cử tri trẻ tuổi xuất hiện trong cuộc thăm dò này đến cuộc thăm dò khác. Theo một khảo sát gần đây của Pew, 33% thanh niên Mỹ (từ 18-29 tuổi) có thiện cảm với người Palestine hơn là với người Israel (14%). Hỗ trợ dành cho Israel tăng đều đặn theo độ tuổi. Chẳng hạn, trong số những người Mỹ trên 65 tuổi, 47% có thiện cảm hơn với người Israel, chỉ 9% với người Palestine.

Sự khác biệt giữa các bên là rõ ràng. Trong số những người trẻ tuổi theo Đảng Cộng hòa, thiện cảm dành cho người Israel cao hơn gấp đôi so với người Palestine. Trong số những người Cộng hòa trên 50 tuổi, chỉ có 3% có thiện cảm hơn với người Palestine. Không phải như vậy với đảng Dân chủ. Những người trẻ tuổi hoàn toàn ủng hộ người Palestine. Chỉ 7% có thiện cảm hơn với người Israel, 47% với người Palestine. (“Kẻ yếu phải đúng. Kẻ mạnh phải sai.”) Những đảng viên Đảng Dân chủ duy nhất nghiêng về phía Israel là những người trên 65 tuổi (25% đến 17% ủng hộ Israel, số còn lại nói rằng họ có thiện cảm như nhau với cả hai nhóm).

Những con số này đặt ra những lựa chọn khó khăn cho các nhà lãnh đạo Đảng Dân chủ, những người đang cố gắng hết sức để né tránh chúng. Kết quả của cuộc bầu cử tổng thống có thể phụ thuộc vào một số lượng tương đối nhỏ cử tri người Mỹ gốc Ả Rập ở Michigan, Minnesota, Wisconsin và các cử tri trẻ hơn ở bảy tiểu bang xung đột. Họ có thể không sẵn sàng bỏ phiếu cho Trump, nhưng họ có thể ủng hộ ứng cử viên bên thứ ba hoặc từ chối tham gia bỏ phiếu. Cả hai lựa chọn đều có thể gây ra sự diệt vong cho Biden và một số ứng cử viên Thượng viện. Jill Stein vừa đánh bóng uy tín của mình với các khu vực bầu cử đó bằng cách (để cho) bị bắt tại một sự kiện ủng hộ Palestine. Liệu Cornel West có thể bị bỏ xa phía sau?

Đảng Dân chủ không có giải pháp cho vấn đề này, khiến phe trung tả và những người độc lập chống lại phe cực tả và người Mỹ gốc Ả Rập. Đảng Dân chủ càng chuyển sang trung tâm để xoa dịu các cử tri trung lưu, họ càng xa lánh những người trẻ tuổi cánh tả và người Mỹ gốc Ả Rập.

3/ Thứ ba, nỗ lực của tổng thống nhằm thu hút các cử tri trẻ tuổi bằng cách tha nợ cho sinh viên đã liên kết đảng thậm chí còn chặt chẽ hơn với các trường đại học vào thời điểm mà nhiều cử tri chán ghét các tổ chức đó. Vấn đề vượt xa việc Joe Biden ngang nhiên phớt lờ các phán quyết của Tòa án Tối cao về các khoản vay dành cho sinh viên, liên quan đến sự coi thường trật tự hiến pháp của chúng ta. Ông ta chắc chắn biết chính sách của mình sẽ một lần nữa bị tòa án bác bỏ. Tuy nhiên, mục tiêu của ông không phải là giảm nợ thực sự mà là để cho sinh viên và những sinh viên tốt nghiệp đang mắc nợ thấy rằng ông thực sự, thực sự hỗ trợ họ còn đảng Cộng hòa thì không. Mục đích của Biden là truyền tải thông điệp đó và vượt qua tháng 11 trước khi tòa án lật lại việc tặng quà của anh ta.

4/ Thứ tư, cử tri có thể thấy bạo lực và sự gián đoạn được xử lý một cách khoan dung như thế nào ở các tiểu bang xanh và thành phố xanh bởi các DA và tổng chưởng lý “Soros”. Nếu sinh viên bị bắt ở những khu vực pháp lý đó, họ sẽ nhanh chóng được thả ra. Không có cáo buộc nào được đưa ra. Tác động có thể dự đoán được là khuyến khích nhiều sự gián đoạn hơn, nhiều bạo lực hơn và ít giáo dục hơn. Vì các khu vực pháp lý đó được lãnh đạo bởi Đảng Dân chủ, nên đảng này phải trả giá cho những cử tri trung dung, những người, kỳ lạ thay, lại tin rằng các trường đại học nên là địa điểm giáo dục.

5/ Điều đó đưa chúng ta đến một điểm quan trọng cuối cùng. Cử tri sẽ chỉ chịu đựng được chừng ấy sự hỗn loạn. Họ tin một cách khá chính xác rằng việc bảo đảm trật tự xã hội là trách nhiệm chính của chính quyền các cấp, thành phố, tiểu bang và liên bang. Chính vì thế mà tình trạng rối loạn, đặc biệt là rối loạn bạo lực luôn làm tổn hại đến đảng cầm quyền. Khi các quan chức được bầu không đáp ứng được trách nhiệm cơ bản đó, cử tri sẽ buộc họ phải chịu trách nhiệm. Những cử tri đó tin (một lần nữa, một cách chính xác) rằng trật tự có thể được lập lại trong khuôn viên trường và các đường phố trong thành phố mà không chà đạp quyền tự do ngôn luận và tập hợp một cách hòa bình.

Sự gián đoạn hiện tại có thể sẽ giảm bớt trong vài tuần nữa khi các trường đại học hoàn thành kỳ thi cuối kỳ. Thật không may, thời gian nghỉ ngơi chỉ là tạm thời. Bạo lực và mất trật tự sẽ quay trở lại mạnh mẽ vào mùa hè này khi hai đảng tổ chức đại hội, Đảng Cộng hòa ở Milwaukee (giữa tháng 7), Đảng Dân chủ ở Chicago (giữa tháng 8). Điều gì có thể xảy ra ở Chicago?

Mong đợi sự hỗn loạn, bạo lực, hỗ trợ cho những kẻ khủng bố và sự căm ghét cả Israel và Mỹ. Sự gián đoạn có thể quay trở lại khuôn viên trường vào mùa thu này, giữa mùa bầu cử. Điều đó sẽ phụ thuộc một phần vào việc liệu cuộc chiến ở Gaza có tiếp tục hay không và một phần vào việc liệu học sinh có phải đối mặt với bất kỳ hình phạt nào vì hành vi gây rối của mình hay không. Không có hình phạt thì không có sự răn đe.

Nếu Tổng thống Biden có thể ban hành lệnh hành pháp đình chỉ tất cả các lớp học cho đến giữa tháng 11, thì ông ấy sẽ ban hành nó ngay hôm nay. Nếu ông ấy có thể tha nợ cho sinh viên, ông ấy sẽ làm điều đó chỉ bằng một nét bút. Và ông ấy sẽ trao cho tất cả những người mới tốt nghiệp một chìa khóa Phi Beta Kappa [là chìa khóa được khắc một mặt chữ S P, tên viết tắt của từ Latin Societas Philosophiae và mặt khác khắc chữ Hy Lạp Phi Beta Kappa, có nghĩa là “Tình yêu của trí tuệ, người dẫn đường cho cuộc sống”]

Than ôi cho Biden và đảng của ông ấy, ông ấy không thể. Ông ấy không phải là hoàng đế. Trên thực tế, ngày càng có nhiều cử tri cho rằng ông đang diễu hành trên đường phố mà không mặc quần áo.


https://www.realclearpolitics.com/articles/2024/04/30/five_ways_campus_turmoil_hurts_democrats_and_america_150863.html

Charles Lipson là Giáo sư danh dự về Khoa học Chính trị Peter B. Ritzma tại Đại học Chicago, nơi ông thành lập Chương trình về Chính trị, Kinh tế và An ninh Quốc tế.

NVV dịch



 

 2023-12-15 

Các trường đại học tại Hoa Kỳ đã mất đi danh tiếng như thế nào?

(Victor Davis Hanson, Epoch Times, 15/12/2023)

Sau hôm 07/10, công chúng bị chấn động trước những gì họ chứng kiến và nghe thấy trong các khuôn viên trường ở Mỹ quốc.

Người Mỹ trước giờ đều biết rằng cánh tả là những người không khoan nhượng, cũng như việc ngày càng không có nhân tài.

Nhưng ngay sau hôm 07/10 — và thậm chí trước phản ứng của Lực lượng Phòng vệ Israel — sự vui mừng tột độ của sinh viên trước tin tức về vụ sát hại hàng loạt nạn nhân Israel dường như tương tự với nước Đức những năm 1930 hơn là nước Mỹ đương đại.

Quả thực, không ngày nào mà một giáo sư đại học hay một nhóm sinh viên không phát ngôn những lời hận thù bài Do Thái. Họ thường xuyên đe dọa và tấn công các sinh viên Do Thái, hoặc tham gia vào các cuộc biểu tình rầm rộ kêu gọi tiêu diệt Israel.

Vì sao và làm thế nào mà các trường đại học được cho là ưu tú này lại trở thành nơi ươm mầm của lòng thù hận sâu sắc nhường đó?

Sau cuộc bạo loạn George Floyd vào năm 2020, số lượng tuyển sinh dự bị — nỗ lực tiếp nhận những sinh viên dựa trên sự đa dạng vượt quá số lượng của họ trong dân số nói chung — đã tăng lên.

Các trường đại học ưu tú như Stanford và Yale khoe khoang rằng số lượng sinh viên mới nhập học được gọi là “da trắng” của họ đã giảm xuống từ 20 đến 40%, mặc dù người da trắng chiếm 68–70% dân số nói chung.

Việc bãi bỏ yêu cầu điểm số của kỳ thi SAT và xếp hạng so sánh điểm trung bình của các lớp trung học như thường lệ đã chấm dứt ý tưởng lâu đời và đã được minh chứng qua thời gian về chế độ nhân tài. Bảng điểm trung học xuất sắc và điểm thi không còn bảo đảm cho việc được nhận vào những trường được gọi là ưu tú nữa.

Một kết quả là số lượng người Do Thái trong số sinh viên của các trường đại học hàng đầu đã giảm từ 20–30% trong những năm 1970 và 1980 xuống còn 10–15%.

Sinh viên Do Thái hiện cũng bị xếp vào những người “da trắng” và “có đặc quyền” — và do đó đây được xem là hành động công bằng trong các khuôn viên trường.

Đồng thời, số lượng sinh viên ngoại quốc, đặc biệt là từ các nước Trung Đông giàu dầu mỏ, đã tăng vọt trong các khuôn viên trường. Hầu hết trong số họ đều được chính phủ tại quê nhà trợ cấp. Họ chi trả toàn bộ với mức học phí không được chiết khấu cho các trường đại học đang thiếu tiền mặt.

Một số lượng lớn sinh viên đã vào các trường đại học, những người lẽ ra không được nhận vào chính các trường đại học này do các tiêu chuẩn mà cho đến gần đây họ vẫn tuyên bố là rất quan trọng để bảo đảm khả năng cạnh tranh và uy tín của họ.

Do đó, họ không còn là những nơi đào tạo được các sinh viên đại học và chuyên gia hàng đầu từ các chương trình sau đại học.

Các giảng viên phải đối mặt với những lựa chọn thất bại/thất bại/thất bại mới về việc giảm yêu cầu cho khóa học của họ, hoặc phải tăng khống điểm số, hoặc phải đối mặt với cáo buộc của các ủy viên Đa dạng/Công bằng/Hòa nhập (DEI) về sự thiên vị có hệ thống trong việc chấm điểm của mình — hoặc kết hợp cả ba điều này lại.

Kết quả cuối cùng là hiện nay có hàng ngàn sinh viên đến từ ngoại quốc, đặc biệt là từ Trung Đông, số lượng sinh viên Do Thái ngày càng ít, và các nhóm sinh viên vốn đòi hỏi những thay đổi cực cấp tiến về tiêu chuẩn giảng viên và chương trình giảng dạy đang làm việc để thỏa mãn sự bất bình của họ với các tiêu chuẩn trước đây về thành tích mong đợi của sinh viên.

Và đương nhiên một trận dịch bài Do Thái đã xảy ra ngay sau đó.

Ngoài ra, các lớp học về “nghiên cứu” đã nở rộ, cùng với các giảng viên dạy những lớp đó.

Các khóa học nghiên cứu về “giới tính, người Mỹ gốc Phi Châu, người Mỹ La tinh, nữ quyền, người châu Á, người đồng tính, chuyển giới, hòa bình, môi trường và xanh” đòi hỏi sinh viên ít hơn nhiều và tùy tiện chọn một số người là “bị áp bức” và những người khác là “kẻ áp bức.” Sau đó, những “nạn nhân” trước đây sẽ được trao quyền hạn để thực hiện hành vi phân biệt chủng tộc và bài Do Thái mà không phải chịu hậu quả.

Việc chứng tỏ mình đúng đắn về mặt chính trị trong các khóa học suy luận dễ dàng này thay vì bị ép buộc phải thể hiện bản thân một cách mạch lạc, quy nạp, và phân tích từ một kho kiến thức dựa trên thực tế, giải thích lý do tại sao công chúng chứng kiến các giảng viên và sinh viên đồng thời vừa kiêu ngạo vừa thiếu hiểu biết.

Tại một số trường đại học, các “danh sách đen” lưu hành cảnh báo những sinh viên “bị gạt ra bên lề xã hội” những giáo sư mà họ nên tránh. Đây là những giáo sư vẫn bám vào những tiêu chuẩn được cho là đã lỗi thời về việc làm bài thi, thời hạn, và việc xin vắng mặt trong buổi học.

Tất cả những thay đổi căn bản này giải thích cảnh tượng hiện nay về những sinh viên giận dữ đưa ra những lời bất bình, và những sinh viên tốt nghiệp có trình độ học vấn thấp, những người tham gia ít môn học về lịch sử, văn học, triết học, logic hoặc khoa học truyền thống.

Các trường đại học và sinh viên có rất nhiều tiền để tiếp tục vũ khí hóa trường đại học nhờ nguồn thu nhập rất lớn được miễn thuế của họ. Chính phủ trợ cấp gần 2 ngàn tỷ USD các khoản vay sinh viên mà không cần trách nhiệm giải trình hoặc yêu cầu hợp lý rằng những khoản nợ này phải được hoàn trả đúng hạn.

Các trường hợp ngoại lệ và miễn trừ là ưu tiên của những nhà quản lý hay sợ hãi và coi trọng thành công cá nhân.

Đối mặt với làn sóng chủ nghĩa bài Do Thái, các nhà quản lý trường đại học hiện tuyên bố rằng họ không thể làm gì nhiều để kiềm chế sự thù hận. Tuy nhiên cá nhân họ đều biết rằng, nếu mục tiêu của sự thù hận tương tự này là người Mỹ gốc Phi Châu, đồng tính nam, người Mỹ Latinh, hoặc phụ nữ, thì họ sẽ trục xuất những kẻ thù ghét trong một phần ngàn giây.

Kết quả cuối cùng của việc các trường ưu tú từng cho 70–80% sinh viên của họ các điểm A, trở thành điểm nóng của chủ nghĩa bài Do Thái nguy hiểm, và chương trình giảng dạy thiếu chất lượng không thể tạo ra những sinh viên được giáo dục tốt là gì?

Các trường đại học hàng đầu này và những trường được gọi là ưu tú tương tự có thể sớm đi theo con đường của Disney và Bud Light.

Họ cho rằng việc họ bị mất danh tiếng như vậy là điều không thể xảy ra với tầm vóc quen thuộc hàng thế kỷ.

Tuy nhiên, sự xói mòn đã xảy ra và đang tăng tốc.

Với tốc độ hiện tại, bằng luật Stanford, chuyên ngành khoa học chính trị Harvard, hoặc cử nhân khoa học xã hội Yale sẽ sớm khiến các nhà tuyển dụng và công chúng nói chung sợ hãi.

Những bằng cấp này sẽ không biểu thị bằng chứng về sự khiêm tốn, tri thức, và sự đoan trang, mà là sự tự cao, sự trống rỗng, và sự cuồng tín không nên có — và đây là tất cả những điều cần tránh thay vì theo đuổi.

https://www.theepochtimes.com/opinion/how-were-the-universities-lost-5543651

Doanh Doanh biên dịch

 2023-12-15

Liệu chúng ta có đang nuôi dưỡng thế hệ Pyjama?

(Christian Milord, EpochTimes,

Một số mục tiêu của giáo dục đại học thường được cho là nhằm phát triển những phẩm chất tốt, học những khóa học nghiêm ngặt, chuẩn bị cho lực lượng nhân sự, và khuyến khích tư duy phản biện. Tuy nhiên, khi quan sát sinh viên trong các trường đại học, người ta tự hỏi có bao nhiêu mục tiêu trên được thực hiện.

Khi đi ngang qua một trường đại học ở địa phương, tôi chứng kiến một số cảnh tượng đáng lo ngại mà hầu như chưa từng xuất hiện cách đây mười năm. Hầu hết các sinh viên đang ngồi hoặc đi bộ đến và ra khỏi lớp học, nhưng họ không chú ý gì tới xung quanh. Họ đắm chìm trong chiếc điện thoại của mình, và nhiều người vẫn còn mặc pyjama (đồ ngủ) đi lang thang khắp nơi như những thây ma. Làm sao một người có lòng tự trọng lại có thể mặc đồ ngủ cả ngày như vậy được chứ? Người ta có thể hiểu việc đi quanh nhà trong bộ đồ ngủ vào cuối tuần, nhưng không thể tưởng tượng được việc mặc đồ ngủ đi lại nơi công cộng trong ngày làm việc.

Tất nhiên có thể thông cảm nếu có một hay hai lần mặc đồ ngủ trong năm, như trường hợp học cấp hai, nhưng mặc đồ ngủ trong phần lớn thời gian thì dường như đó lại là một thói quen của sự cẩu thả. Hầu hết người bình thường thức dậy vào buổi sáng, thay y phục, rửa mặt, chải đầu tóc, và bắt đầu một ngày mới. Giờ thì quá nhiều sinh viên Gen Z xuất hiện với bộ dạng nhếch nhác khi ăn sáng trong căng tin trường, và rất nhiều người đi học muộn trong bộ đồ ngủ.

Thời gian trước đây không lâu, quý vị sẽ không thể mơ tưởng đến việc vào lớp muộn, vì có thể bị điểm danh vắng mặt hoặc vào muộn, và bỏ lỡ những tiết học quan trọng. Tư duy tự ái, tự đại này bắt nguồn từ đâu? Hành vi đó thể hiện sự thiếu tôn trọng với các sinh viên khác và các giáo sư, những người đã đến đúng giờ để sẵn sàng học tập. Đến muộn và mặc đồ ngủ hoàn toàn là biểu hiện của một vấn đề sâu xa hơn, có thể đó là thái độ thờ ơ với quan điểm của người khác, lười nhác, và sự hạ thấp giá trị bản thân.

Mặc dù những thói quen nhếch nhác này một phần là do vấn đề văn hoá, nhưng mỗi cá nhân có thể tự quyết định mình có động lực hay lười biếng. Đáng tiếc là phần lớn thế hệ Gen Z và một phần thế hệ Y (Millennials) vẫn tiếp tục sống với cha mẹ cho đến khi họ hai mươi hay ba mươi tuổi. Ý thức độc lập, chủ động, niềm tự hào hay mong muốn nuôi sống gia đình của họ ở đâu? Họ dường như bị bẫy trong ý muốn là một đứa trẻ to xác không bao giờ lớn, họ thiếu nhận thức về vấn đề của mình một cách đáng kinh ngạc.

Hậu quả của một nền giáo dục “thức tỉnh” ở các trường công và đại học là nhiều sinh viên tốt nghiệp tin rằng họ sẽ kiếm được rất nhiều tiền khi mới bắt đầu tham gia vào lực lượng nhân sự ở những vị trí công việc đòi hỏi ít kinh nghiệm. Họ kỳ vọng được nghỉ nhiều trong giờ làm việc và nỗ lực rất ít chỉ để giữ vị trí của mình. Nhưng [phong trào] thức tỉnh thô lỗ sẽ chào đón họ nếu họ tiếp tục ôm những mộng tưởng này. Trừ khi là ông chủ của chính mình, nếu không quý vị phải nỗ lực để thăng tiến trong sự nghiệp.

Một số doanh nghiệp tốt tuân thủ phương châm này, “Nơi duy nhất mà thành công đến trước lao động là trong từ điển.” Đây là một bài học mà các bạn trẻ nên học thuộc lòng và ghi nhớ, nếu không họ sẽ phải lặp đi lặp lại những sai lầm tương tự hết lần này đến lần khác. Vì nhiều người trẻ không để tâm đến lời khuyên nhủ hoặc học hỏi từ tấm gương của những người sống có mục đích, nên họ sẽ nghiện thực tế ảo vốn không liên quan đến thế giới thực.

Có giải pháp nào cho tâm lý thế hệ mặc đồ ngủ này không? Có, có rất nhiều hành động mà những người có thói quen tự huỷ hoại bản thân này có thể thực hiện. Đầu tiên, những thanh niên trẻ này cần hiểu rằng trong cuộc sống, chúng ta không thể lúc nào cũng có điều mình muốn. Để có thể chấp nhận được thực tế đó, họ có thể phải sứt đầu mẻ trán vài lần để tỉnh ngộ ra, bởi vì họ đã được bao bọc quá nhiều. Càng sớm học được bài học khó khăn, thì càng dễ loại bỏ những thói quen có hại để tạo dựng một tương lai tốt đẹp.

Tiếp theo hãy cố gắng tạo ra kỷ luật cho cuộc sống của quý vị. Nếu thấy khó thức dậy, hãy đặt đồng hồ báo thức cùng với mục đích hàng ngày hay hàng tuần. Tập thể dục một chút vào buổi sáng sẽ không hại gì, vậy hãy kỷ luật bản thân để thành thói quen và nạp năng lượng trước khi bước vào bữa sáng và bắt đầu một ngày học tập hay làm việc. Tránh xa khỏi các nền tảng mạng xã hội để tận hưởng môi trường xung quanh và đọc báo in.

Thứ ba, hãy chăm chút ngoại hình và sự sạch sẽ. Đừng mặc đồ ngủ hay quần áo luộm thuộm khi đi phỏng vấn hay đi làm. Tăng nhận thức về môi trường xung quanh và chú ý đến các nhu cầu của người khác, bởi vì những tiêu chuẩn xã hội tồn tại là có lý do. Phát triển tính khả tín, luôn đúng giờ, và nỗ lực hết sức để tạo nên sự may mắn cho chính mình. Quý vị chỉ là nạn nhân của sự lựa chọn của chính bản thân mà thôi.

Cuối cùng, có một giải pháp thay thế để nuôi dưỡng thế hệ pyjama. Chúng ta có thể giúp nuôi dạy những đứa trẻ học cách giao tiếp hiệu quả, tôn trọng người khác, và tạo ấn tượng tốt ban đầu mà không thái quá. Các bạn trẻ có thể học từ kinh nghiệm của những người lớn tuổi hơn để sửa chữa những sai lầm và tiếp tục những thử thách mới. Họ nên loại bỏ tâm lý về quyền lợi và tìm kiếm con đường của mình thông qua sự bình đẳng về cơ hội và thành tích. Đã đến lúc phải trưởng thành rồi, thế hệ pyjama!

https://www.theepochtimes.com/opinion/are-we-raising-the-pajama-generation-5547347

Thuần Thanh biên dịch

 

 2023-11-17 

Chủ nghĩa bài Do Thái trong các khuôn viên trường đại học ngày nay phản ánh quá khứ đen tối của nhiều trường đại học ưu tú của Mỹ

Thuyết cải tiến nhân loại, sự phân biệt đối xử chống người Do Thái và thậm chí cả hệ tư tưởng của Đức Quốc xã đã từng lan tràn trong giáo dục đại học Mỹ


(By Hannah Grossman, Fox News, 17/11/2023)

Khi các cuộc tấn công và luận điệu chống Do Thái ngày càng gia tăng tại một số tổ chức hàng đầu của Mỹ, người Do Thái trong khuôn viên trường đại học đã gãi đầu hỏi làm thế nào mà những người cấp tiến có thể biểu lộ sự khoan dung và tư duy hiện đại, đồng thời tôn vinh sự man rợ và chấp nhận lòng thù ghét của Hamas.

Tuy nhiên, trên thực tế, sự không khoan dung "cấp tiến" không có gì mới đối với các trường đại học, với chủ nghĩa bài Do Thái và thậm chí cả chủ nghĩa Quốc xã là một phần trong quá khứ đen tối của nhiều trường đại học. Jay Richards của Quỹ Di sản nêu ra thuyết cải tiến nhân loại (hay thuyết ưu sinh - eugenics) như một ví dụ khác.

Ông nói: “Bây giờ thật khó để chúng ta tưởng tượng, nhưng đó là một ý tưởng được chia sẻ bởi tất cả các tổ chức và nhà hoạch định quan điểm ưu tú vào đầu thế kỷ 20, đặc biệt là một phần của phong trào cấp tiến rộng lớn hơn... Theo nhiều cách, nó đã được phát triển ở Hoa Kỳ vào những năm 1920 và xuất khẩu sang Đức và [họ]… thực sự đã triển khai nó với hiệu quả ấn tượng như vậy."

Adolf Hitler là một người rất ngưỡng mộ công việc thúc đẩy thuyết ưu sinh của các học giả Mỹ. Thuyết ưu sinh là nghiên cứu về cách sắp xếp sinh sản trong quần thể loài người để tăng sự xuất hiện các đặc điểm được coi là mong muốn - và loại bỏ những gì các nhà khoa học coi là không mong muốn.

Nhà sinh vật học Steven Farber lập luận rằng các bài báo học thuật được xuất bản bởi các nhà ưu sinh như Charles B. Davenport - người giảng dạy tại Harvard, Đại học Chicago và Viện Carnegie - là "nền tảng trí tuệ" cho các chính sách xã hội chủng tộc của Đức Quốc xã.

Theo Bảo tàng Holocaust Hoa Kỳ, "Thuyết ưu sinh đã tạo cơ sở cho chương trình bí mật của Đức Quốc xã giết chết người Đức khuyết tật, ước tính khoảng 250.000 bệnh nhân", trước khi nó quay sang chống lại người Do Thái, người Roma, người đồng tính và các nhóm khác được coi là thấp kém, như một phần của "vệ sinh chủng tộc."

Ngoài việc theo đuổi hệ tư tưởng khoa học giả tạo và đầy hận thù, đồng thời đưa thuyết ưu sinh vào sách giáo khoa sinh học, một số quản trị viên đại học còn công khai chống Do Thái trong khi lãnh đạo các tổ chức hạn chế tiếp nhận sinh viên Do Thái đủ tiêu chuẩn.

Ví dụ, Yale có một tài liệu trong kho lưu trữ của mình có tựa đề "Vấn đề Do Thái" từ năm 1922, trong đó thúc đẩy hạn ngạch về "yếu tố ngoại lai (alien) và chưa được rửa sạch". Tỷ lệ tuyển sinh Do Thái sau đó được giữ ở mức 10% trong bốn thập kỷ, theo một cuốn sách được viết bởi một cựu sinh viên Yale có tên "Joining the Club".

Cựu thư ký của Đại học Yale, John A. Wilkinson, nói với The New York Times vào những năm 1980 về phát hiện này: “Có những hình thức phân biệt đối xử tồi tệ, xấu xa ở Yale, cũng như ngoài xã hội”. “Đó là một phần lịch sử của chúng ta và chúng ta phải đối mặt với nó.”

Các trường ưu tú khác, chẳng hạn như Đại học Columbia, Princeton và Harvard, cũng có chính sách tương tự. Tờ Harvard Crimson đưa tin, "Trong suốt những năm 1920, ban giám đốc Harvard đã thông qua một loạt chính sách tuyển sinh nhằm hạn chế tỷ lệ sinh viên Do Thái trong mỗi lớp mới nhập học. Những chính sách này là nỗ lực đầu tiên trong lịch sử của Harvard nhằm hạn chế tiếp nhận những ứng viên đủ tiêu chuẩn."

Chủ nghĩa bài Do Thái không dừng lại ở đó trong khoảng thời gian đó, đặc biệt là đối với Harvard.

Một trong những học giả quá cố về chủ đề giáo dục đại học và sự đồng lõa của nó với việc thúc đẩy tuyên truyền của Đức Quốc xã, Stephen Norwood, đã ghi lại cách các tổ chức ưu tú đã mời Đức Quốc xã đến phát biểu tại các trường đại học của họ, tham gia vào các chương trình trao đổi nước ngoài để thu hút các sinh viên được nhồi sọ và các giáo sư của Đức Quốc xã và cho phép hệ tư tưởng của Đức Quốc xã lan rộng sang các trường khác và phương Tây một cách rộng rãi hơn.

Trên thực tế, "các sinh viên trao đổi người Đức đã được chỉ đạo làm đại diện của Chính phủ Đức tại... các trường ở Mỹ", tờ New York Times đưa tin. Chiến dịch tuyên truyền của Đức nhắm vào Hoa Kỳ, trong đó có việc Đức Quốc xã tổ chức các chuyến du lịch để trao đổi sinh viên và giáo sư, đã thu hút sự quan tâm của các thành viên Quốc hội, những người đã thành lập ủy ban phi-Mỹ (House Un-American Activities Committee) tại Hạ viện để điều tra.

Có rất nhiều ví dụ về việc hệ tư tưởng của Đức Quốc xã đã trở thành quan điểm được chấp nhận như thế nào trong khuôn viên các trường. Năm 1939, sau khi cuộc tàn sát Kristallnacht của Đức Quốc xã được công bố rộng rãi, sinh viên năm thứ nhất của Princeton đã chọn Adolf Hitler là "người vĩ đại nhất còn sống", theo một bài báo của New York Times vào thời điểm đó. [Kristallnacht hay "Night of Crystal" là đêm tàn sát người Do Thái, 9 và 10/11/1938 - NVV]

Vài năm sau khi Hitler lên nắm quyền, "ban giám đốc Harvard đã cho phép tổng lãnh sự Đức Quốc xã ở Boston đặt một vòng hoa mang biểu tượng chữ vạn" trong khuôn viên trường, Norwood viết.  

Phần lớn sự giận dữ của Norwood nhắm vào cựu chủ tịch Harvard, James Bryan Conant, người mà ông tin rằng "đã bỏ qua nhiều cơ hội để có lập trường có nguyên tắc chống lại chế độ Hitler và những hành động xúc phạm người Do Thái trong trường, đồng thời góp phần vào nỗ lực của Đức Quốc xã nhằm cải thiện hình ảnh của nó ở phương Tây.

Norwood cũng tin rằng "Conant cũng tỏ ra thiếu kiên nhẫn và thường khinh thường người Do Thái và các nhà hoạt động khác quyết tâm vạch trần sự man rợ của Đức Quốc xã," mặc dù "Conant đã bày tỏ sự phản đối chính thức đối với Chủ nghĩa Quốc xã và chưa bao giờ đảm nhận vai trò người biện hộ công khai."

Dưới mục tiêu của Conant, Harvard "nồng nhiệt chào đón" các nhà lãnh đạo Đức Quốc xã đến trường, "mời họ tham dự các sự kiện xã hội có uy tín, nổi tiếng và cố gắng xây dựng mối quan hệ hữu nghị với các trường đại học đã bị Đức Quốc xã hóa triệt để ở Đức, đồng thời tố cáo những người phản đối những hành động này", thậm chí ông còn tiếp tục khi The Third Reich "tăng cường đàn áp người Do Thái".

Các trường khác, chẳng hạn như Columbia, đã chấp nhận lời mời tham dự một lễ hội tại Đại học Heidelberg, nơi xảy ra vụ đốt sách khét tiếng và chống Do Thái năm 1933 và là cầu nối truyền bá chủ nghĩa Đức Quốc xã, bất chấp sự phản đối lớn từ các sinh viên của trường.

Chủ tịch Đại học Columbia, Nicholas Murray Butler cũng “đả kích ác liệt những sinh viên Columbia công khai phản đối tội ác của Đức Quốc xã”, Norwood viết.  

"Chủ tịch Columbia, Nicholas Murray Butler, người có quan điểm về các vấn đề quốc tế được báo chí trích dẫn thường xuyên hơn trong những năm 1930 so với bất kỳ nhà lãnh đạo giáo dục đại học nào khác, đã ở vị thế nâng cao nhận thức của công chúng về mối đe dọa của chủ nghĩa phát xít. Thật đáng tiếc rằng đối với một số nhà phê bình, điều đáng tiếc là trong nhiều năm, ông đã thất bại trong việc sử dụng ảnh hưởng của mình để chống lại chủ nghĩa man rợ, và thay vào đó chọn hợp tác với chế độ Hitler và Mussolini để cải thiện hình ảnh của họ ở phương Tây."

https://www.foxnews.com/media/antisemitism-todays-college-campuses-echoes-dark-past-elite-american-universities

 2023-11-08 

Nếu Harvard không tốt cho nước Mỹ?
Sinh viên Harvard không 'ổn' và điều đó rất quan trọng đối với tất cả chúng ta

(Frederick M. Hess, Fox News, 8/11/2023)

Trong giới chính sách và thế giới giáo dục đại học cao hiếm có, có một điệp khúc phổ biến khi nói đến những sinh viên theo học tại Harvard và các sinh viên ưu tú của trường: "Họ sẽ ổn thôi. Chúng ta không lo lắng về họ."

Giả thử những trường cao đẳng này có thể được tin cậy để cho ra lớp sinh viên được tôn vinh và sự chú ý của chúng ta nên tập trung vào các trường cao đẳng và sinh viên khác (kém hơn).

Nhưng nếu không phải vậy thì sao? Điều gì sẽ xảy ra nếu Harvard thất bại về những phương diện rất quan trọng đối với đất nước chúng ta nhưng bản chất và phạm vi của thất bại này đã bị che khuất các công ty lớn, những mạng lưới tư lợi và nhóm ưu tú hoạt động theo tư duy, đây là những nhân tố đã hỗ trợ các cơ sở giáo dục này và các sinh viên tốt nghiệp của họ.

Từ lâu, rất khó để khiến các nhà quan sát xem xét khả năng này. Nhưng mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn sau cuộc tấn công của Hamas vào Israel và sự chú ý mà nó gây ra về sự suy thoái đạo đức ở Harvard.

Khi các tổ chức sinh viên tán thành hành động giết người hung hãn của Hamas, khi chủ tịch Harvard là Claudine Gay cần nhiều tuyên bố để làm rõ rằng bà ấy không thờ ơ với hành động khủng bố này, khi Gay nói với các sinh viên Do Thái tại một buổi lễ shabbat rằng "Harvard ủng hộ bạn" thì bà chỉ im lặng khi một đoạn video lan truyền cho thấy một sinh viên Do Thái bị bắt nạt bởi những người biểu tình ủng hộ Hamas trong khuôn viên trường Harvard... cho nên, nó đặt ra những câu hỏi hóc búa về việc ai sẽ được nhận vào Harvard và những sinh viên này đang học gì.

Suy cho cùng, trong khi Harvard và các trường cùng ngành chỉ đào tạo một bộ phận nhỏ nhất trong số Mỹ, thì họ lại đào tạo được một phần rất lớn các nhà lãnh đạo của trường. Tòa Bạch Ốc, Tòa án Tối cao, Thượng viện Hoa Kỳ và các cơ quan điều hành của các công ty Fortune 500 có rất nhiều sinh viên tốt nghiệp từ những nơi như Harvard, Yale và Stanford.

Điều này đặt ra câu hỏi về việc các nhà lãnh đạo tương lai của đất nước chúng ta được lựa chọn như thế nào và họ học được gì ở đó. Khi đặt ra những câu hỏi như vậy, tốt hơn hết là bạn không nên nhìn quá kỹ. Nếu không, bạn sẽ thấy những hậu quả nghiêm trọng cho tất cả chúng ta.

Mặc dù người ta thường cho rằng tỷ lệ nhập học chỉ ở mức một con số (so với số đơn xin học), có nghĩa là một nơi như Harvard không thể không có những người giỏi nhất và thông minh nhất, nhưng vẫn có rất nhiều sự hoài nghi. Vụ án affirmative-action gần đây đã ghi lại những ưu tiên lớn cho các chương trình hành động mang tính hệ tư tưởng liên kết với nhau và những bức tranh biếm họa đơn giản về các hồ sơ tuyển sinh.

Tại Harvard, gần một  nửa  số sinh viên được nhập học vì một số lý do ưu tiên, chẳng hạn như là "di sản" hoặc con của một nhà tài trợ giàu có. Một phân tích từ 160.000 hồ sơ tuyển sinh của Harvard cho thấy các ứng viên người Mỹ gốc Á đạt điểm cao hơn mọi nhóm chủng tộc khác về các tiêu chí như điểm thi, điểm trong lớp và điểm ngoài lớp nhưng lại bị nhân viên Harvard chê bai và liên tục cho họ những điểm thấp về các đặc điểm chủ quan như nhân thân và lòng tốt.

Giả định rằng việc sinh viên Harvard có tài năng đặc biệt đã được dùng để phản bác lại sự khắt khe và kỳ vọng. Điểm trung bình tại Harvard ngày nay là 3,8 và trường đại học này tự hào về tỷ lệ tốt nghiệp 96%. Bài học ở đây là khi sinh viên vào Harvard, họ đạt điểm A và tốt nghiệp. Chấm hết.

Hơn hai thập kỷ trước, triết gia Harvard là Harvey Mansfield đã phát triển phương pháp cho sinh viên hai bộ điểm: Một bộ phản ánh sự đánh giá trung thực về thành tích của họ và một bộ khác được thiết kế để phù hợp với "điểm tăng cao của Harvard". [Giống như một thương gia có 2 sổ sách kế toán, một sổ ghi số đúng, một sổ ghi số sai - NVV]

Từ lâu, người ta đã đánh giá cao các trường đại học như Harvard trong việc tuyển chọn các cộng đồng “đa dạng” cho các nhà lãnh đạo tương lai. Mặc dù các sự kiện gần đây đã làm rõ rằng việc tuyển chọn này không mang lại những nhà tư tưởng khoan dung, có trách nhiệm như chúng ta đã được hứa hẹn, nhưng điều đó không có gì đáng ngạc nhiên.

Trên thực tế, việc tuyển sinh ít mang tính học lực (merit) hoặc đa dạng, mà nhằm sự thuận tiện về thể chế. Thật vậy, tờ New York Times đã phát hiện ra rằng 5 trong số 8 trường Ivy League đã nhận học sinh thuộc nhóm 1% có thu nhập cao nhất, nhiều hơn số học sinh thuộc nhóm 60% có thu nhập thấp nhất.

Những bộ phận sinh viên “được tuyển chọn” này không phản ánh trí tuệ của quốc gia, mà phản ánh nhiều hơn về mặt kinh tế xã hội. Thật vậy, trung bình sinh viên Ivy League có 68% là đảng viên Đảng Dân chủ và chỉ 12% là đảng viên Đảng Cộng hòa.

Trong khi đó, Harvard đã giảm bớt các yêu cầu phân bổ bắt buộc, chấp nhận các giáo điều hậu hiện đại, thuê các học giả tùy theo lập trường của họ (agenda-driven scholars) và lao vào mọi hình thức tranh luận chính trị. Giảng viên hầu như không dạy và sinh viên hầu như không học.

Harvard bán ghế cho những người có quan hệ, cho phép những người được bổ nhiệm dành những năm đại học của họ để đắm mình trong một môi trường không có sự khắt khe của tư duy tập thể về hệ tư tưởng, và sau đó cấp giấy phép nhanh chóng cho những cựu sinh viên vào các vị trí quan trọng.

Thật kỳ lạ. Trong phần lớn cuộc đời, thành công dựa trên các giao dịch nội bộ là điều đáng nghi ngờ. Khi nói đến Phố Wall hoặc các câu lạc bộ chơi gôn, việc xếp bài (deck-stacking) được coi là sự xúc phạm đến lý tưởng của người Mỹ.

Tuy nhiên, các trường đại học chính xác đang có kiểu hành động tư lợi đó để thu hút sinh viên và sau đó đưa họ đến thành công trong nghề nghiệp. Và họ được tôn vinh vì điều đó.

Vì vậy, các sinh viên Harvard không “ổn”. Và điều đó rất quan trọng đối với tất cả chúng ta.

https://www.foxnews.com/opinion/what-if-harvard-bad-america

Tác giả Frederick M. Hess là giám đốc nghiên cứu chính sách giáo dục tại Viện Doanh nghiệp Mỹ.  

 

 2023-01-23 

Trường đại học Mỹ đang vận hành giống như băng đảng mafia

(Loretta G. Breuning, Epoch Times, 23/1/2023)

Có nhiều sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa mafia và trường đại học. Bạn không thể từ chối việc theo học trường đại học, cũng giống như không thể từ chối một lời đề nghị của mafia. Bạn được rèn luyện trở nên im lặng trước những sai trái. Hay bạn cũng không thể thoát ra khỏi những ảnh hưởng của trường đại học một khi đã gia nhập. 

Tôi đã nghiên cứu về mafia trong nhiều thập kỷ vì ông bà tôi là người Sicily. Tôi cũng đã là giáo sư trường đại học trong 25 năm, vì vậy tôi có nhiều cơ hội để quan sát những điểm tương đồng giữa mafia và trường đại học.

Hãy bắt đầu sự đánh giá với một số mô tả quen thuộc về mafia và sau đó tìm hiểu sâu hơn.

Đưa ra lời đề nghị không thể bị từ chối

Câu nói này từ tác phẩm Bố già (The Godfather) giải thích lý do tại sao mọi người hợp tác với mafia bất chấp vấn đề về mặt đạo đức. Các trường đại học cũng đưa ra lời đề nghị mà bạn không thể từ chối vì bạn được cho biết rằng bạn sẽ rơi vào cảnh cùng quẫn nếu không học đại học. Khi bạn chấp nhận lời đề nghị, những vấn đề về mặt đạo đức bắt đầu xuất hiện.

Có thể bạn bị áp lực phải lên án tất cả đàn ông, tất cả người da trắng hoặc tất cả những người dị tính không chuyển giới, hoặc bất kỳ ai mà giáo sư không ủng hộ trong tuần này. Có thể bạn phải chấp nhận những lý thuyết mà bạn cho là sai để tránh chọc giận giáo sư. Có thể bạn góp phần hủy hoại một người không tuân theo đường lối chính trị.

Omerta: Sự im lặng của Mafia

Trong một thị trấn mafia, bạn có thể giết ai đó ở quảng trường công cộng và không ai thừa nhận rằng họ đã nhìn thấy điều đó. Trong các trường đại học, sẽ không ai thừa nhận rằng các tiêu chuẩn đã rơi xuống thấp tới mức lố bịch. Mọi người đều có thể thấy rằng điểm cao đến mà không cần làm bài, nhưng không ai dám nói điều đó.

Từ “omerta” trong tiếng Sicily có nghĩa là “khiêm nhường”. Bạn có thể giả vờ rằng sự khiêm nhường thúc đẩy sự im lặng của bạn trong khi mối quan tâm ích kỷ cho lợi ích của bản thân mới là động lực thực sự.

Giáo sư Mỹ: Trường đại học đang vận hành giống như băng đảng mafia
Các sinh viên tốt nghiệp Đại học Delaware tham dự lễ tốt nghiệp tại Sân vận động Delaware, nơi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sẽ đọc diễn văn cho buổi lễ phát bằng, ở Newark, Delaware, Mỹ, vào ngày 28/05/2022. (Ảnh: MANDEL NGAN/AFP qua Getty Images)

Hình bóng của Robin Hood

Các thủ lĩnh mafia giành được sự ủng hộ và thậm chí cả tình yêu của cộng đồng mà họ cướp bóc bằng cách thể hiện mình là người đứng ra bảo vệ người dân khỏi “những kẻ xấu thực sự”. Họ định nghĩa “những kẻ xấu thực sự” theo bất kỳ cách nào hấp dẫn được dân chúng. Các trường đại học làm điều này bằng cách tuyên bố bảo vệ 99% người dân khỏi sự áp bức của 1% còn lại. Điều này dường như rất thu hút 99% người dân.

Người dân có thực sự coi mafia là người tốt ngay cả khi họ cướp đi số tiền khó kiếm được của họ không? Để đề phòng sự phản kháng, mafia xoa dịu dân chúng bằng cách cho bạn một phần lợi nhuận bất chính của họ. Họ thuê người anh rể thất nghiệp của bạn và xây sân bóng đá cho con bạn, miễn là bạn hợp tác. Các trường đại học trao các khoản trợ cấp, thực tập và các vị trí DEI (đa dạng, công bằng, hòa nhập) được trả lương cao cho những người hợp tác.

Chì hay bạc

Mafia bắn những người chống cự. Họ cho bạn lựa chọn giữa chì (đạn) và bạc (tiền) (“plomo o plato”), theo câu nói nổi tiếng của ông trùm Pablo Escobar.

Các trường đại học không bắn bạn, nhưng họ có nhiều cách để làm tổn thương những người chống lại ý thức hệ mà họ áp đặt. Đầu tiên, bạn bị xa lánh và bị làm cho xấu hổ, và nếu bạn vẫn không phục tùng, bạn sẽ bị buộc tội theo một “chủ nghĩa”. Bạn là có tội nếu bị buộc tội, bởi vì không ai mạo hiểm đứng ra bảo vệ bạn do họ cũng sẽ bị tấn công. Bạn không thể có được một công việc hay một cuộc hẹn trừ khi bạn tuân theo lý thuyết học thuật mới nhất.

Sự ma giáo về kinh tế

Mafia là những kẻ ký sinh làm giàu cho bản thân bằng cách cướp đoạt tài nguyên của người khác. Họ không sản xuất bất cứ thứ gì - họ chỉ lấy đi của cải từ những người thực sự sản xuất. Các trường đại học làm điều này một cách tinh vi. Họ chế nhạo những nghề nghiệp mà bạn thực sự sản xuất ra thứ gì đó và hướng sinh viên đến những nghề nghiệp sẽ khai thác tài nguyên từ những người thực sự sản xuất.

Mafia cho những người có đánh giá tín dụng xấu vay với lãi suất cắt cổ, và nếu bạn không trả, họ sẽ đánh gãy chân bạn. Các trường đại học móc nối bạn với các ngân hàng cho bạn vay nhiều hơn mức bạn có thể xử lý, sau đó vận động hành lang các quan chức nhà nước để bạn thoát khỏi tình cảnh khó khăn.

Không thể thoát ra

Bạn không thể rời khỏi mafia một khi đã gia nhập. Lối thoát duy nhất là chiếc quan tài.

Giáo sư đại học không bao giờ nghỉ hưu. Cộng đồng cựu sinh viên đóng góp mãi mãi. Và sinh viên sống mãi với hậu quả của những thói quen xấu mà họ học được ở trường đại học.

Khả năng hoạt động của thần kinh là cao ở tuổi thanh thiếu niên, vì vậy hành vi của bạn trong những năm đó ăn sâu vào tiềm thức. Nếu bạn đạt điểm A mà không cần học hành, điều đó khiến bạn mong đợi phần thưởng mà không cần nỗ lực trong tương lai. Nếu bạn tìm kiếm được sự nổi tiếng theo những cách gây hại cho cơ thể của mình, điều đó sẽ khiến bạn tiến hành giao tiếp xã hội theo những cách tự hủy hoại bản thân sau này.

Các trường đại học gây hại khi họ tưởng thưởng cho hành vi xấu, nhưng họ lại đổ lỗi tất cả cho xã hội, do đó đào tạo cho sinh viên suốt đời đi đổ lỗi.

Kết nối với giai tầng cao

Mafia trả tiền cho các quan chức nhà nước để bảo vệ họ khỏi hệ thống pháp luật phiền phức. Các trường đại học trả công cho các quan chức chính phủ bằng cách dạy sinh viên rằng chính phủ nên mở rộng không ngừng.

Tất nhiên, có sự khác biệt vì mafia đốt và giết, trong khi các trường đại học chỉ ủng hộ đốt bỏ xã hội và bao biện cho những kẻ giết người.

Tính đa dạng

Có mafia Nga, mafia Trung Quốc, mafia Mexico, mafia Colombia và nhiều mafia khu vực trên khắp nước Ý. Bạn có thể hỏi sự đa dạng như vậy có ích lợi gì nếu kết quả vẫn là tội phạm bạo lực.

Giáo sư Mỹ: Trường đại học đang vận hành giống như băng đảng mafia
Người biểu tình giương cao các biển ngữ tại một khuôn viên trường đại học ở California, Mỹ, vào ngày 24/09/2017. (Ảnh: Josh Edelson/AFP qua Getty Images)

Tốt nhất bạn không nên hỏi điều đó ở một trường đại học, nơi mà sự đa dạng tự nó đã là mục đích cuối cùng. Nếu bạn hỏi về lợi ích của nó, bạn sẽ bị coi là phân biệt chủng tộc và điều đó khiến bạn phạm tội thù hận (hate crime - có ác ý theo hướng phân biệt đối xử). Nếu bạn không đồng ý với bất cứ điều gì được phát biểu nhân danh sự đa dạng, các trường đại học sẽ nói rằng lời nói của bạn là “bạo lực theo đúng nghĩa đen” và điều đó sẽ biện minh cho một phản ứng đáp trả bạo lực đối với bạn.

Phủ nhận sự thực

Không ai nói về mafia khi tôi lớn lên. Nếu tôi hỏi, họ sẽ nói đó là phát minh của Hollywood. Hãy tưởng tượng tôi đã ngạc nhiên như thế nào khi biết rằng mafia không chỉ tồn tại mà còn đã từng săn lùng tổ tiên của chính tôi, những người có lẽ … đã tham gia vào mafia.

Các thành viên mafia luôn khẳng định rằng mafia không tồn tại. Sự biện hộ này đã phát huy tác dụng khá tốt đối với họ mặc dù có quá nhiều bằng chứng ngược lại.

Các trường đại học cũng che dấu hệ tư tưởng thực sự mà họ theo đuổi. Họ khăng khăng rằng họ chỉ đang phục vụ lợi ích lớn hơn bằng cách tuân theo “Khoa học” và điều này đã có hiệu quả mặc dù có quá nhiều bằng chứng ngược lại. Có lẽ họ đã học được từ lý thuyết của Hitler rằng những lời nói dối thực sự lớn dễ bị bỏ qua hơn những lời nói dối nhỏ.

Như những chú cừu

Khi người dân hợp tác với mafia, uyển ngữ được sử dụng để làm cho tình huống trở nên thoải mái. Bạn vẫn biết mình đang làm thứ gì đó sai trái, nhưng có vẻ như không sao vì mọi người khác đều đang làm điều đó. Tôi có thể tha thứ cho người Sicily vì họ đã quen với việc chăn cừu theo đúng nghĩa đen trong nhiều thế kỷ. Nhưng tôi thấy khó chịu khi người Mỹ tuân theo hành vi bầy đàn phản dân chủ.

Cùng với hành vi này, các trường đại học của Mỹ được khuyến khích để phỉ báng hệ thống của chính đất nước mình. Thật dễ hiểu khi những du học sinh học tại Mỹ lại trở nên ghét hệ thống của chính nước Mỹ.


Tác giả: Loretta G. Breuning

Tiến sĩ Loretta G. Breuning là người sáng lập Inner Mammal Institute và là Giáo sư Danh dự về Quản lý tại Đại học Bang California, East Bay. Bà là tác giả của nhiều cuốn sách về phát triển bản thân, bao gồm “Thói quen của một bộ não hạnh phúc: Huấn luyện lại bộ não của bạn để tăng cường mức độ Serotonin, Dopamine, Oxytocin và Endorphin của bạn" và "Tôi đã thoát khỏi sự đúng đắn về chính trị như thế nào, và bạn cũng có thể như vậy". Tác phẩm của Tiến sĩ Breuning đã được dịch ra tám thứ tiếng và được trích dẫn trên các phương tiện truyền thông lớn. Trước khi giảng dạy, bà làm việc cho Liên Hợp Quốc ở Châu Phi. Bà tốt nghiệp Đại học Cornell và Tufts. Trang web của bà là InnerMammalInstitute.org.

 

 2022-11-03 

Chính sách tuyển sinh đại học phân biệt chủng tộc vấp phải sự phản đối mạnh mẽ tại Tối cao Pháp viện

Tác giả Matthew Vadum, 03/11/2022

Hôm 31/10, đa phần các thẩm phán Tối cao Pháp viện dường như chấp nhận lập luận của một nhóm sinh viên rằng các chính sách tuyển sinh phân biệt chủng tộc tại các trường đại học Hoa Kỳ là vi hiến và phải bị bãi bỏ.

Chính phủ Tổng thống Biden đã phản đối rằng những chính sách như vậy nên được phép tiếp tục vô thời hạn vì chúng thúc đẩy sự đa dạng, điều mà họ tuyên bố có lợi cho đất nước này. 

Mặc dù các nhà hoạt động cánh tả chẳng hạn như những người ủng hộ thuyết chủng tộc trọng yếu có nguồn gốc từ chủ nghĩa Marx cho rằng các chính sách có ý thức về chủng tộc là điều cần thiết để xóa bỏ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc có hệ thống mà họ cho rằng đó là một khoảng thời gian đen tối đối với hầu hết người Mỹ, nhưng các nhà phê bình cho rằng việc sử dụng yếu tố chủng tộc trong quá trình tuyển sinh đại học vừa lạc hậu vừa sai lầm.

Việc sử dụng các tiêu chí dựa trên chủng tộc của các cơ sở giáo dục đại học trong quá trình tuyển sinh là không được tán thành. Các cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew và Gallup cho thấy gần 75% người Mỹ thuộc mọi chủng tộc “không tin rằng chủng tộc hoặc sắc tộc phải là một yếu tố trong việc tuyển sinh đại học.” 

Các nhà phê bình trích dẫn lời của Thẩm phán Tối cao Pháp viện đương thời Sandra Day O’Connor, người tin rằng chính sách này là một tội ác tạm thời cần thiết mà cuối cùng sẽ phải chấm dứt.

Bà đã viết trong vụ Grutter kiện Bollinger (năm 2003), “Chúng tôi hy vọng rằng 25 năm sau kể từ bây giờ, việc sử dụng các ưu tiên về chủng tộc sẽ không còn cần thiết để thúc đẩy quyền lợi được chấp thuận hiện nay.”  

Bà O’Connor viết rằng việc đưa ra các quyết định tuyển sinh tập trung vào chủng tộc là “nguy hiểm,” gọi đó là “lệch khỏi tiêu chuẩn đối xử bình đẳng.” Các chương trình như vậy phải “có giới hạn về thời gian,” bà nói, và cho biết thêm, “toàn bộ việc chính phủ sử dụng chủng tộc phải có một điểm kết thúc hợp lý.” 

Thẩm phán Ketanji Brown Jackson đã cáo tỵ khỏi vụ kiện Harvard này vì bà có mối liên hệ mật thiết với trường đại học này. Thẩm phán Elena Kagan đã không cáo tỵ mặc dù từ năm 2003 đến năm 2009, bà là chủ nhiệm khoa của Trường Luật Harvard. 

Hai phiên điều trần liên tiếp diễn ra trong gần 5 giờ đồng hồ đã giải quyết hai vụ kiện, Sinh viên vì Tuyển sinh Công bằng (SFFA) kiện Chủ tịch và các Thành viên của Đại học Harvard, hồ sơ tòa án số 20-1199 và vụ SFFA kiện Đại học North Carolina (UNC), hồ sơ tòa án số 21-707. Hai trường Harvard và UNC lần lượt là trường đại học tư thục lâu đời nhất và trường đại học công lập lâu đời nhất ở Hoa Kỳ. 

Luật sư Patrick Strawbridge của SFFA nói với các thẩm phán rằng “việc phân loại về chủng tộc là sai lầm.”

“Nguyên tắc đó đã được khắc ghi vào luật pháp của chúng ta sau cuộc Nội Chiến với cái giá phải trả quá đắt,” ông nói. “Một thế kỷ chống lại thái độ trung lập về chủng tộc đã theo sau, nhưng phán quyết mang tính bước ngoặt của tòa án này trong vụ kiện Brown đã dứt khoát và kiên quyết bác bỏ quan điểm rằng việc phân loại về chủng tộc có bất kỳ vai trò nào trong việc cung cấp các cơ hội giáo dục.”

Ông Strawbridge đang đề cập đến vụ Brown kiện Hội đồng Giáo dục, phán quyết mang tính bước ngoặt năm 1954. Trong vụ kiện đó, Pháp viện đã tuyên bố rằng các luật tiểu bang quy định sự phân loại về chủng tộc trong các trường công lập là vi hiến. 

Luật sư này cho biết, kể từ vụ kiện Brown này, Pháp viện đã “thực thi rộng rãi” lệnh cấm của Hiến pháp về phân loại chủng tộc.

“Bất kể nhân tố nào được sử dụng để chính phủ lựa chọn ra các bồi thẩm viên, quý vị có thể kết hôn với ai, hay để [xem xét] con em chúng ta có thể nhập học trường tiểu học nào, thì màu da không phải là một trong số đó.” 

Tuy nhiên, theo ông Strawbridge, phán quyết trong vụ kiện Grutter, vốn ủng hộ những phân loại như vậy trong tuyển sinh đại học, “là một ngoại lệ điển hình đối với quy tắc này” và cần được lật ngược vì đó là “sai lầm nghiêm trọng.”

Nhân danh sự đa dạng, điều đó biện minh cho phân loại chủng tộc, vốn mâu thuẫn với “sự bảo đảm đối xử bình đẳng của Tu chính án thứ Mười Bốn” và dựa trên “những giả định khuôn sáo rằng chủng tộc nhất thiết phải là đại diện cho quan điểm của một người.” 

Ông Strawbridge cho biết, phán quyết của vụ kiện Grutter khuyến khích các ứng viên đại học “che giấu chủng tộc của họ” và làm tổn thương các sinh viên trúng tuyển vì mọi người cho rằng “chủng tộc đóng vai trò trong việc họ được nhận vào trường.” 

Thẩm phán Jackson đã phản đối ông Strawbridge, hạ thấp vai trò của chủng tộc trong việc tuyển sinh vào Đại học North Carolina.

“Khi quý vị cho biết chủng tộc của quý vị là gì, quý vị sẽ không nhận được bất kỳ điểm đặc biệt nào,” bà nói. “Chủng tộc được đối xử như các yếu tố khác trong hệ thống giáo dục. Không ai tự động tham gia bởi vì yếu tố chủng tộc đang được sử dụng.” 

Ông Strawbridge đã trả lời rằng một số ứng viên đang bị tổn thương vì “Đại học North Carolina dành ưu tiên về yếu tố chủng tộc cho người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Tây Ban Nha, và người thuộc thổ dân Mỹ Châu. Trường đại học này không … ưu tiên về chủng tộc cho các ứng viên da trắng và cho các ứng viên gốc Á Châu.” 

Chánh án John Roberts cho biết người Mỹ gốc Á “là những người bị phân biệt đối xử.” 

Bà Kagan cho rằng việc loại bỏ các tiêu chí chủng tộc sẽ không công bằng đối với “những người đã bị xã hội của chúng ta bài xích trong nhiều thế kỷ.” 

Tổng Biện lý Sự vụ North Carolina, ông Ryan Park, đã nói với những thẩm phán này rằng các chính sách có chủ ý phân biệt chủng tộc của Đại học North Carolina tìm cách “thực hiện tầm nhìn trong vụ kiện Brown bằng cách tập hợp một nhóm sinh viên đa dạng … bao gồm chủng tộc, nhưng cũng gồm có tầng lớp xã hội, địa lý, tình trạng quân sự, quan điểm trí tuệ, và nhiều hơn nữa.”

Ông Park nói, “Môi trường học tập này giúp chúng tôi tìm kiếm sự thật, xây dựng các mối liên kết giữa các sinh viên thuộc các thành phần khác nhau, và quan trọng là ở đây, trang bị cho sinh viên những công cụ cần thiết để hoạt động hiệu quả với tư cách là các công dân và các nhà lãnh đạo trong xã hội phức tạp và ngày càng đa dạng của chúng ta.” 

Ông Clarence Thomas, một thẩm phán hoài nghi, nói với ông Park, “Tôi đã nghe từ ngữ ‘đa dạng’ này khá nhiều lần, và tôi không biết từ ngữ này có nghĩa là gì. Dường như có nghĩa là mọi thứ cho tất cả mọi người.” 

Thẩm phán Amy Coney Barrett cho biết vụ án Grutter có nghĩa là “việc phân loại về chủng tộc có khả năng nguy hiểm đến mức” chúng phải có “điểm kết thúc hợp lý … các giới hạn về khoảng thời gian hợp lý, [cũng như] các điều khoản về thời điểm chấm dứt việc này.”

Bà hỏi, “Vậy thì khi nào việc này kết thúc?” 

Biện lý Cameron T. Norris của SFFA cho biết Harvard đang phân biệt đối xử với người Mỹ gốc Á Châu giống như cách mà trường này đã phân biệt đối xử với người Do Thái hồi những năm 1920.

Ông Norris nói, đây là “điều đáng hổ thẹn nhưng đó là kết quả có thể dự đoán được khi cho phép các trường đại học sử dụng chủng tộc trong quá trình rất mang tính chủ quan này.” 

Ông nói: “Đối với những ứng viên có tính cạnh tranh, việc chọn đúng ô chủng tộc là điều quan trọng trên thang điểm tuyển sinh, có giá trị ngang với những thành tích vô cùng hiếm gặp như một giải vô địch quốc gia.”

“Pháp viện nên thừa nhận rằng họ đã sai về vụ Harvard, sai về vụ Grutter, và sai về việc để lý thuyết độc hại của sự phân loại theo chủng tộc thấm ngược vào nền giáo dục.” 

Ông David G. Hinojosa, một luật sư đứng về phía những sinh viên ủng hộ các tiêu chí tuyển sinh theo chủng tộc, cho biết tòa án này “phải giữ vững cam kết bảo đảm bình đẳng chủng tộc và cơ hội bình đẳng” bằng cách khẳng định rằng án lệ hiện có sẽ giúp xây dựng “một nền dân chủ thực sự.” 

Tổng Biện lý Sự vụ Hoa Kỳ Elizabeth Prelogar nói với những thẩm phán này rằng “trường học đa dạng sinh viên là một quyền lợi hấp dẫn có thể biện minh cho việc cân nhắc hạn chế về chủng tộc trong tuyển sinh đại học.” 

“Khi sinh viên thuộc mọi chủng tộc và hoàn cảnh đến đại học, sống và học tập cùng nhau, họ sẽ trở thành những đồng sự tốt hơn, những công dân tốt hơn, và những nhà lãnh đạo tốt hơn,” bà nói, và cho biết thêm rằng nguyên tắc tương tự cũng “là một đòi hỏi an ninh quốc gia trọng yếu.” 

“Các lực lượng vũ trang của chúng ta biết từ kinh nghiệm thực tế rằng khi chúng ta không có một quân đoàn sĩ quan đa dạng phản ánh rộng rãi lực lượng chiến đấu đa dạng, sức mạnh và sự gắn kết của chúng ta và sự sẵn sàng của quân đội sẽ bị ảnh hưởng.”

“Việc lật ngược vụ kiện Grutter sẽ có các tác động tàn khốc đối với nỗ lực của quốc gia chúng ta nhằm tiến gần hơn đến một liên minh hoàn hảo hơn, nơi sự đa dạng của quốc gia chúng ta là một nguồn sức mạnh lớn nhất của đất nước. Và tôi nghĩ rằng Pháp viện không nên thực hiện bước gây mất ổn định do lật ngược án lệ này.” 

Ông Norris cho biết Harvard “không đa dạng chút nào.”

Ngoài các số liệu thống kê về chủng tộc, “9% sinh viên năm nhất nhập học tại Harvard là những người theo phái bảo tồn truyền thống. 82% sinh viên Harvard là giàu có. Trong khuôn viên trường này, cứ 23 sinh viên nhà giàu thì mới có một sinh viên đến từ gia đình có thu nhập thấp.” 

Ông Norris nói, “quyền lợi hấp dẫn” được đề cập trong vụ kiện Grutter không phải là điều thực sự đang được theo đuổi trong khuôn viên trường Harvard.

Thẩm phán Neil Gorsuch đã phản đối luật sư Harvard Seth Waxman, người bảo vệ các chính sách của trường này.

Có nhiều đơn được đệ trình lên Pháp viện cho biết các ứng viên người Mỹ gốc Á Châu báo cáo rằng “có cả một ngành công nghiệp giúp họ ít thể hiện tính Á Châu hơn trong các đơn ứng tuyển đại học của họ.” 

Ông Waxman đã trả lời rằng người Mỹ gốc Á Châu được hưởng lợi từ “một chính sách tuyển sinh toàn thể vốn xem chủng tộc là một trong nhiều các yếu tố khác.” 

Ông Waxman nói rằng đối với một số ứng viên, chủng tộc “có thể là yếu tố quyết định, cũng giống như việc là … một người chơi kèn oboe trong một năm học mà dàn nhạc Harvard–Radcliffe cần một người chơi kèn oboe sẽ là thông tin hữu ích.” 

Chánh án Roberts đáp lại: “Chúng ta đã không chiến đấu trong một cuộc nội chiến về vấn đề những người chơi kèn oboe. Mà chúng ta đã chiến đấu trong một cuộc nội chiến để xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc, và đó là lý do tại sao đó là một vấn đề … đáng quan tâm.”