Quân đội Liên bang và Liên minh miền Nam chiến đấu trong Trận Franklin ở Tennessee vào ngày 30/11/1864. (Ảnh: MPI/Getty Images)
Một lý do là, việc phóng thích hàng triệu nô lệ đã gây ra những hậu quả không lường trước được.
Trong thời kỳ lập quốc, các tiểu
bang miền Bắc đã tìm cách giảm bớt những gì mà họ coi là lợi thế chính
trị không công bằng của miền Nam — cuộc thống kê dân số đã tính cả số
lượng nô lệ cho việc chia ghế trong Hạ viện và Đại cử tri Đoàn, nhưng nô
lệ sẽ không được phép bỏ phiếu, từ đó tăng quyền bầu cử cho người miền
Nam tự do.
Đó là lý do tại sao miền Bắc
khăng khăng không tính nô lệ, trong khi miền Nam muốn họ được tính. Cuối
cùng, một thỏa hiệp đã đạt được là một người nô lệ được tính bằng 3/5
so với một người [tự do].
Sau khi được trả tự do, những
người nô lệ trước đây sẽ lại được coi là một con người trọn vẹn, điều
này sẽ “khuếch đại quyền lực chính trị của các tiểu bang sở hữu nô lệ
khi những tiểu bang này quay trở lại Quốc hội,” ông Lash nói.
Sau chiến tranh, Đảng Dân Chủ
miền Nam ngay lập tức thiết lập “Luật người da đen” (Black Codes), trên
thực tế đã ngăn chặn các quyền của người Mỹ gốc Phi Châu, bao gồm cả
quyền bầu cử, và chặn trước việc hình thành một khối Cộng Hòa ở miền
Nam.
Ông Lash cho biết, Đảng Dân Chủ
miền Nam và miền Bắc đang trên đà hợp tác để giành đa số trong Quốc hội,
dập tắt chương trình “Tái thiết” của Đảng Cộng Hòa.
“Đây là mối nguy hiểm trước mắt đối với Đảng Cộng Hòa và Liên bang.”
Đảng Cộng Hòa đã sẵn sàng sử dụng các
biện pháp cực cấp tiến để ngăn chặn một mối nguy hiểm như vậy. Khi các
nghị sĩ Đảng Dân Chủ miền Nam quay trở lại Quốc hội vào lúc Quốc hội
nhiệm kỳ thứ 39 bắt đầu vào tháng 12/1865, khối đa số Đảng Cộng Hòa tại
Hạ viện đúng là đã từ chối xướng tên và xếp chỗ cho họ.
Dân biểu James Brooks (Dân
Chủ-New York), một thành viên Đảng Dân Chủ nổi bật ở miền Bắc, đã yêu
cầu Thư ký Hạ viện giải thích, nhưng Dân biểu Thaddeus Stevens (Cộng
Hòa-Pennsylvania) xen vào: “Điều đó không cần thiết. Chúng tôi biết tất
cả.”
“Mọi chuyện vô cùng căng thẳng,” ông Lash nói.
Tổng thống (TT) Andrew Johnson, một
thành viên Đảng Dân Chủ miền Bắc từng đồng tranh cử với TT Lincoln vào
năm 1864 với tư cách phó tổng thống liên danh thuộc Đảng Liên minh Quốc
gia, không đồng tình với việc loại trừ các nghị sĩ miền Nam. Ông Lash
cho biết, sự rạn nứt giữa Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hòa ngày càng lan
rộng, một sự chia rẽ bao trùm khắp đất nước.
Ông cho rằng nếu các thành viên
Đảng Dân Chủ miền Bắc và miền Nam kết hợp để chiếm một khối đa số trong
cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1866, thì có rất có thể TT Johnson sẽ hợp
tác với họ để thành lập một Quốc hội mới từ chối cho các nghị sĩ Đảng
Cộng Hòa tham gia và “loại bỏ hoàn toàn Quốc hội của Đảng Cộng Hòa.”
“Có thể chúng ta sẽ có hai chính phủ cạnh tranh nhau sau cuộc bầu cử năm 1866 và điều đó sẽ dẫn đến cuộc nội chiến thứ hai.”
Để tìm ra một giải pháp, Đảng
Cộng Hòa ở cả Hạ viện và Thượng viện đã thành lập Ủy ban Chung về Tái
thiết để nhanh chóng soạn thảo các sửa đổi Hiến Pháp nhằm bảo đảm những
người được phóng thích ở miền Nam được phép thực hiện các quyền của
mình.
Họ cũng nhận thấy cần phải ngăn
chặn những người từng gia nhập Liên minh nắm quyền, gần như là một hình
phạt cho tình trạng tàn sát khốc liệt trong chiến tranh và cũng là một
lời quở trách cho TT Johnson, người đang ân xá một cách hào phóng cho
những người từng nổi dậy.
Ủy ban này đã đưa ra hàng loạt đề
xướng nhưng đều thất bại. Không chỉ các thành viên Đảng Dân Chủ phản
đối gay gắt kế hoạch này, mà ngay cả các thành viên Đảng Cộng Hòa cũng
mâu thuẫn nội bộ. Những người cực cấp tiến tìm cách trừng phạt miền Nam
một cách nghiêm khắc vì những gì họ xem là phản bội, trong khi những
người ôn hòa tìm kiếm sự khoan hồng để theo đuổi một giải pháp hòa giải.
Một cánh mới của phe Bảo tồn Truyền thống Thiên tả đã xuất hiện, thúc
đẩy sự khoan dung hơn nữa đối với miền Nam.
Cuối cùng, nhà hoạt động Đảng
Cộng Hòa Robert Owen đã đề xướng với ông Stevens một cách tiếp cận khác —
tập hợp tất cả những đề xướng này lại với nhau và đe dọa phá hủy toàn
bộ nỗ lực nhằm buộc những người bất đồng chính kiến phải thuận theo một
tiêu chuẩn chung.
Ủy ban này đã làm như vậy, đưa ra một bản dự thảo gần với bản sửa đổi cuối cùng, ngoại trừ Mục 3.
Mục 3 cấm các thành viên nào từng
tham gia cuộc nổi loạn của Liên minh miền Nam bỏ phiếu bầu cử Quốc hội
và Đại cử tri Đoàn. Quốc hội không muốn điều này. Một số thành viên cho
rằng mục này đã tước đoạt quyền bầu cử của quá nhiều người Mỹ. Những
người khác cho rằng điều khoản về Đại cử tri Đoàn rất dễ bị lách luật vì
các tiểu bang có thể thông qua luật bổ nhiệm đại cử tri thay vì bỏ
phiếu cho họ.
Ông Lash nói: “Mục này đã bị băm thành nhiều mảnh nhỏ.”
Vì không muốn gây nguy hiểm cho phần còn lại của đề xướng này, nên Hạ viện đã thông qua dự thảo sửa đổi đó.
Tuy nhiên, các thành viên Đảng Cộng Hòa
tại Thượng viện không chấp nhận điều đó. Họ khẳng định Mục 3 phải bị bác
bỏ và thay thế. Sau khi bế tắc tại Thượng viện, Đảng Cộng Hòa rút lui
để tiếp tục thảo luận riêng. Những cuộc thảo luận được cho là “bí mật”
lại chẳng có gì là bí mật. Các thượng nghị sĩ luôn cập nhật cho báo chí
về tiến trình đàm phán của họ, hay đúng hơn là thiếu tiến trình đó. Cuối
cùng, năm Thượng nghị sĩ, những người phục vụ trong Ủy ban Chung ban
đầu, được yêu cầu soạn thảo ngôn ngữ mới cho Mục 3 với sự hiểu biết rằng
bất cứ điều gì họ viết ra đều sẽ được chấp thuận.
Thượng nghị sĩ William Fessenden
(Cộng Hòa-Maine) đã chuyển kết quả tới nhóm họp kín, ghi nhận công lao
của hai đồng nghiệp của ông là Thượng nghị sĩ Jacob Howard (Cộng
Hòa-Michigan) và Thượng nghị sĩ James Grimes (Cộng Hòa-Iowa), vì đã đưa
ra bản dự thảo mà sau đó đã được nhóm họp kín đồng lòng thông qua chỉ
với một số điều chỉnh. Trở lại sàn Thượng viện, Đảng Cộng Hòa sau đó đã
bác bỏ mọi phản đối và thông qua toàn bộ bản sửa đổi.
Phiên bản cuối cùng của Mục 3 thể
hiện một thất bại nặng nề đối với những thành viên cực cấp tiến của
Đảng Cộng Hòa. Khác xa với việc tước quyền bầu cử của những người nổi
dậy trong Liên minh miền Nam, mục này chỉ cấm những người trước đây đã
tuyên thệ với Hiến Pháp được nắm giữ một số chức vụ nhất định, ông Lash
đã viết trong bài nghiên cứu gần đây của mình, “Ý nghĩa và sự mơ hồ của
Mục 3 trong Tu chính án thứ 14.”
Khi đó, Thượng nghị sĩ Lyman
Trumbull (Cộng Hòa-Illinois) nói với báo chí rằng điều này “nhằm tạo ra
một sự kỳ thị, một sự ô nhục nào đó đối với những người lãnh đạo cuộc
nổi dậy này.”
“Không còn cách nào khác để làm điều đó ngoại trừ điều khoản kiểu như thế này.”
Trở lại Hạ viện, ông Stevens chỉ
trích Mục 3 mới là không thỏa đáng, và khẩn nài Quốc hội thông qua “các
đạo luật tạo điều kiện thích hợp” để Tu chính án này có hiệu lực nhằm
tránh việc nó “có thể trao Quốc hội và Tổng thống tiếp theo cho phe nổi
dậy được tái thiết này.”

Hạ viện ở Hoa Thịnh Đốn năm 1868. (Ảnh: MPI/Getty Images)
Bất chấp sự phản đối của mình, ông
vẫn ủng hộ Tu chính án, và Hạ viện đã thông qua ngay sau đó, giao văn
kiện này cho các tiểu bang phê chuẩn.
Tuy nhiên, hầu hết các tiểu bang miền Nam đều từ chối phê chuẩn.
Đảng Cộng Hòa, được củng cố bởi
chiến thắng quyết định trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1866, đã phản
ứng bằng cách thông qua hai Đạo luật Tái thiết áp đặt lên miền nam một
loạt yêu cầu như một điều kiện để tiếp nhận họ vào liên minh và cho phép
các nghị sĩ của họ được ngồi vào ghế.
Các điều kiện bao gồm việc bãi bỏ
Luật người da đen, thông qua Hiến Pháp mới của các tiểu bang, chuyển
các tiểu bang dưới sự giám sát chính thức của quân đội và phê chuẩn Tu
chính án thứ 14. Tổng thống Johnson phủ quyết các dự luật này, nhưng
Đảng Cộng Hòa đã phủ quyết ông ấy.
Tuy nhiên, miền Nam vẫn không hợp tác.
Đạo luật Tái thiết chỉ thị quân
đội giám sát việc bỏ phiếu và ghi danh cử tri ở miền Nam, cho phép người
Mỹ gốc Phi Châu được quyền tham gia. Sau đó, những cử tri mới này đã
giúp khởi động các Hội nghị Lập hiến, thông qua Hiến Pháp mới của các
tiểu bang, thành lập các chính phủ mới, và trong số này đã có đủ số
người phê chuẩn Tu chính án để kế hoạch này vượt qua được sự chấp thuận
cần thiết của 3/4 số tiểu bang.
Cuối cùng, vào ngày 09/07/1868, Tu chính án thứ 14 đã được thông qua.
Mục 3 quy định: “Những người đã
tuyên thệ ủng hộ Hiến Pháp của Hoa Kỳ với tư cách là thành viên của Quốc
hội, hoặc quan chức của Hoa Kỳ, hoặc thành viên của cơ quan lập pháp
của bất kỳ tiểu bang nào, hoặc quan chức hành pháp hoặc tư pháp của bất
kỳ tiểu bang nào nhưng lại tham gia vào cuộc nổi dậy hay nổi loạn chống
lại Hiến Pháp hoặc trợ giúp hoặc úy lạo kẻ thù, thì không thể là Thượng
nghị sĩ hoặc Dân biểu trong Quốc hội, hoặc đại cử tri để bầu Tổng thống
và Phó Tổng thống, hoặc giữ bất kỳ chức vụ nào, dân sự hay quân sự, dưới
Hoa Kỳ hoặc dưới một tiểu bang nào đó. Nhưng Quốc hội có thể loại bỏ
tình trạng không đủ tư cách đó bằng hai phần ba số phiếu của mỗi viện.”
Hồ sơ ghi chép còn hạn chế
Để giải thích Hiến Pháp, việc xem xét
cuộc tranh luận diễn ra trước khi luật được thông qua và phê chuẩn
thường rất hữu ích. Tuy nhiên, theo ông Dave Kopel, giám đốc nghiên cứu
của Viện Độc lập và là chuyên gia về Hiến Pháp và bối cảnh pháp lý thế
kỷ 18, trong trường hợp của Mục 3, hồ sơ ghi chép của Quốc hội còn hạn
chế.
“Chắc chắn mục này không trả lời
được mọi thứ và không có phạm vi lớn đến thế,” ông Kopel cho biết.
“Chúng ta đã có một số thông tin về việc áp dụng ban đầu và đó gần như
là tất cả những gì chúng ta có.”
Ông Lash cho biết, việc thiếu sự
rõ ràng về mặt lịch sử và việc thiếu nghiên cứu chung về chủ đề này
khiến việc giải thích trở nên phức tạp.
Ông nói: “Không có chuyên gia nào về Mục 3. “Chúng ta sẽ nắm bắt được vấn đề này khi đi tiếp.”
Mang tính thỏa hiệp, văn bản của
Mục 3 bị ảnh hưởng bởi một số áp lực cạnh tranh. Những người cực cấp
tiến muốn mục này trừng phạt những kẻ nổi loạn trước đây và ngăn họ tiến
vào hội trường Quốc hội.
Ông Stevens tuyên bố nếu không có
mục này, “cánh bên đó của Hạ viện sẽ tràn ngập những kẻ ly khai la hét
và rít lên như rắn độc.”
Tuy nhiên, mục này cũng không thể quá sâu rộng vì nó sẽ đẩy lùi những người theo chủ nghĩa ôn hòa và thiên tả.
Trong khi đó, mục này cần phải được xây dựng nhanh chóng vì nó đang cản trở toàn bộ Tu chính án thứ 14.
Với những hạn chế này, hầu như
tất cả các cuộc tranh luận về Mục 3 đều tập trung vào những vấn đề cấp
thiết nhất — ngăn chặn những người nổi dậy trước đây vào Quốc hội và
ngăn họ gây ảnh hưởng đến Đại cử tri Đoàn trong cuộc bầu cử năm 1868 sắp
đến gần, theo ông Lash và các ghi chép lịch sử.
“Đó là điều mà mọi người lưu tâm.
Mọi người đều nhìn vấn đề này dưới góc độ: ‘Làm thế nào để chúng ta đối
phó với những kẻ sát nhân hàng loạt trong Nội chiến vốn là những kẻ
điều hành các nhà tù và bỏ đói tù nhân chiến tranh của chúng ta cho đến
chết, những kẻ phải chịu trách nhiệm cho 600,000 người tử vong ở miền
Bắc và miền Nam và hiện là những người tạo ra hàng ngàn kẻ nổi loạn đang
chực chờ,’” ông nói.
Hầu như không có tranh luận về
hậu quả rộng hơn của điều khoản này. Liệu điều khoản đó sẽ chỉ áp dụng
cho Liên minh miền Nam hay sẽ được áp dụng cho bất kỳ cuộc nổi dậy nào
trong tương lai? Chính xác thì mục này được thực thi như thế nào? Liệu
mục này có áp dụng cho tổng thống và phó tổng thống hay không?
Đối với hầu hết các câu hỏi như
vậy, “có những lập luận đáng tôn trọng theo cả hai cách và đó không phải
là vấn đề pháp luật được giải quyết rõ ràng,” ông Kopel cho biết.

Những cuộc nổi dậy trong tương lai
Cuộc tranh luận về Mục 3 tập trung trực
tiếp vào Liên minh miền Nam. Tuy nhiên, ông Lash tìm thấy vài nhận xét
cho thấy ít nhất một số nhà lập pháp vào thời điểm đó đã hiểu mục này
cũng áp dụng cho các cuộc nổi dậy trong tương lai.
Thượng nghị sĩ John Henderson
(Cộng Hòa-Missouri) nói: “Mục này được soạn ra để tước quyền nắm giữ
chức vụ công quyền đối với những người lãnh đạo cuộc nổi dậy trong quá
khứ cũng như những người lãnh đạo của bất kỳ cuộc nổi dậy nào từ đó trở
đi.”
Dân biểu Schuyler Colfax (Cộng
Hòa-Indiana), Chủ tịch Hạ viện vào thời điểm đó, cho rằng Tu chính án
thứ 14 đã “được gắn vào những bức tường thành bất diệt của Hiến Pháp
quốc gia chúng ta, mà những làn sóng ly khai phản đối tu chính án này có
thể ập đến trong tương lai nhưng cũng vô ích mà thôi.”
Không có chỗ nào trong nội dung
văn bản gốc của điều khoản này nói rằng nó chỉ giới hạn trong quá khứ.
Và nhiều chuyên gia thừa nhận rằng, nội dung văn bản gốc là chỗ mà Tối
cao Pháp viện bắt đầu công việc phân tích của mình.
Ngay cả khi Đảng Cộng Hòa có ý
định rằng Mục 3 chỉ áp dụng cho Liên minh miền Nam, thì có lẽ họ sẽ
không muốn diễn đạt ý định này theo cách đó vì điều đó sẽ bị công kích
là một dự luật về tước quyền công dân — một luật tuyên bố một người hoặc
một nhóm người phạm pháp.
Điều 1 Mục 9 của Hiến Pháp nghiêm cấm những dự luật như vậy.
Trong các trường hợp hiếm hoi
được ghi chép mà trong đó Mục 3 được thi hành, từng có lập luận được đưa
ra để phản đối dự luật về tước quyền công dân này, nhưng đã thất bại.
Tự động có hiệu lực
Mục 3 được viết theo cách ám chỉ rằng
luật này sẽ “tự động có hiệu lực,” có nghĩa là không cần Quốc hội thông
qua dự luật riêng để thi hành, theo ông William Baude, giáo sư luật tại
Đại học Chicago, và ông Michael Paulsen, giáo sư luật tại Đại học St.
Thomas, cả hai ông đều là những chuyên gia xuất sắc về giải thích Hiến
Pháp.
Mục 5 của Tu chính án thứ 14 nói rằng “Quốc hội có quyền thực thi” tu chính án này “bằng luật thích hợp.”
Nhưng điều đó không có nghĩa là
Quốc hội phải làm như vậy để Tu chính án này có hiệu lực, hai vị giáo sư
này nói trong một bài phân tích năm 2023, “The Sweep and Force of
Section Three” (Sự Sâu rộng và Quyền lực của Mục Ba).
Ông Lash nói đó là một “lập luận hợp lý.”
Vì “tự động có hiệu lực” nên Mục 3
có thể được thực thi bởi “bất kỳ ai có thẩm quyền pháp lý (theo luật
liên bang hoặc tiểu bang liên quan) để quyết định xem một người nào đó
có đủ tư cách đảm nhận chức vụ hay không,” theo Bài phân tích pháp lý
của hai ông William Baude and Michael Stokes Paulsen (sau đây gọi tắt là
phân tích Baude-Paulsen).
“Do đó, Mục 3 hoạt động như một
kiểu hệ thống miễn dịch của Hiến Pháp, điều động mọi quan chức chịu
trách nhiệm về việc áp dụng Hiến Pháp để không cho phép những người về
căn bản đã phản bội lệnh của Hiến Pháp được tiếp tục hoặc quay trở lại
nắm quyền.”
Theo cách giải thích này, bất kỳ quan
chức đơn độc nào được giao nhiệm vụ xác minh, chẳng hạn, liệu một ứng
cử viên tổng thống có đạt tối thiểu là 35 tuổi hay không cũng có thể tự
động phân xử liệu một ứng cử viên như vậy có tham gia nổi dậy hay không.
Đổng lý tiểu bang Maine quả thực
đã làm như thế khi được đặt vào vị trí như vậy, và tuyên bố rằng cựu
Tổng thống Trump nên bị loại khỏi cuộc bầu cử.
Nhưng ông Lash cảnh báo không nên giải thích như vậy.
Ông cho biết rằng ông Stevens đã
hai lần công khai nói trong quá trình soạn thảo rằng điều khoản này sẽ
đòi hỏi phải có luật để thực thi.
“Điều khoản này sẽ không tự động có hiệu lực,” ông Stevens nói về bản dự thảo của Hạ viện.
“Vào thời điểm đó, hoặc bất kỳ
thời điểm nào trước khi điều khoản này được thông qua lần cuối, không có
ai là không đồng tình với tuyên bố của ông Stevens rằng điều khoản này
sẽ không tự động có hiệu lực, hoặc đề nghị soạn thảo lại điều khoản để
có thể thi hành ngay cả khi không có dự luật của Quốc hội,” ông Lash cho
biết.
Tuy nhiên, phân tích
Baude-Paulsen lập luận rằng những điều mà những người soạn thảo này chủ
định không quan trọng bằng những gì họ thực sự đã thông qua.
Chỉ vì một số hậu quả từ ngôn từ
của Mục 3 “là nằm ngoài ý định của một số người đã bỏ phiếu cho nó”
không có nghĩa là “những gì họ đã bỏ phiếu thông qua không gây ra những
hậu quả này,” hai tác giả này cho biết.
Hiến Pháp được giải thích đúng
đắn dựa trên ý nghĩa văn bản gốc của Hiến Pháp tại thời điểm phê chuẩn,
chứ không phải là những gì mà các nhà lập pháp đã nghĩ đến khi thông qua
Hiến Pháp, họ giải thích, và gọi đó là “một sai lầm kinh điển: hoán đổi
mục đích ban đầu thành ý nghĩa ban đầu.”
Tuy nhiên, ông Lash chỉ ra rằng
cách mà những người soạn thảo trình bày một văn bản cũng ảnh hưởng đến
cách những người phê chuẩn hiểu văn bản đó.
Ông nói: “Đây là lý do tại sao hầu hết các cuộc tranh luận tại Quốc hội đều có liên quan—chúng được đăng trên báo hàng ngày.”
“Hiến Pháp xuất phát từ người dân,” ông Kopel nói. “Chính cách hiểu ban đầu của người dân mới là chủ đạo.”
Một số học giả cho rằng Mục 3 chắc
chắn là tự động có hiệu lực vì các phần khác của Tu chính án thứ 14, đặc
biệt là Mục 1, đều là tự động có hiệu lực.
Ông Lash cho rằng không nhất thiết là như vậy.
“Đây đều là những bản sửa đổi
khác nhau từ ban đầu và được tập hợp lại vào phút chót. Vì vậy, tôi nghĩ
rất có thể chúng ta sẽ có một mục là tự động có hiệu lực và một mục thì
không,” ông nói.
Chức năng của mỗi mục cũng có thể đóng một vai trò riêng.
Ông Lash cho biết, “Những mục
khác nhau này của Tu chính án thứ 14 đều có chức năng riêng. Mục 1 cấp
các quyền và việc mục này tự động có hiệu lực là điều dễ hiểu. Nhưng Mục
3 tước bỏ các quyền và việc tước bỏ các quyền là điều làm nảy sinh ra
những vấn đề cần xem xét về thủ tục pháp lý chính đáng và quy trình tố
tụng công bằng.”
“Trên thực tế, tầm quan trọng của
nguyên tắc cụ thể đó cũng đã được giới thiệu trong Mục 1. Và do đó, để
nhất quán với yêu cầu về thủ tục pháp lý chính đáng của Mục 1, chúng ta
cần bảo đảm rằng Mục 3 không tước bỏ bất kỳ quyền nào nếu không có thủ
tục pháp lý chính đáng.”
Thủ tục pháp lý chính đáng
Phân tích Baude-Paulsen lưu ý rằng, điều khoản về Thủ tục Pháp lý Chính đáng bảo vệ “quyền được sống, quyền tự do, hoặc quyền sở hữu.”
“Điều không mấy rõ ràng là liệu
quyền giữ chức vụ công quyền có phải là một hình thức của quyền được
sống, quyền tự do, hoặc quyền sở hữu hay không,” bản phân tích viết.
“Đó là một đặc quyền của công chúng, một niềm tin của công chúng, thuộc về quyền lực của người dân.”
Nhưng ông Natelson nhận xét rằng,
dựa trên tiền lệ của Tối cao Pháp viện, “việc tước bỏ tư cách nắm giữ
chức vụ chính trị là một hình phạt gần như mang tính chất hình sự, cũng
nghiêm trọng như việc tước bỏ tư cách do bị đàn hặc” và do đó cần đến
thủ tục pháp lý chính đáng. Tuy nhiên, ông thừa nhận rằng “có lẽ việc
kết án không cần đến bằng chứng không thể chối cãi” như trong một phiên
tòa hình sự.
Theo phân tích Baude-Paulsen,
ngay cả khi một số biện pháp về thủ tục pháp lý chính đáng được áp dụng,
thì “miễn là Mục 3 được áp dụng thông qua các thủ tục thường lệ và đã
được thiết lập để xác định tư cách nắm giữ chức vụ công quyền, thì nhiều
phản đối về thủ tục pháp lý chính đáng dường như sẽ biến mất.”
“Bất kỳ ai muốn lập luận rằng
hành vi của người đó không nằm trong tầm kiểm soát thực chất của Mục 3
đều có quyền khởi kiện vấn đề đó thông qua tất cả các cách thức liên
quan. Do đó, Mục 3 không mâu thuẫn với bất kỳ yêu cầu nào về thông báo
công bằng hay một cơ hội được lắng nghe,” các tác giả cho biết.
Ông Natelson kỳ vọng Tối cao Pháp viện sẽ đi sâu vào vấn đề thủ tục pháp lý chính đáng này.
Ông Kopel cho rằng cần áp dụng thủ tục pháp lý chính đáng đến mức độ nào là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Ông gợi ý rằng, với đòi hỏi khắt khe nhất thì trước tiên người đó phải bị kết án về tội nổi loạn liên bang.
“Điều đó chắc chắn là đủ thuyết phục,” ông nói.
Trái lại sẽ là một quyết định đơn
phương, chẳng hạn như ở Maine, hoặc thậm chí là thủ tục tố tụng nhanh
chóng được sử dụng ở Colorado — “một phiên xét xử khá dài được chèn vào
một vụ thách thức về một cuộc bỏ phiếu bầu cử mà người ta nghĩ rằng sẽ
được thực hiện trong khoảng 72 giờ,” ông Kopel nói.
“Đó có phải là thủ tục pháp lý chính đáng không?”
Áp dụng cho tổng thống
Ông Lash đã trình bày lập luận có lẽ là chi tiết nhất tại sao Mục 3 có thể không áp dụng cho tổng thống hoặc phó tổng thống.
Ông chỉ ra rằng một trong những
dự thảo xa xưa nhất về một điều khoản tước bỏ tư cách [nắm giữ chức vụ
công quyền], một sửa đổi do Dân biểu Samuel McKee (Đảng Liên bang Vô
điều kiện-Kentucky) đề xướng, đặc biệt đề cập đến “chức vụ Tổng thống
hoặc phó tổng thống.” Nhưng bản dự thảo cuối cùng đã bỏ qua nhóm từ đó,
mà chỉ đề cập đến “bất kỳ chức vụ nào, dân sự hay quân sự, dưới Hoa Kỳ.”
Lúc đó ông lập luận rằng về mặt pháp lý tổng thống không được xem là một “viên chức dân sự của Hoa Kỳ.”
Ông đưa ra ví dụ về vụ đàn hặc
Thượng nghị sĩ William Blount vào năm 1799. Khi đó, luật sư của ông
Blount lập luận rằng “rõ ràng một Thượng nghị sĩ không phải là viên chức
dưới quyền Chính phủ.”
“Chính phủ bao gồm Tổng thống,
Thượng viện, và Hạ viện, vậy nên người ta không thể nói những người hình
thành nên Chính phủ nằm dưới chính phủ đó,” ông nói.
Trong cuốn sách “Commentaries on the
Constitution” (Bình luận về Hiến Pháp) năm 1833 nổi tiếng của mình, Thẩm
phán Tối cao Pháp viện Joseph Story nói rằng dựa trên án lệ Blount,
“việc liệt kê tổng thống và phó tổng thống, với tư cách là những viên
chức có thể bị đàn hặc, là điều bắt buộc; vì họ có được, hoặc có thể có
được, chức vụ của mình từ một nguồn có thứ bậc cao hơn so với chính phủ
quốc gia.”
“Việc xem họ là những viên chức của Hoa Kỳ thậm chí không có hiệu lực,” một bài xã luận năm 1868 dẫn lời của vị thẩm phán này.
Theo ông Lash, phân tích của Thẩm phán Story không hẳn là đúng, nhưng được xem là có căn cứ vào thời điểm đó.
Bài phân tích của ông cho rằng,
“Vào thời điểm soạn thảo và phê chuẩn Tu chính án thứ 14, án lệ Blount
và phân tích của thẩm phán Story đã được cả trong và ngoài Quốc hội chấp
nhận và biết đến rộng rãi.
Khối đa số của Tòa án Tối cao
Colorado đã giải quyết vấn đề này bằng cách tuyên bố rằng tổng thống
không nằm dưới chính phủ, mà ông ấy nằm dưới Hoa Kỳ, vốn đại diện cho
quyền lực thậm chí còn cao hơn — đó là người dân.
Nhưng ông Lash nêu ra rằng tại
thời điểm soạn ra nhóm từ “dưới Hoa Kỳ” về mặt pháp lý đã được hiểu là
tương đương với “dưới chính phủ Hoa Kỳ.”
Biên bản cuộc tranh luận tại
Thượng viện về Mục 3 ghi lại một thời điểm, khi đó Thượng nghị sĩ
Reverdy Johnson (Dân Chủ-Maryland), cố Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ, đã đặt câu
hỏi tại sao điều khoản này không áp dụng cho tổng thống và phó tổng
thống.
Thượng nghị sĩ Lot Morrill (Cộng
Hòa-Maine) lúc đó đã trả lời: “Hãy để tôi lưu ý Thượng nghị sĩ về nhóm
từ ‘hoặc nắm giữ bất kỳ chức vụ nào, dân sự hay quân sự, dưới Hoa Kỳ.’”
Thượng nghị sĩ Johnson trả lời:
“Có lẽ tôi đã hiểu sai về việc loại trừ khỏi chức vụ Tổng thống; chắc
chắn là tôi đã hiểu sai; nhưng tôi bị dẫn hướng sai khi thấy việc loại
trừ [được ghi] cụ thể trong trường hợp Thượng nghị sĩ và Dân biểu.”
Phân tích Baude-Paulsen tận dụng cuộc trao đổi này, và cho rằng “có vẻ vô lý” khi không áp dụng Mục 3 cho tổng thống.
Tuy nhiên, ở đây, các tác giả
dường như viện đến lập luận mà trước đó họ đã bác bỏ. Ông Lash lưu ý
rằng, dựa trên lý luận của họ, thì nên dựa vào ý nghĩa của văn bản để
dẫn dắt cách lý giải, chứ không phải dựa vào suy nghĩ của người soạn
thảo về ý nghĩa của văn bản đó.
“Họ không thể hiểu theo cả hai cách. Hoặc là văn bản đóng vai trò quyết định hoặc là không.”
The Epoch Times đã liên lạc với Giáo sư Baude và Giáo sư Paulsen để đề nghị bình luận nhưng không nhận được phúc đáp.
Theo quan điểm của ông, chủ ý của
những người soạn thảo được tính đến khi nó ảnh hưởng đến cách hiểu của
những người phê chuẩn. Nhưng đó không phải là tình huống trong cuộc trao đổi giữa ông Johnson và ông Morill.
“Không có bất kỳ tờ báo nào nói về tình huống đó,” ông Lash nói.
Ông nói, thay vì “vô lý,” điều đó
có thể được hiểu rằng những người soạn thảo không cân nhắc nhiều về
việc bao gồm cả tổng thống.
Vào thời điểm đó, không một thành
viên Đảng Dân Chủ miền Bắc nào mong muốn đề cử một người từng nổi loạn,
và chuyện cả nước bầu cho một ứng cử viên [tổng thống] như vậy lại càng
phi lý hơn.
Các học giả vẫn chưa xác định
được một người phê chuẩn nào mà cho rằng Mục 3 là áp dụng cho những
người đang tranh cử chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ,” bài phân tích của ông
viết.
“Cho dù có tồn tại một người như
vậy hay không, thì rõ ràng là đại đa số những người phê chuẩn [tu chính
án] đã thảo luận về Mục 3 của Tu chính án thứ 14 rất ít (hoặc không hề)
quan tâm đến vấn đề này. Nếu người soạn thảo lẫn người phê chuẩn đều cho
rằng trường hợp đó có thể không quan trọng đến mức phải đưa vào Tu
chính án thứ 14, thì người ta dự đoán rằng [biên bản tranh luận nói trên
là] bằng chứng hoặc không có bằng chứng nào cả.
Nếu Mục 3 áp dụng cho tổng thống, thì
Đảng Cộng Hòa đã có một cơ hội để áp dụng điều này vào năm 1872 khi ông
Horace Greeley tranh cử thách thức đề cử viên của đảng này, đương kim
Tổng thống Ulysses Grant.
Ông Lash nói rằng, “Mặc dù nhiều
lần họ tuyên bố rằng ông Greeley đã ‘trợ giúp hoặc úy lạo kẻ thù’ của
Hoa Kỳ, tức là những người đã tham gia vào cuộc nổi dậy và nổi loạn
chống lại Hoa Kỳ, nhưng dường như đã không có ai tuyên bố ông có thể bị
tước tư cách [tranh cử] theo Mục 3.”
Mặt khác, ông cho rằng đưa tổng
thống vào Mục 3 sẽ là một “sự thay đổi” cực cấp tiến và không cần thiết
“trong tiến trình dân chủ.”
“Quý vị không chỉ tước quyền bầu
cử của những người không trung thành ở miền Nam, mà còn đang tước quyền
bầu cử của những người trung thành với Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ, rồi nói
rằng họ không thể bỏ phiếu cho một người bị buộc tội trừ phi Quốc hội
cho phép.”
Đúng là Hiến Pháp có áp đặt một
số tiêu chuẩn đối với các ứng cử viên tổng thống, chẳng hạn như độ tuổi
và quốc gia nơi người đó sinh ra.
Nhưng “đó là điều hoàn toàn khác,” ông cho biết.
“Những hạn chế đó đối với tiến
trình dân chủ đã được công bố rõ ràng trong Hiến Pháp và đã được người
dân xem xét và tranh luận một cách thẳng thắn trong các Hội đồng Phê
chuẩn tại thời điểm bản Hiến Pháp đầu tiên được ban hành.”
“Quý vị đang nói về việc thêm vào
một hạn chế mới như một ẩn ý và cứ vậy tiến hành mặc dù biết rằng hạn
chế đó không được những người phê chuẩn xem xét hay thảo luận ở cấp quốc
gia. Đó là một đề xướng bất thường và là một đề xướng mà tôi nghĩ rằng
không thể được bằng chứng trong lịch sử chứng minh.”
Phạm vi rộng
Khi bắt đầu áp dụng Mục 3, Quốc hội đã
áp dụng trong chính nội bộ của mình. Nếu một thành viên sắp nhậm chức mà
bị tước tư cách nắm giữ chức vụ, thì các nhà lập pháp sẽ nghe bằng
chứng, cho phép bị cáo trình bày để tự bào chữa, và sau đó bỏ phiếu xem
liệu việc loại bỏ tư cách có hợp lệ hay không.
Năm 1870, Quốc hội đã thông qua
một đạo luật để thực thi Tu chính án thứ 14, trong đó có Mục 3. Đạo luật
này nói rằng các công tố viên liên bang tại địa phương “có nghĩa vụ”
phải phản đối các quan chức tòa án dân sự mà họ cho là không đủ tư cách
và đưa ra các cáo buộc hình sự nhẹ đối với những ai cố tình giữ chức mặc
dù không đủ tư cách.
Đạo luật này đã miễn trừ các
thành viên Quốc hội và các nhà lập pháp tiểu bang khỏi phạm vi thực thi
mục này—vào thời điểm đó, Quốc hội đã có thông lệ là thực thi Mục 3 bằng
cách bỏ phiếu.
Đạo luật này và việc thực thi đạo luật này có thể đưa ra những gợi ý về việc Mục 3 đã được hiểu như thế nào.
“Điều đó cho thấy rằng việc tước
tư cách chỉ được phép diễn ra sau khi tiến hành thủ tục pháp lý chính
đáng — được tuân thủ trong trường hợp có một thủ tục chứng minh thẩm
quyền hiện có (quo warranto),” ông Natelson nói.
“Điều đó chắc chắn cho thấy rằng Đổng lý tiểu bang Maine đã đi quá giới hạn khi bà ấy hành động một cách đơn phương.”
Phân tích Baude-Paulsen kết luận
rằng, dựa trên các trường hợp mà một viên chức đã thật sự bị tước tư
cách theo Mục 3, có vẻ như trở ngại đối với việc tước tư cách là thấp.
“Việc tước tư cách [nắm giữ chức
vụ công quyền] theo Mục 3 vì đã ‘tham gia’ vào cuộc nổi dậy bao gồm một
loạt các hành động tham gia tự nguyện ủng hộ hoặc trợ giúp cho cuộc nổi
dậy, một số hành động gần với sự ưng thuận một cách gần như thụ động,”
các tác giả cho biết.
Trong một trường hợp, một thành
viên Quốc hội miền Nam đã bị loại bỏ vì ông ấy đã viết một lá thư gay
gắt nói rằng tất cả những ai đang tìm cách gia nhập quân đội Liên bang
đều phải bị xử bắn.
Trong một trường hợp khác, một
cảnh sát trưởng được bổ nhiệm đã bị buộc tội vì ông ấy đã “đưa người
thay thế mình vào quân đội Liên minh miền Nam.” Ông ấy bào chữa rằng ông
chỉ đang cố gắng trốn tránh chế độ quân dịch của Liên minh miền Nam.
Nhưng thẩm phán đã chỉ thị cho bồi thẩm đoàn xem xét kỹ lưỡng động cơ
trốn tránh đi lính của người này.
“Hành vi của bị cáo hẳn là được
thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi có căn cứ về tổn hại thân thể nghiêm trọng và
hậu quả của vũ lực, khiến bị cáo không thể trốn thoát hay chống cự,” ông
nói.
“Và hơn nữa, hành động của bị cáo
hẳn là xuất phát từ mong muốn của bị cáo là đồng tình với phong trào
nổi dậy, chứ không phải chỉ vì sự ác cảm của bị cáo đối với việc phải đi
lính.”
Các tác giả cho rằng cách giải thích với phạm vi rộng này có thể được áp dụng cho bất kỳ cuộc nổi dậy hoặc nổi loạn nào khác.
Ông Kopel đồng tình.
“Về vấn đề quyền quyết định thực
thi, việc ủng hộ một cuộc nổi dậy nhỏ gây ra ít thiệt hại có thể được bỏ
qua vì những mục đích thực thi. Cũng như nhiều hành vi sai trái có ít
tác động khác đôi khi cũng được bỏ qua. Nhưng [Tu chính án thứ 14] chắc
chắn không quy định rằng những hành vi này được phép bỏ qua,” ông nói.
Một số chuyên gia thì không chắc chắn lắm.
“Mục tiêu [của những người soạn
thảo] là nhắm chính xác vào Liên minh miền Nam. Mục tiêu của họ không
phải là bất cứ ai ủng hộ người Pháp trong Chiến tranh Pháp-Ấn. Mục tiêu
của họ không phải là bất cứ ai ủng hộ người Anh trong Chiến tranh
Anh-Mỹ. Mặc dù văn bản này không được viết theo cách nhằm hạn chế những
điều đó, nhưng lý do căn bản là nhắm vào Liên minh miền Nam,” ông Horace
Cooper, thành viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Công
cộng Quốc gia, trước đây từng dạy luật Hiến Pháp tại Đại học George
Mason, cho biết.
“Quý vị càng đi xa khỏi một cách
hiểu liên quan đến những người thực sự đã tham gia vào cuộc nổi loạn
quân sự chống lại chính phủ, thì quý vị càng phải cẩn thận hơn về khả
năng đọc hiểu của mình.”
Ông Natelson nhắc nhở rằng việc thực thi một điều khoản Hiến Pháp không phải lúc nào cũng hợp hiến.
“Những hành động như vậy hầu như không có ý nghĩa gì đối với một người theo chủ nghĩa nguyên bản (originalist),” ông nói.
Ông cũng lưu ý rằng “các hành
động được thực hiện trong hoặc ngay sau chiến tranh thường là những chỉ
dẫn tồi tệ nhất cho việc tuân thủ Hiến Pháp.”
Cuộc nổi dậy là gì?
Điều thiếu sót trong bản thảo Mục 3 và
các hành động thực thi ban đầu là đã không đưa ra các cách giải thích về
những gì tạo thành một cuộc nổi dậy, nổi loạn, và ai là kẻ thù của Hoa
Kỳ. Điều luật này chỉ được áp dụng cho Liên minh miền Nam, tổ chức mà
chắc chắn những thuật ngữ này áp dụng.
Hơn nữa, việc thực thi điều khoản đó đã
sớm phải dừng lại khi, vào tháng 05/1872, Quốc hội ban hành một lệnh ân
xá, loại bỏ hình phạt tước tư cách nắm giữ chức vụ công quyền đối với
gần như tất cả những người phục vụ trong Liên minh miền Nam, “ngoại trừ
các Thượng nghị sĩ và Dân biểu của Quốc hội nhiệm kỳ thứ 36 và 37, các
viên chức trong ngành tư pháp, quân đội, và hải quân Hoa Kỳ, các bộ
trưởng và bộ trưởng ngoại giao của Hoa Kỳ.”
Kể từ đó, Mục 3 hầu như không còn được thực thi nữa, ngoại trừ một trường hợp vào năm 1919.
Ông Victor Berger, chủ báo và là
đồng sáng lập viên của Đảng Xã hội Chủ nghĩa Mỹ, đã giành được một nhiệm
kỳ tại Quốc hội vào năm 1910 và sau đó bị truy tố vào năm 1918 theo Đạo
luật Gián điệp vì phản đối Hoa Kỳ can thiệp vào Đệ nhất Thế chiến.
Cuối năm đó, ông thắng cử trong
cuộc đua vào Quốc hội, nhưng ông đã bị kết án 20 năm tù trước thời điểm
nhiệm kỳ của ông bắt đầu. Được tại ngoại hầu tra, ông đã tìm cách đảm
nhận chức vụ này, nhưng Quốc hội đã sử dụng Mục 3 để ngăn chặn ông. Năm
1921, Tối cao Pháp viện đã hủy bỏ bản án của ông Berger dựa trên bản
khai hữu thệ của ông rằng thẩm phán sơ thẩm có thành kiến đối với ông,
mặc dù hồ sơ cho thấy bản khai đó sai sự thật.
Phân tích Baude-Paulsen kết luận rằng Mục 3 không áp dụng cho ông Berger và Quốc hội đã phản ứng thái quá.
Hai tác giả này đã xem xét thuật
ngữ “nổi dậy” và “nổi loạn” được sử dụng như thế nào trong Hiến Pháp và
các văn bản pháp luật thời bấy giờ. Trường hợp duy nhất mà một tòa án ít
nhất đã xác định một cách ngắn gọn các thuật ngữ này là từ Án lệ Giải
thưởng (The Prize Cases) năm 1863, khi Tối cao Pháp viện thừa nhận việc
Tổng thống Lincoln phong tỏa các cảng phía Nam ngay từ đầu cuộc chiến
[là hợp hiến].
Pháp viện cho rằng, “Cuộc nổi dậy
chống lại một chính phủ có thể hoặc không thể lên đến đỉnh điểm là một
cuộc nổi loạn có tổ chức, nhưng một cuộc nội chiến luôn bắt đầu bằng
cuộc nổi dậy chống lại cơ quan hợp pháp của Chính phủ.”
Bản ý kiến đã đưa ra một ví dụ về
một cuộc nổi dậy: Cuộc nổi loạn Rượu whisky năm 1794 ở Pennsylvania. Khi
đó, một số người dân địa phương có vũ trang, phản đối thuế tiêu thụ đặc
biệt đối với rượu mạnh, đã khủng bố những người thu thuế và cuối cùng
tham gia vào một cuộc đấu súng với một nhóm binh sĩ bảo vệ căn nhà của
một người thu thuế.
Sau đó, một nhóm nhỏ người dân
địa phương đã tìm cách triệu tập một đội dân quân gồm vài ngàn người làm
ra vẻ đang khám phá những bí mật nào đó. Họ dự định sử dụng lực lượng
dân quân này để hành quân đến Pittsburg, tấn công pháo đài Fayette, và
thậm chí có thể tuyên bố độc lập khỏi Hoa Kỳ.
Những người khác đã cố gắng can
ngăn những chỉ huy này thực hiện kế hoạch. Sau khi hành quân qua thị
trấn, nhóm dân quân đã giải tán.
“Tóm lại: cuộc nổi dậy hay cuộc
nổi loạn là những hình thức phản kháng thực sự chống lại quyền lực hợp
pháp của chính phủ. Một cuộc nổi dậy có thể không phải là một cuộc nổi
loạn toàn diện. Nhưng một cuộc nổi dậy chống chính phủ đôi khi phát
triển thành ‘cuộc nổi loạn’ chính thức,” phân tích Baude-Paulsen viết.
Sự kiện ngày 06/01
Tòa án Tối cao Colorado đã dựa rất nhiều
vào phân tích Baude-Paulsen để đưa ra kết luận rằng cựu TT Trump đã
tham gia vào một cuộc nổi dậy và do đó bị tước tư cách tranh cử.
Tham khảo các từ điển có từ thế
kỷ 19, các thẩm phán đã đưa ra định nghĩa [về cuộc nổi dậy] như sau:
“Việc một nhóm người sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực một cách có
phối hợp và công khai nhằm cản trở hoặc ngăn cản chính phủ Hoa Kỳ thực
hiện các hành động cần thiết để hoàn thành việc chuyển giao quyền lực
một cách hòa bình ở đất nước này.”
Họ cũng dựa vào một định nghĩa do
một tòa án cấp thấp hơn ở Colorado áp dụng cho vụ kiện này: “Việc một
nhóm người sử dụng vũ lực … hoặc đe dọa sử dụng vũ lực … một cách công
khai để cản trở hoặc ngăn chặn việc thi hành Hiến Pháp Hoa Kỳ.”
Họ kết luận rằng nhóm người bước
vào Tòa nhà Quốc hội khá đông, “được trang bị nhiều loại vũ khí”, và “hô
vang theo cách thể hiện rõ rằng họ đang tìm cách gây ra bạo lực đối với
các nghị sĩ Quốc hội và Phó Tổng thống [Mike] Pence.”
Những thẩm phán này lập luận:
“Mức sử dụng vũ lực hoặc lời đe dọa sử dụng vũ lực cần phải có không
nhất thiết phải liên quan đến đổ máu, cũng như quy mô của nỗ lực không
cần phải lớn đến mức bảo đảm có thể thành công.”
“Ngay sau khi xâm phạm Tòa nhà
Quốc hội, đám đông đã tiến đến các phòng của Hạ viện và Thượng viện, nơi
đang diễn ra quá trình chứng nhận [kết quả bầu cử]. Vụ xâm phạm này
khiến cả Hạ viện và Thượng viện phải hoãn lại, tạm dừng quá trình chứng
nhận bầu cử.”
Các thẩm phán kết luận rằng vì có
một nhóm người đe dọa vũ lực và vì hành động của họ nên việc chứng nhận
đã bị cản trở và vì cựu TT Trump đã kích động những người ủng hộ ông
bằng những lời lẽ như “chúng ta chiến đấu hết mình,” nên ông đã tham gia
vào cuộc nổi dậy.
Ông Natelson cho biết, vấn đề
chính của kết luận này là tòa án đã dựa vào “một phiên bản hết sức chọn
lọc về những gì diễn ra vào ngày 06/01” lấy từ báo cáo của Ủy ban ngày
06/01 của Quốc hội.
Thông thường, những báo cáo như
vậy được xem là lời nói gián tiếp, không thể được chấp nhận làm bằng
chứng. Nhưng tòa án đã dựa vào một ngoại lệ đối với các báo cáo của
chính phủ.
