Showing posts with label Amendment 14. Show all posts
Showing posts with label Amendment 14. Show all posts

 2025-12-15  

Những điều phi lý của quyền công dân theo nơi sinh 
Hiện nay, cần phải xem xét thêm một khía cạnh hiện đại trong cuộc tranh luận về quyền công dân nơi sinh.


(Scott McKay, The Spectator, 15/12/2025)

Tuần trước, các bạn của chúng tôi tại The Federalist đã đăng tải một vài bài viết — một bài của Brianna Lyman và một bài của John Daniel Davidson — về cơ hội hiện đang được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét liên quan đến quyền công dân theo nơi sinh và những điều phi lý về mặt pháp lý trong thực tiễn hiện hành.

Nếu bạn có chút hiểu biết về lịch sử của tập tục vô cùng khác thường này, bạn sẽ biết rằng nó bắt nguồn từ Điều khoản về Quyền công dân của Tu chính án thứ 14, có nội dung như sau…

    Tất cả những người sinh ra hoặc nhập tịch tại Hoa Kỳ, và thuộc thẩm quyền pháp lý của Hoa Kỳ, đều là công dân Hoa Kỳ và công dân của tiểu bang nơi họ cư trú.

Văn bản này được viết ra nhằm đảm bảo các tiểu bang sẽ không ban hành luật lạm dụng quyền công dân của những người nô lệ cũ ở các tiểu bang miền Nam sau Nội chiến.

Thành thật mà nói, chúng ta sẽ có lợi rất nhiều nếu bãi bỏ Tu chính án thứ 14 và bắt đầu lại với một tuyên ngôn mới mẻ và được viết tốt hơn về những mục tiêu đáng trân trọng mà những người soạn thảo nó muốn đạt được. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác.

Dù sao thì, phần "thuộc thẩm quyền của nước đó" trong Điều khoản về Quốc tịch được viết bằng ngôn ngữ rõ ràng vào thời điểm đó nhưng đã bị làm cho khó hiểu hơn rất nhiều kể từ đó.

Lyman đã truy tìm nguồn gốc vấn đề đến một vụ án năm 1898 mà có lẽ bạn đã từng nghe đến: Wong Kim Ark . Đó là một vụ án mà phán quyết không quá tệ về kết quả cụ thể, nhưng ý kiến ​​đa số lại được viết rất tồi tệ và đã tạo ra một tiền lệ xấu…

    Wong Kim Ark  không chỉ đơn thuần hiểu sai Tu chính án thứ 14. Tòa án đã viết lại điều khoản về quyền công dân của Tu chính án thứ 14 theo các nguyên tắc phong kiến ​​Anh mà các nhà lập quốc - và những người soạn thảo - đã bác bỏ. Bằng cách đó, tòa án đã tạo ra một học thuyết mà chắc chắn các tác giả của tu chính án không hề có ý định.

    Tòa án Tối cao hiện có cơ hội để sửa chữa sai lầm đó.

    Wong Kim Ark sinh năm 1873 tại San Francisco, cha mẹ ông là người Hoa, thần dân của Hoàng đế Trung Hoa nhưng chỉ là "cư dân thường trú" vào thời điểm ông sinh ra. Sau khi đến thăm Trung Quốc khi trưởng thành, Ark bị từ chối nhập cảnh vào Hoa Kỳ với lý do ông không phải là công dân Mỹ.

    Vấn đề được đưa ra trước tòa là liệu một đứa trẻ sinh ra trong gia đình “thần dân của Hoàng đế Trung Hoa, [những người] có nơi cư trú thường xuyên tại Hoa Kỳ… có trở thành công dân Hoa Kỳ vào thời điểm sinh ra hay không”.

    Đa số 6-2, do Thẩm phán Horace Gray dẫn đầu, đã bỏ phiếu đồng ý. Nhưng lập luận dẫn đến quyết định của đa số là không thể biện minh được. Gray đã dựa toàn bộ ý kiến ​​của mình trên quan điểm rằng Tu chính án thứ 14 phải được hiểu theo tục lệ pháp (common law) Anh. [Common law là luật bất thành văn, gồm những tục lệ xưa cũ]

    “Trong khía cạnh này cũng như các khía cạnh khác, nó phải được giải thích dựa trên tục lệ pháp, mà các nguyên tắc và lịch sử của nó đã được những người soạn thảo Hiến pháp biết rõ,” Gray lập luận. “Ngôn ngữ của Hiến pháp, như đã được nói rất đúng, không thể được hiểu nếu không tham chiếu đến tục lệ pháp.”

    Gray tiếp tục lập luận rằng “Tu chính án 14 khẳng định quy tắc cổ xưa và cơ bản về quyền công dân theo huyết thống trong lãnh thổ, trong sự trung thành và dưới sự bảo hộ của đất nước, bao gồm tất cả trẻ em sinh ra ở đây từ những người nước ngoài cư trú hợp pháp.”

Vấn đề là cụm từ “thuộc thẩm quyền của” (“subject to the jurisdiction thereof) lại trái ngược hoàn toàn với common law của Anh mà Gray đã dựa vào để đưa ra phán quyết Wong Kim Ark . Đó là điều mà ý kiến ​​phản đối trong vụ án đó đã nhận ra…

    “Khi chủ quyền của Hoàng gia bị lật đổ và một chính phủ độc lập được thiết lập, mọi quy tắc của common law và mọi đạo luật của Anh có hiệu lực ở các thuộc địa trái với các nguyên tắc mà chính phủ mới được thành lập đều bị bãi bỏ.”

Nguyên tắc cơ bản trong luật tục lệ là nông nô phải trung thành với lãnh chúa và gắn bó với đất đai, vì vậy các quyền và trách nhiệm vốn có, phần nào tương tự như quyền công dân, được suy ra từ mối quan hệ đó. Nhưng những người soạn thảo Hiến pháp và Tu chính án thứ 14 đang thiết lập quyền công dân chứ không phải chế độ nô lệ phong kiến, và đó là hai điều rất, rất khác biệt.


Davidson tiếp nối lập luận của Lyman và mở rộng thêm một chút về vấn đề pháp lý…

    Theo nghĩa vụ phong kiến, việc xuất cư là không thể nếu không có sự đồng ý của lãnh chúa mà người đó có nghĩa vụ trung thành từ khi sinh ra. Điều này dĩ nhiên hoàn toàn trái ngược với Hiến pháp Hoa Kỳ, chưa kể đến Cách mạng Mỹ, cả hai đều dựa trên lý thuyết về quyền công dân dựa trên sự đồng thuận, chứ không phải dựa trên huyết thống.

    Tất nhiên, chính những người sáng lập ra nước Mỹ đều sinh ra ở những vùng đất do vương triều Anh cai trị, nhưng bằng cách đoạn tuyệt với vương triều và tuyên bố (và sau đó giành được) độc lập, họ đã đưa ra một quan niệm hoàn toàn khác về quyền công dân và cộng đồng chính trị — một quan niệm dựa trên sự đồng thuận lẫn nhau của những người tự do. Trong quá trình soạn thảo Tu chính án thứ 14, Portteus viết,

    Các tác giả và người bảo trợ của tu chính án tin rằng họ đang xóa bỏ một tàn tích của chế độ phong kiến ​​châu Âu. Bản chất của nghĩa vụ chính trị dưới chế độ nô lệ ở Mỹ rất giống với nghĩa vụ phong kiến ​​châu Âu. Nô lệ bị ràng buộc với chủ nhân từ khi sinh ra và chỉ có thể được giải phóng khỏi nghĩa vụ của họ với sự đồng ý của chủ nhân. Họ tìm cách biến thần dân, trong trường hợp này là nô lệ, thành công dân. Tác giả của điều khoản về quyền công dân và những người ủng hộ nó đã công khai và có ý thức bác bỏ học thuyết về nghĩa vụ phong kiến.

    Thực tế, Quốc hội đã thông qua một đạo luật bổ sung cho Tu chính án thứ 14, Đạo luật Trục xuất (Expatriation Act) năm 1868, tuyên bố việc trục xuất là “một quyền tự nhiên và vốn có của tất cả mọi người, không thể thiếu để hưởng thụ các quyền về cuộc sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Đây là sự bác bỏ rõ ràng học thuyết về nghĩa vụ phong kiến ​​thời trung cổ của Anh. Như Dân biểu George Woodward của Pennsylvania đã phát biểu trên diễn đàn Hạ viện, “Đã đến lúc phải đánh đuổi chế độ phong kiến ​​khỏi đất nước chúng ta và loại bỏ nó khỏi luật pháp, và giờ là lúc để tuyên bố điều đó”.

    Với vụ án Wong Kim Ark, Tòa án Tối cao đã tái đưa vào luật pháp Hoa Kỳ khái niệm về nghĩa vụ phong kiến ​​mà những người soạn thảo Tu chính án thứ 14 chỉ ba mươi năm trước đó đã tưởng rằng họ đang xóa bỏ! Và như thường lệ, các đảng viên Dân chủ ngày nay có xu hướng bảo vệ các thể chế chính trị của miền Nam trước nội chiến; họ muốn áp đặt một quan niệm về quyền công dân và nghĩa vụ chính trị mà, trong bối cảnh Hoa Kỳ, chỉ áp dụng cho nô lệ chứ không phải người tự do.


Sau đó, Davidson bổ sung thêm một vài yếu tố thực tế…

    Nhưng còn một lý do khác, cấp bách hơn, để bác bỏ quyền công dân theo nơi sinh. Trên thực tế, trong điều kiện nhập cư ồ ạt, quyền công dân theo nơi sinh đơn giản là hành động tự sát quốc gia. Hãy xem xét rằng trong bốn năm chính quyền Biden, khoảng 10 triệu người (có lẽ còn nhiều hơn) đã nhập cảnh trái phép vào nước này. Hầu hết trong số họ đã được thả hoặc được tạm tha bởi chính quyền liên bang trong khi chờ kết quả các vụ án nhập cư và tị nạn, những vụ án này sẽ mất nhiều năm để được xét xử do tình trạng tồn đọng tại các tòa án nhập cư của chúng ta.

    Thực tế là, làn sóng nhập cư ồ ạt không kiểm soát đã làm thay đổi căn bản cuộc tranh luận về quyền công dân theo nơi sinh. Liệu những người ủng hộ quyền công dân theo nơi sinh có thực sự tin rằng những đứa trẻ sinh ra ở Mỹ từ 10 triệu người nhập cư bất hợp pháp này là và nên là công dân Mỹ chỉ đơn giản vì chúng được sinh ra trên đất Mỹ? Có thể họ tin như vậy, nhưng đó là một quan điểm điên rồ. Điều đó có nghĩa là hàng triệu công dân mới mà mối liên hệ duy nhất của họ với đất nước này là cha mẹ họ đã vượt biên trái phép, vi phạm pháp luật của chúng ta. Chấp nhận điều này và luật hóa nó đồng nghĩa với việc hoàn toàn bác bỏ chủ quyền quốc gia và phủ nhận ý tưởng về quyền công dân dựa trên sự đồng thuận của người Mỹ - sự đồng thuận của các thành viên cộng đồng chính trị và sự đồng thuận của những người muốn tham gia vào cộng đồng đó.

    Bất kể Tòa án Tối cao đã phán quyết thế nào trong vụ Wong Kim Ark, và bất kể sự hiểu biết của chúng ta về Tu chính án thứ 14 trong 127 năm kể từ phán quyết đó ra sao, tình hình do làn sóng nhập cư ồ ạt gây ra đã thay đổi cục diện cuộc tranh luận. Bốn năm cầm quyền của Biden với chính sách nhập cư bất hợp pháp quy mô công nghiệp và việc “cấp giấy tờ” hồi tố, trao quy chế pháp lý đáng ngờ cho hàng triệu người nhập cư bất hợp pháp, là một sự đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ.

Anh ấy nói không sai chút nào. Và tôi có thể cho bạn xem bằng chứng, vì điều này đã xảy ra vào cuối tuần qua…

    Các thư ký làm việc cho thẩm phán tòa án gia đình Amy Pellman đang xem xét các đơn xin mang thai hộ thông thường thì họ phát hiện ra một mô hình bất thường: cùng một cái tên xuất hiện lặp đi lặp lại.

    Một tỷ phú người Trung Quốc đang tìm kiếm quyền làm cha đối với ít nhất bốn đứa con chưa chào đời, và nghiên cứu bổ sung của tòa án cho thấy ông ta đã có hoặc đang trong quá trình có thêm ít nhất tám đứa con nữa - tất cả đều thông qua người mang thai hộ.

    Khi thẩm phán Pellman triệu tập Xu Bo đến phiên điều trần kín vào mùa hè năm 2023, ông ta đã không hề bước vào phòng xử án, theo những người tham dự phiên điều trần. Nhà sản xuất trò chơi điện tử giả tưởng này sống ở Trung Quốc và xuất hiện qua video, nói chuyện thông qua người phiên dịch. Ông nói rằng ông hy vọng sẽ có khoảng 20 đứa con sinh ra ở Mỹ thông qua phương pháp mang thai hộ — toàn con trai, vì con trai vượt trội hơn con gái — để một ngày nào đó tiếp quản công việc kinh doanh của ông.

    Một vài đứa con của ông đang được các bảo mẫu nuôi dưỡng ở Irvine gần đó trong khi chờ đợi thủ tục giấy tờ để sang Trung Quốc. Ông nói với thẩm phán rằng ông chưa gặp chúng vì công việc bận rộn.

Còn nữa…

    Một giám đốc điều hành giàu có khác người Trung Quốc, Wang Huiwu, đã thuê người mẫu Mỹ và những người khác làm người hiến trứng để sinh 10 cô con gái, với mục đích một ngày nào đó sẽ gả họ cho những người đàn ông quyền lực, theo những người thân cận với công ty giáo dục của ông ta.

Khoan đã, cái gì vậy?

Đúng vậy. Các nhà tài phiệt Trung Quốc hiện đang tạo ra một thế hệ con cháu thượng đẳng, được sinh ra và trang bị quyền công dân Mỹ, để họ có thể chơi trò chơi dài hạn. 

Bạn còn nhớ câu thoại trong phim Braveheart khi Longshanks quyết định cách tốt nhất để xử lý đám người Scotland ương bướng không?

Điều này không hoàn toàn đúng, và chắc chắn nghe có vẻ kịch tính hơn khi nói bằng giọng Anh chú không phải giọng Trung Quốc, nhưng cả hai ví dụ đều là những điều phi lý dẫn đến những hậu quả đen tối.

Thật đáng kinh ngạc khi nghĩ rằng các giám đốc điều hành trò chơi điện tử Trung Quốc đang vú em người Mỹ đến để làm vật nuôi sinh sản, nhằm vận hành các trò chơi nhân giống kiểu Wilt Chamberlain của riêng họ, và tất cả đều hoàn toàn hợp pháp và là vấn đề của chúng ta chứ không phải của họ nếu họ quyết định không trả tiền cho những kẻ phản bội đang được đào tạo này.

Nhưng điều đó là hợp pháp.

Giờ đây, khi biết được kết cục của vụ việc, người ta sẽ mất đi khá nhiều thiện cảm dành cho Wong Kim Ark. Xét cho cùng, vào năm 1898, dường như công lý đã được thực thi trong trường hợp của ông ta.

Nhưng liệu điều đó có phải đánh đổi bằng sự thiếu hợp lý trong chính sách nhập cư?

Vấn đề này cần phải được giải quyết. Khái niệm du lịch nơi sinh là một điều hoàn toàn phi lý, và nó đã tồn tại hàng thập kỷ. Giờ đây, nó giống như du lịch thụ thai dành cho giới tài phiệt Trung Quốc và các quan chức đảng cộng sản đang cố gắng chen chân vào cuộc chơi địa chính trị lâu dài.

Điều đó nghe có vẻ vô lý với bạn không? Đúng là nên như vậy. Nhưng tại sao lại vô lý? Bởi vì không đời nào chuyện như thế lại xảy ra, phải không? Một quốc gia thù địch nào đó tràn ngập chúng ta bằng những đứa trẻ sinh ra mang quốc tịch Mỹ nhưng lại mang lòng trung thành với quốc gia thù địch đó, và chúng ta sẽ không bao giờ dung thứ cho điều đó.

Vâng, đúng vậy. Chào mừng đến với thế giới của sự phi lý, bởi vì đó chính xác là nơi chúng ta đang ở.

Và Tòa án Tối cao có thể giải quyết vấn đề này.

Họ nên làm vậy.

https://spectator.org/the-absurdities-of-birthright-citizenship/

NVV dịch


 

 2025-02-15 

NYT thừa nhận 'Trump có thể có lý về quyền công dân theo nơi sinh'

(Jeffrey Clark, Fox News, 15/2/2025)

Một giáo sư của Trường Luật Georgetown và một giáo sư luật của Đại học Minnesota có thể đã khiến những độc giả tự do của tờ The New York Times ngạc nhiên. Hai ông này đã lập luận trong một bài ý kiến ​​của khách mời rằng Tổng thống Donald Trump có thể có một vụ kiện pháp lý mạnh mẽ về vấn đề quyền công dân theo nơi sinh.

Giáo sư Randy E. Barnett tại trường Luật Georgetown và giáo sư Ilan Wurman tại trường Luật Đại học Minnesota đã viết về Tòa án Tối cao trong một bài luận được công bố vào thứ Bảy rằng: "Khi cuối cùng họ xem xét câu hỏi này, các thẩm phán sẽ thấy rằng lệnh của ông Trump có căn cứ hơn những gì những người chỉ trích ông nhận ra".

Tiêu đề nêu rõ, "Trump có thể có lý về quyền công dân theo nơi sinh."

Quyết định ban hành sắc lệnh hành pháp chấm dứt quyền công dân theo nơi sinh đối với con cái của những người nhập cư bất hợp pháp của Trump đã vấp phải sự phản đối đáng kể tại hệ thống tòa án liên bang, khi Thẩm phán Tòa án Quận Liên bang Joseph N. Laplante tại New Hampshire đã tạm thời chặn lệnh này vào thứ Hai.

Sau khi giải thích lịch sử pháp lý đằng sau quyền công dân theo nơi sinh, bao gồm văn bản của Tu chính án thứ 14 nêu rõ, "Tất cả những người sinh ra hoặc nhập tịch tại Hoa Kỳ và chịu sự quản lý của Hoa Kỳ, đều là công dân của Hoa Kỳ và của tiểu bang nơi họ cư trú", Barnett và Wurman đã giải quyết vấn đề về con cái của những bậc cha mẹ "có mặt tại Hoa Kỳ một cách bất hợp pháp".

"Công dân của một quốc gia khác đã vi phạm luật pháp của quốc gia này để nhập cảnh và ở lại đây bất hợp pháp có cam kết tuân thủ luật pháp để đổi lấy sự bảo vệ và lợi ích của những luật pháp đó không?", các giáo sư hỏi.

"Rõ ràng, cha mẹ không phải là kẻ thù theo nghĩa là một đội quân xâm lược, nhưng họ không đến trong tình hữu nghị", Barnett và Wurman viết, tham khảo các định nghĩa pháp lý về quyền công dân. "Họ không tuân thủ hoặc trung thành với đất nước khi họ đến — người ta không thể trung thành và hứa sẽ bị ràng buộc bởi luật pháp thông qua hành động bất chấp những luật lệ đó".

"Những người như vậy thậm chí có thể bị trục xuất khỏi đất nước mà không cần các thủ tục tư pháp có thể bảo vệ công dân", các giáo sư tiếp tục. "Nếu quan điểm trung thành để bảo vệ đã thông báo ý nghĩa ban đầu của văn bản, thì do đó họ và con cái của họ không được bảo vệ hoặc 'thuộc thẩm quyền' của quốc gia theo nghĩa có liên quan".

Barnett và Wurman cũng đề cập đến "việc loại trừ trẻ em sinh ra từ những bà mẹ là thường trú nhân 'hợp pháp nhưng tạm thời' là một vấn đề phức tạp hơn không được đề cập ở đây" của sắc lệnh hành pháp.

"Và liệu Quốc hội có nên cấp quyền công dân nhập tịch cho trẻ em sinh ra từ những người có mặt bất hợp pháp tại Hoa Kỳ hay không là một vấn đề chính sách khác với việc Tu chính án thứ 14 đã làm như vậy hay chưa", các giáo sư viết. "Trong một  chú thích , Tòa án Tối cao đã cho rằng cụm từ về thẩm quyền của Tu chính án thứ 14 được áp dụng như nhau đối với những người ở đây bất hợp pháp, nhưng vấn đề này không được tóm tắt hoặc tranh luận trong vụ án đó; và cũng không liên quan đến kết quả của vụ án".


https://www.foxnews.com/media/nyt-opinion-piece-concedes-trump-might-have-case-birthright-citizenship

Ghi chú - Tu chính án thứ 14 được phê chuẩn sau Nội chiến và đảm bảo rằng những nô lệ cũ là công dân Hoa Kỳ, quy định rằng “tất cả những người sinh ra hoặc nhập tịch tại Hoa Kỳ và chịu sự quản lý của Hoa Kỳ đều là công dân của Hoa Kỳ và của Tiểu bang nơi họ cư trú”.

"Chịu sự quản lý của Hoa Kỳ" nghĩa là tuân thủ luật lệ Hoa Kỳ. Cư trú bất hợp pháp đã là không tuân thủ luật lệ sở tại.

NVV

 2025-02-03 

Đảng Cộng hòa tại Thượng viện giới thiệu dự luật cải cách quyền công dân theo nơi sinh, sau sắc lệnh gây tranh cãi của Trump
'Đã quá muộn để Hoa Kỳ thay đổi chính sách về quyền công dân theo nơi sinh vì nó đang bị lạm dụng theo nhiều cách', Thượng nghị sĩ Lindsay Graham cho biết.


(Fox News, 3/2/2025)

Sau sắc lệnh hành pháp gây tranh cãi của Tổng thống Donald Trump nhằm chấm dứt quyền công dân theo nơi sinh đối với con cái của những người nhập cư bất hợp pháp, một số Thượng nghị sĩ Cộng hòa đã đưa ra một dự luật sẽ cải cách luật pháp Hoa Kỳ để thực hiện chính xác điều đó.

Với tên gọi "Đạo luật Quyền công dân theo nơi sinh năm 2025", dự luật này sẽ chấm dứt việc tự động cấp quyền công dân cho những người sinh ra tại Hoa Kỳ có cha mẹ là người nước ngoài bất hợp pháp hoặc đang ở trong nước một cách hợp pháp trên cơ sở tạm thời. Dự luật được đệ trình lên Thượng viện vào ngày 31 tháng 1 bởi các Thượng nghị sĩ Cộng hòa Lindsey Graham của Nam Carolina , Katie Britt của Alabama và Ted Cruz của Texas .

Những người bảo trợ dự luật cho biết trong một tuyên bố rằng biện pháp này sẽ giải quyết cái mà họ gọi là "một trong những điểm thu hút lớn nhất đối với nhập cư bất hợp pháp", mà họ tin rằng gây ra điểm yếu cho an ninh quốc gia.

Trung tâm Nghiên cứu Di trú (CIS) ước tính có 33.000 ca sinh nở của phụ nữ du lịch tại Hoa Kỳ hàng năm. CIS ước tính thêm rằng có hàng trăm nghìn ca sinh nở của người nước ngoài bất hợp pháp hoặc người nước ngoài có thị thực tạm thời.

Một báo cáo năm 2022 của Ủy ban Thượng viện về An ninh Nội địa và Các vấn đề Chính phủ đã tiết lộ sự tồn tại của một số công ty "du lịch sinh con" ở Hoa Kỳ, bao gồm một công ty có tên là "Miami Mama" chuyên phục vụ những khách hàng Nga giàu có muốn có được tình trạng hợp pháp tại Hoa Kỳ

"Hoa Kỳ đã quá chậm trễ trong việc thay đổi chính sách về quyền công dân theo nơi sinh vì chính sách này đang bị lạm dụng theo nhiều cách", Graham cho biết trong tuyên bố hôm thứ Sáu.

Ông chỉ ra hoạt động du lịch sinh con mà ông cho là giúp "những cá nhân giàu có từ Trung Quốc và các quốc gia khác đến Hoa Kỳ chỉ để sinh một đứa con và đứa trẻ đó sẽ là công dân Mỹ".

"Khi bạn nhìn vào những nam châm thu hút mọi người đến Mỹ, quyền công dân theo nơi sinh là một trong những nam châm lớn nhất", Graham nói. "Tôi cũng đánh giá cao sắc lệnh hành pháp của Tổng thống Trump nhằm giải quyết vấn đề quyền công dân theo nơi sinh. Đã đến lúc Hoa Kỳ phải liên kết với phần còn lại của thế giới và hạn chế thực tiễn này một lần và mãi mãi".

Hiện nay, thông lệ chuẩn mực tại Hoa Kỳ là cấp quyền công dân tự động cho tất cả trẻ em sinh ra trên đất Hoa Kỳ. Đây chỉ là thông lệ từ những năm 1960 và dựa trên những gì mà một số người tin là cách giải thích sai lầm về Tu chính án thứ 14, trong đó có ghi rằng "tất cả những người sinh ra hoặc nhập tịch tại Hoa Kỳ và chịu sự quản lý của Hoa Kỳ đều là công dân của Hoa Kỳ và của Tiểu bang nơi họ cư trú".

Đạo luật Quyền công dân theo nơi sinh năm 2025 sẽ làm rõ rằng để đáp ứng điều khoản "tuân theo thẩm quyền của quốc gia đó", một người sinh ra tại Hoa Kỳ phải có ít nhất một trong hai cha mẹ là công dân, thường trú nhân hợp pháp hoặc người nước ngoài hợp pháp đang phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ.  

Luật nêu rõ rằng luật sẽ không ảnh hưởng đến quyền công dân của bất kỳ ai sinh ra trước khi luật được thông qua và chỉ hạn chế quyền công dân của những người sinh ra tại Hoa Kỳ sau đó.

Điều này diễn ra sau khi Trump ký một sắc lệnh hành pháp có tiêu đề "Bảo vệ ý nghĩa và giá trị của quyền công dân Hoa Kỳ" vào ngày đầu tiên nhậm chức. Sắc lệnh này, hiện đã bị tòa án tạm thời chặn lại, chỉ đạo các cơ quan chính phủ không cấp bất kỳ giấy tờ nào công nhận quyền công dân của bất kỳ trẻ em nào sinh ra tại Hoa Kỳ với những người di cư bất hợp pháp và tạm thời.

Hans von Spakovsky, một thành viên pháp lý cấp cao tại Heritage Foundation, nói với Fox News Digital rằng ông tin rằng "nếu vấn đề này được đưa lên Tòa án Tối cao, và rất có khả năng là như vậy, nếu tòa án áp dụng văn bản thực tế của tu chính án và xem xét lịch sử lập pháp của mình — những gì những người bảo trợ dự luật đã nói vào thời điểm đó — và tuân theo tiền lệ của chính mình trong ba vụ án xem xét vấn đề này, thì họ sẽ phán quyết có lợi cho Trump. Dự luật này chỉ đơn giản là làm rõ những gì chúng ta đã biết về tu chính án và mục đích của nó."

"Điểm quan trọng nhất ở đây là dự luật này không cố gắng sửa đổi Tu chính án thứ 14", ông nói. "Nó chỉ đơn giản là giải thích ý nghĩa của các điều khoản trong Tu chính án thứ 14".

"Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là Quốc hội phải nhấn mạnh lại những gì đã nói khi lần đầu tiên bảo trợ và thông qua Tu chính án thứ 14: rằng cụm từ 'thuộc thẩm quyền tài phán' của Hoa Kỳ sẽ không áp dụng cho con của người nước ngoài đang ở Hoa Kỳ bất hợp pháp và khi sinh ra, là công dân của quốc gia của cha mẹ đứa trẻ, và do đó không thuộc thẩm quyền tài phán của Hoa Kỳ", ông tiếp tục. "Luật hiện hành, 8 USC 1401, chỉ đơn giản là lặp lại ngôn ngữ của Tu chính án thứ 14. Nó đã bị hiểu sai hoàn toàn trong những thập kỷ gần đây bởi những người nhầm lẫn khi nói rằng tu chính án và luật liên bang chỉ yêu cầu sinh ra ở Hoa Kỳ".

Nhắc lại ngôn ngữ được sử dụng trong lệnh của Trump, Britt cho biết "lời hứa về quyền công dân Hoa Kỳ không nên khuyến khích di cư bất hợp pháp, nhưng đó chính xác là điều đã xảy ra trong thời gian quá dài".

"Đã đến lúc phải sửa chữa điều này", Britt nói. "Đạo luật Quyền công dân theo nơi sinh của Thượng nghị sĩ Lindsey Graham và tôi sẽ hệ thống hóa lập trường hợp lý của Tổng thống Trump và chấm dứt tình trạng lạm dụng quyền công dân theo nơi sinh mà tôi không tin là phù hợp với ý nghĩa ban đầu của Điều khoản Quyền công dân của Tu chính án thứ 14. Điều này sẽ bảo vệ chủ quyền quốc gia của chúng ta, ngăn chặn tình trạng di cư bất hợp pháp và đảm bảo các hoạt động thực hành quyền công dân của Hoa Kỳ mạnh mẽ hơn và phù hợp hơn với các quốc gia ngang hàng trên toàn cầu".

Sự việc này xảy ra sau khi Chủ tịch Ủy ban Khoa học và Công nghệ Hạ viện Brian Babin, Đảng Cộng hòa-Texas, đưa ra một dự luật vào ngày 21 tháng 1 để làm rõ rằng Tu chính án thứ 14 không bao gồm con cái của những người nhập cư bất hợp pháp hoặc tạm thời vào nước này.


https://www.foxnews.com/politics/senate-republicans-introduce-bill-reform-birthright-citizenship-following-trumps-controversial-order

NVV
 

 2025-02-01 

Donald Trump hoàn toàn đúng về quyền công dân theo nơi sinh

(Josh Hammer, RealClear Politics, 1/2/2025)

Chưa đầy hai tuần sau khi Trump lên nắm quyền lần thứ hai, nỗi sợ hãi đã lên đến đỉnh điểm. "Ông ta không thể làm được!" những người chỉ trích liên tục gào thét khi lên án sắc lệnh hành pháp mang tính bước ngoặt của Tổng thống Donald Trump trong ngày đầu tiên đảo ngược tình trạng hiện tại về quyền công dân theo nơi sinh đối với con cái của những người nhập cư bất hợp pháp, "Bảo vệ ý nghĩa và giá trị của quyền công dân Hoa Kỳ". Những người thường bị nghi ngờ trong giới bình luận cho rằng sắc lệnh của Trump "hoàn toàn vi hiến" và "vi phạm luật đã định". Thậm chí có thể nó còn "thiên vị bản dân" (nativist) hoặc "phân biệt chủng tộc"!

Giống như những người Bourbon của giới tinh hoa Mỹ ngày xưa, những người dễ nổi khùng đã không học được gì và không quên điều gì. Bởi vì khi nói đến quyền công dân theo nơi sinh, việc bày tỏ ý kiến và chỉ trích không chỉ ngớ ngẩn mà còn hoàn toàn sai về mặt luật pháp. Sắc lệnh hành pháp ngày 20 tháng 1 của Trump về quyền công dân theo nơi sinh là hợp pháp và về cơ bản là công bằng. Ông chủ Mar-a-Lago xứng đáng được ghi nhận, chứ không phải bị lên án, vì đã thực hiện một sắc lệnh táo bạo như vậy như một trong những hành động đầu tiên của ông trong nhiệm kỳ thứ hai.

Điều khoản về quyền công dân của Tu chính án thứ 14, được phê chuẩn vào năm 1868, có nội dung: "Tất cả những người sinh ra hoặc nhập tịch tại Hoa Kỳ và chịu sự quản lý của Hoa Kỳ đều là công dân của Hoa Kỳ và của Tiểu bang nơi họ cư trú". Mục đích của điều khoản này là lật ngược vụ án khét tiếng năm 1857 của Tòa án Tối cao, Dred Scott kiện Sandford, và do đó đảm bảo rằng những người da đen đã và sẽ mãi mãi là công dân chính thức.

Nhưng những người da đen đã ở đây ngay từ khi nước Mỹ mới thành lập. Bỏ qua cuộc tranh luận về chế độ nô lệ tai hại, vào năm 1868, Người da đen được coi là "chịu sự quản lý" của Hoa Kỳ - không giống như người Mỹ bản địa chẳng hạn. (Quốc hội không thông qua Đạo luật quyền Công dân của người Da đỏ, đạo luật cuối cùng đã cấp quyền công dân theo nơi sinh cho người Mỹ bản địa, cho đến năm 1924.) Do đó, cuộc tranh luận của chúng ta ngày nay phụ thuộc vào việc liệu vào năm 1868, người nước ngoài - hợp pháp hay bất hợp pháp - có được coi là "thuộc thẩm quyền" của Hoa Kỳ hay không.

Không.

Trong Quốc hội do Đảng Cộng hòa thống trị sau Nội chiến, Tu chính án thứ 14 có mục đích hiến pháp hóa Đạo luật Dân quyền năm 1866, đã được thông qua hai năm trước đó. Dân biểu James Wilson (Đảng Cộng hòa-Iowa), khi đó là chủ tịch Ủy ban Tư pháp Hạ viện và là người soạn thảo Tu chính án thứ 14 hàng đầu, đã nhấn mạnh rằng tu chính án này "không thiết lập quyền mới, không tuyên bố nguyên tắc mới". Tương tự như vậy, Thượng nghị sĩ Jacob Howard (Đảng Cộng hòa-Mich.), tác giả chính của điều khoản về quyền công dân của Tu chính án thứ 14, đã mô tả nó là "chỉ đơn giản là tuyên bố về những gì tôi coi đã là luật của đất nước".

Nói cách khác, Tu chính án thứ 14 đã chính thức hóa Đạo luật Dân quyền năm 1866. Và điều khoản về quyền công dân của luật đó có nội dung: "Tất cả những người sinh ra tại Hoa Kỳ và không chịu bất kỳ quyền lực nước ngoài nào, ngoại trừ người da đỏ không phải đóng thuế, đều được tuyên bố là công dân Hoa Kỳ". Nói cách khác, "thuộc thẩm quyền của thẩm quyền đó" nhất thiết loại trừ những người "thuộc thẩm quyền của bất kỳ thế lực nước ngoài nào". Như Chủ tịch Ủy ban Tư pháp Thượng viện lúc bấy giờ là Thượng nghị sĩ Lyman Trumbull (R-Ill.) đã nói trong cuộc tranh luận phê chuẩn Tu chính án thứ 14, "thuộc thẩm quyền" có nghĩa là thuộc thẩm quyền "hoàn toàn" của Hoa Kỳ -- tức là "không trung thành với bất kỳ ai khác".

Do đó, Tu chính án thứ 14 yêu cầu theo hiến pháp rằng cả người nước ngoài hợp pháp và bất hợp pháp đều không được hưởng quyền công dân theo quyền bẩm sinh. (Liệu Quốc hội có tự nguyện thông qua thêm luật ban hành quyền hay không là một vấn đề riêng biệt.)

Sự hiểu biết này đã không bị thách thức trong nhiều thập kỷ. Trong các vụ án  Slaughter-House Cases năm 1873, Thẩm phán Samuel Miller đã giải thích điều khoản về quyền công dân là "có mục đích loại trừ (khỏi hoạt động của nó những đứa con của ...) công dân hoặc thần dân của các quốc gia nước ngoài sinh ra tại Hoa Kỳ". Và trong vụ án Elk kiện Wilkins năm 1884, Thẩm phán Horace Gray cho rằng "thuộc thẩm quyền" có nghĩa là "không chỉ thuộc thẩm quyền của Hoa Kỳ ở một khía cạnh hoặc mức độ nào đó, mà hoàn toàn thuộc thẩm quyền chính trị của Hoa Kỳ, và có nghĩa vụ trung thành trực tiếp và ngay lập tức".

Đúng là Gray đã đảo ngược hướng đi một cách khó hiểu trong một vụ án thường được trích dẫn năm 1898, Hoa Kỳ kiện Wong Kim Ark. Trước một ý kiến ​​phản đối mạnh mẽ và thuyết phục được Thẩm phán John Marshall Harlan, người phản đối duy nhất trong vụ Plessy kiện Ferguson, Gray cho rằng có một số mức độ quyền công dân theo chế độ bẩm sinh đối với con cái của người nước ngoài. Nhưng ngay cả trong vụ án được quyết định sai trái đó, tòa án vẫn nhấn mạnh rằng phán quyết của mình chỉ giới hạn ở con cái của "người nước ngoài thường trú" chịu "sự trung thành" của Hoa Kỳ. Tòa án đã nhiều lần nhấn mạnh rằng phán quyết của mình chỉ áp dụng cho những người "cư trú" hợp pháp tại đây.

Không có bất kỳ trên thế giới nào mà ý kiến ​​ủng hộ quyền công dân theo chế độ bẩm sinh của Gray trong vụ Wong Kim Ark lại áp dụng cho con cái của người nước ngoài bất hợp pháp. Tám mươi bốn năm sau, trong vụ Plyler kiện Doe, tòa án đã bỏ đi một chú thích thừa cho biết vụ Wong Kim Ark cũng áp dụng cho con cái của người nhập cư bất hợp pháp. Nhưng chú thích không ràng buộc này của Thẩm phán William J. Brennan Jr., một người theo chủ nghĩa tự do hàng đầu, không phải là "luật của đất nước".

Quyền công dân theo nơi sinh theo Tu chính án 14 dành cho con cái của người nhập cư bất hợp pháp, tốt nhất là một cuộc tranh luận pháp lý sống động và chưa có hồi kết. Nhưng ý nghĩa ban đầu khá rõ ràng: Những người soạn thảo tu chính án sẽ kinh hoàng trước ý niệm rằng những người vi phạm luật pháp của chúng ta và nhập cảnh bất hợp pháp vào đất nước chúng ta sau đó có thể được cấp quyền công dân theo nơi sinh cho con cái của họ. Những người soạn thảo có thể đã lường trước, như rất nhiều người ngày nay không thấy, những động cơ sai trái to lớn do một chính sách thiếu cân nhắc như vậy gây ra.

Những người được gọi là đại bàng pháp lý đã sai. Và Trump, một lần nữa, lại đúng.


https://www.realclearpolitics.com/articles/2025/02/01/donald_trump_is_emphatically_correct_about_birthright_citizenship_152296.html


NVV dịch




 

 2025-01-24 

Trump Đúng Về Quyền Công Dân Theo Nơi Sinh
Trump không viết lại Tu chính án thứ 14; ông đang áp dụng đúng luật, dựa trên ngôn ngữ rõ ràng của nó và tiền lệ hiện hành của Tòa án Tối cao.


(Matthew Raymer, The Federalist, 24/1/2025)

Nếu bạn thắc mắc đảng Dân chủ sẽ mất bao lâu để kiện chính quyền Trump, chúng tôi có câu trả lời. Khi mực còn chưa kịp khô, mười tám tổng chưởng lý tiểu bang của đảng Dân chủ, bốn tổng chưởng lý tiểu bang khác của đảng Dân chủ và một nhóm các nhóm bên ngoài do Liên đoàn Tự do Dân sự Hoa Kỳ đứng đầu đã đệ đơn kiện lên tòa liên bang về lệnh hành pháp của Tổng thống Donald Trump chấm dứt quyền công dân theo nơi sinh đối với con cái của những người nhập cư bất hợp pháp. Lập luận của họ rằng Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã phán quyết rằng Tu chính án thứ 14 đảm bảo quyền công dân theo nơi sinh cho hầu như bất kỳ ai sinh ra ở đây, là hoàn toàn sai về mặt pháp lý. Tòa án nên tận dụng cơ hội này để làm đúng.

Tu chính án thứ 14 — được phê chuẩn sau Nội chiến và đảm bảo rằng những nô lệ cũ là công dân Hoa Kỳ — quy định rằng “tất cả những người sinh ra hoặc nhập tịch tại Hoa Kỳ và chịu sự quản lý của Hoa Kỳ đều là công dân của Hoa Kỳ và của Tiểu bang nơi họ cư trú”. Nguyên đơn tập trung vào phần đầu tiên, nhưng hầu như không để ý đến phần thứ hai, lập luận rằng, với một số ít trường hợp ngoại lệ (chẳng hạn như con cái của các nhà ngoại giao nước ngoài tại Hoa Kỳ), bất kỳ ai sinh ra tại Hoa Kỳ đều “chịu sự quản lý của Hoa Kỳ”, chỉ vì họ ở trong biên giới của Hoa Kỳ.

Họ làm điều này bằng cách dựa gần như hoàn toàn vào vụ án United States v. Wong Kim Ark, một ý kiến ​​của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ năm 1898 mà nguyên đơn đã hoàn toàn sai lầm. Trong vụ Wong, tòa án đã phán quyết rằng một người đàn ông sinh ra ở San Francisco với cha mẹ là người nhập cư Trung Quốc là công dân Hoa Kỳ theo Tu chính án thứ 14. Bỏ qua một số sự kiện quan trọng, nguyên đơn lập luận rằng điều này có nghĩa là tất cả trẻ em sinh ra ở Hoa Kỳ của tất cả cha mẹ là người nhập cư, với những trường hợp ngoại lệ rất hiếm đã đề cập ở trên, đều tự động là công dân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, ngay cả khi đọc lướt qua ý kiến ​​này, cũng thấy rằng Tòa án Tối cao không phán quyết điều gì như vậy.

Wong sinh ra ở California và sống cả cuộc đời ở Hoa Kỳ, cho đến khi anh thực hiện hai chuyến đi đến Trung Quốc để thăm gia đình khi trưởng thành. Lần đầu tiên anh trở về Hoa Kỳ, anh được hải quan chấp nhận là công dân Hoa Kỳ. Vài năm sau, sau khi đến thăm Trung Quốc lần thứ hai, anh bị từ chối nhập cảnh trở lại sau khi một viên chức hải quan kết luận rằng anh không phải là công dân, vì cha mẹ anh không phải là công dân Hoa Kỳ khi anh sinh ra ở đây.

SCOTUS đứng về phía Wong, nhưng vì một lý do rất quan trọng mà nguyên đơn không đề cập đến: cha mẹ của Wong là những người nhập cư hợp pháp vào Hoa Kỳ. Do đó, toàn bộ nền tảng cho lập luận của nguyên đơn — rằng SCOTUS đã duy trì quyền công dân theo nơi sinh cho con cái của những người nhập cư bất hợp pháp theo quyết định này — do đó hoàn toàn và rõ ràng là sai.

Khi đưa ra ý kiến ​​của mình, SCOTUS đã đi sâu vào ý nghĩa của cụm từ “chủ thể thuộc thẩm quyền ở đó”. Những gì họ tìm thấy, khi truy ngược lại hàng trăm năm qua luật chung của Anh, là cụm từ này bắt nguồn từ mối quan hệ “trung thành và bảo vệ” giữa cá nhân và quốc vương (theo lịch sử là một vị vua, nhưng ở đây là quốc gia). Trẻ em “sinh ra trong sự trung thành”, và do đó là công dân có quyền được “bảo vệ” khi sinh ra, bao gồm trẻ em sinh ra từ thần dân của nhà vua, cũng như trẻ em sinh ra từ “người nước ngoài trong tình hữu nghị” — tức là người nước ngoài hợp pháp “có nơi cư trú” ở đó với sự đồng ý của nhà vua. Đáng chú ý, tòa án nhận thấy rằng điều này không mở rộng đến con cái của người nước ngoài trong “cuộc chiếm đóng thù địch một phần lãnh thổ của chúng tôi”.

Sự đồng ý là từ ngữ then chốt. Trong phán quyết có lợi cho Wong, Tòa án Tối cao đã nêu rõ rằng Hoa Kỳ có tiếng nói trong việc ai là đối tượng chịu sự quản lý của mình, lưu ý rằng những người không phải công dân như cha mẹ của Wong “có quyền được bảo vệ và phải trung thành với Hoa Kỳ miễn là họ được Hoa Kỳ cho phép cư trú tại đây ” (được nhấn mạnh thêm). Trong trường hợp của Wong, điều này có nghĩa là Tu chính án thứ 14 đã cấp cho anh ta quyền công dân vì anh ta: (1) sinh ra tại Hoa Kỳ; và (2) chịu sự quản lý của Hoa Kỳ, do thực tế là cha mẹ anh ta là những người nhập cư hợp pháp được Hoa Kỳ cho phép cư trú tại đây vào thời điểm anh ta sinh ra.

Ngược lại rõ ràng và dễ phân biệt, trẻ em sinh ra từ những người nhập cư bất hợp pháp không “thuộc thẩm quyền” của Hoa Kỳ và do đó không được hưởng quyền công dân theo quyền khai sinh theo Tu chính án thứ 14, vì lý do đơn giản là Hoa Kỳ không cho phép chúng ở đây. Nói cách khác, mối quan hệ này không phải là mối quan hệ qua lại.

Một câu hỏi khó hơn là liệu Tu chính án thứ 14 có cấp quyền công dân theo nơi sinh cho trẻ em sinh ra từ người nước ngoài ở đây một cách hợp pháp nhưng trên cơ sở tạm thời, chẳng hạn như khách du lịch hoặc cá nhân có thị thực lao động hay không. Wong Kim Ark không đề cập rõ ràng đến vấn đề này, nhưng có lưu ý rằng cha mẹ của Wong đã "cư trú" (domiciled) tại Hoa Kỳ và kết luận rằng "mọi công dân hoặc đối tượng của một quốc gia khác, trong khi cư trú ở đây, đều nằm trong sự trung thành và bảo vệ, và do đó phải tuân theo quyền tài phán của Hoa Kỳ" (được nhấn mạnh thêm). Việc nhắc lại cụm từ "domicile", nghĩa là một tiểu bang thường trú hợp pháp, cho thấy rằng quyền công dân theo nơi sinh tối thiểu đòi hỏi phải có ý định sống hợp pháp và lâu dài tại Hoa Kỳ, ngay cả khi ý định đó sau này thay đổi.

Trong vụ kiện của mình, 18 Tổng chưởng lý tiểu bang Dân chủ tuyên bố rằng tổng thống “không có thẩm quyền để viết lại hoặc hủy bỏ một tu chính án hiến pháp hoặc luật lệ đã được ban hành hợp lệ”. (Họ đã ở đâu vào một tuần trước, khi Tổng thống Biden cố gắng phê chuẩn Tu chính án thứ 28 mới bằng sắc lệnh cá nhân?) Nhưng Trump không viết lại Tu chính án thứ 14; ông đang áp dụng luật như hiện tại, dựa trên ngôn ngữ rõ ràng của nó và tiền lệ hiện có của Tòa án Tối cao. Ít nhất, điều đó không nên gây tranh cãi.


https://thefederalist.com/2025/01/24/trump-is-right-about-birthright-citizenship/

Matthew Raymer là cựu cố vấn trưởng của Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa và là nghiên cứu viên thường trú gần đây tại Viện Chính trị thuộc Trường Harvard Kennedy.


NVV dịch

 

 2024-12-11 

Trump có thể chấm dứt quyền công dân bẩm sinh phổ quát. Hiến pháp không bao giờ yêu cầu điều đó

(The Daily Signal, 11/12/2024)

Tổng thống đắc cử Donald Trump một lần nữa hứa sẽ “chấm dứt quyền công dân theo nơi sinh” đối với trẻ em sinh ra tại Hoa Kỳ có cha mẹ là người nhập cư bất hợp pháp và không phải là người nhập cư.

Nhưng liệu ông có thể làm được điều này mà không cần sửa đổi Hiến pháp không?

Có, ông ấy có thể làm vậy - ít nhất là theo nghĩa gốc của điều khoản về quyền công dân trong Tu chính án thứ 14, mà như tôi đã giải thích rất chi tiết trong một bài đánh giá luật trước đó và một cặp Bản ghi nhớ pháp lý của Quỹ Di sản, điều này rất khác so với cách giải thích của hầu hết các học giả hiện đại.

Chắc chắn là ngày nay, quan điểm sai lầm của đa số người dân về điều khoản quyền công dân của Tu chính án thứ 14 là nó trao những gì về cơ bản tương đương với quyền công dân phổ quát ngay từ khi sinh ra - nói cách khác, hầu như tất cả trẻ em sinh ra trong ranh giới địa lý của Hoa Kỳ đều là công dân, bất kể tình trạng nhập cư của cha mẹ chúng.

Một sự thật nữa là chính phủ liên bang đã tuân thủ chính sách coi trẻ em sinh ra tại Hoa Kỳ là con của người nhập cư bất hợp pháp và của người không người nhập cư là công dân, mặc dù điều này không bắt buộc và là một sự thay đổi so với cách áp dụng Tu chính án thứ 14 sau khi được phê chuẩn vào tháng 7 năm 1868.

Tuy nhiên, nếu hiểu đúng theo quan điểm của người theo chủ nghĩa nguyên bản, thì không có điều khoản nào trong Điều khoản về quyền công dân (Citizenship Clause) thực sự yêu cầu áp dụng việc này. Trên thực tế, hoàn toàn ngược lại. Những người ủng hộ quyền công dân theo nơi sinh đã bỏ qua điều kiện quan trọng thứ hai trong tu chính án là "thuộc thẩm quyền" của Hoa Kỳ. [Cha mẹ của đứa trẻ này là công dân quốc gia khác thì quốc tịch của nó cũng bị chi phối bởi quốc gia đó]

Trong khi điều khoản về quyền công dân đã xóa bỏ các rào cản dựa trên chủng tộc đối với quyền công dân theo nơi sinh, những người soạn thảo và phê chuẩn rõ ràng có ý định rằng ngôn ngữ của điều khoản này sẽ hạn chế quyền công dân theo nơi sinh dựa trên mối quan hệ chặt chẽ của một người với Hoa Kỳ và việc không có mối quan hệ với một quốc gia khác.

Trong nhiều thập kỷ sau khi tu chính án được phê chuẩn, đó chính xác là cách mà tòa án và các học giả về hiến pháp của quốc gia này hiểu về điều khoản quyền công dân.

Chính phủ ngày nay không cần phải sửa đổi Hiến pháp để hạn chế quyền công dân đối với trẻ em sinh ra tại Hoa Kỳ của người nước ngoài bất hợp pháp hoặc không phải là người nhập cư. Họ chỉ cần đơn giản ngừng tuân thủ chính sách rộng rãi về quyền công dân bẩm sinh phổ quát mà Hiến pháp không bao giờ yêu cầu ngay từ đầu.

* Hiểu mục đích của Điều khoản về quyền công dân

Trong vụ án nổi tiếng năm 1856 Dred Scott kiện Sandford, Tòa án Tối cao đã xác định rằng con cháu của những nô lệ châu Phi sinh ra tại Hoa Kỳ không phải và không bao giờ có thể trở thành công dân. Phán quyết đó đã tạo ra một rào cản vĩnh viễn trước đây không tồn tại đối với quyền công dân dựa trên chủng tộc hoặc nguồn gốc tổ tiên của một người. Trên thực tế, phán quyết này đã giáng cấp những người da đen - bao gồm cả những người sinh ra tại Hoa Kỳ và về mặt logic, họ không trung thành với bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào khác ngoài Hoa Kỳ - vào tình trạng là những người nước ngoài vĩnh viễn ở quốc gia mà họ bị buộc phải sống và chết.

Sau Nội chiến, trong một nỗ lực trực tiếp nhằm bác bỏ Dred Scott và mở rộng quyền công dân cho những nô lệ mới được giải phóng, Quốc hội đã thông qua Đạo luật Dân quyền năm 1866. Đạo luật đó đã xác định các thông số của quyền công dân theo nơi sinh lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ: “Tất cả những người sinh ra tại Hoa Kỳ và không chịu sự chi phối của bất kỳ thế lực nước ngoài nào, ngoại trừ người da đỏ không phải đóng thuế, đều được tuyên bố là công dân Hoa Kỳ”.

Quốc hội đã soạn thảo và thông qua Tu chính án thứ 14, sau đó được phê chuẩn, chủ yếu là để tăng cường sự bảo vệ của Đạo luật Dân quyền bằng cách ghi chúng vào Hiến pháp. Theo Tu chính án thứ 14, quyền công dân thuộc về "tất cả những người sinh ra … tại Hoa Kỳ và chịu sự quản lý của Hoa Kỳ".

Một số người ủng hộ quyền công dân bẩm sinh phổ quát cho rằng vì định nghĩa về quyền công dân của Tu chính án thứ 14 khác với định nghĩa của Đạo luật Dân quyền, nên Quốc hội có ý định xóa bỏ (override) Đạo luật Dân quyền và thông qua thẩm quyền địa hạt (jus soli) của luật thông thường (common law) nước Anh - tức là nguyên tắc về quyền công dân chỉ dựa trên quyền bẩm sinh trong phạm vi ranh giới địa lý của một quốc gia.

Lịch sử lập pháp của cả Đạo luật Dân quyền và Tu chính án thứ 14 đều làm suy yếu mạnh mẽ lập luận đó. Các cuộc tranh luận xung quanh ngôn ngữ trong cả hai trường hợp cho thấy rằng trong khi Quốc hội tìm cách củng cố quyền công dân theo nơi sinh cho những nô lệ được giải phóng và xóa bỏ các rào cản dựa trên chủng tộc, thì đồng thời cũng tìm cách loại trừ khỏi quyền công dân theo nơi sinh với những nhóm cá nhân rộng lớn chỉ duy trì lòng trung thành tạm thời hoặc hạn chế với quốc gia.

Như một số nghị sĩ đã nói, quyền công dân theo nơi sinh được dành riêng cho những người, giống như những nô lệ được giải phóng, chịu sự "quyền tài phán hoàn toàn của Hoa Kỳ". "Chịu sự tài phán hoàn toàn của Hoa Kỳ" có nghĩa là một người không thực sự chịu sự chi phối của một thế lực nước ngoài, theo đó lòng trung thành của người đó với Hoa Kỳ bị chia rẽ hoặc bị hạn chế.

Thượng nghị sĩ Lyman Trumbull, R-Ill., một nhân vật chủ chốt trong việc thông qua Tu chính án thứ 14, cho biết "thuộc thẩm quyền" có nghĩa là không phải trung thành với bất kỳ quốc gia nào khác. Có vẻ như rõ ràng là một đứa trẻ sinh ra từ công dân Mexico bất hợp pháp tại Hoa Kỳ là công dân Mexico, phải trung thành về mặt chính trị với Mexico và không đáp ứng yêu cầu về thẩm quyền này trong tu chính án.

Sự thay đổi về ngôn ngữ giữa định nghĩa trong Đạo luật Dân quyền và định nghĩa theo hiến pháp trong Tu chính án thứ 14 rõ ràng và hoàn toàn là kết quả của những bất đồng về cách tốt nhất để loại trừ người Mỹ bản địa theo bộ lạc khỏi quyền công dân bẩm sinh.

Nó không hề phản ánh mong muốn của Quốc hội trong việc thay đổi cơ bản các nguyên tắc về quyền công dân ban đầu được nêu trong Đạo luật Dân quyền.

Hơn nữa, mục đích của Tu chính án thứ 14 không phải là phủ nhận hoặc phản đối Đạo luật Dân quyền, mà là củng cố các điều khoản của nó theo hiến pháp. Các định nghĩa về quyền công dân theo luật định và hiến pháp tồn tại song song trong 70 năm tiếp theo trong một khuôn khổ pháp lý duy nhất và được các tòa án và học giả pháp lý đương thời coi là bổ sung cho nhau, không cạnh tranh - một người "chịu sự chi phối của một thế lực nước ngoài" cho mục đích của Đạo luật Dân quyền thì không "chịu sự chi phối của quyền tài phán của Hoa Kỳ" theo Tu chính án thứ 14, và ngược lại.

Điều đó phù hợp với cách mà hầu hết các tòa án và học giả hiến pháp diễn giải Tu chính án thứ 14 trong nhiều thập kỷ sau khi phê chuẩn. Trong các vụ án Slaughterhouse nổi tiếng năm 1872, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ tuyên bố rằng yêu cầu về quyền tài phán nhằm loại trừ "con cái của các bộ trưởng, lãnh sự và công dân hoặc thần dân của các quốc gia nước ngoài sinh ra tại Hoa Kỳ".

Đáng chú ý là ngay cả những người ủng hộ quyền công dân phổ quát ngay từ khi sinh ra cũng đồng ý rằng ít nhất một số cá nhân đã (và vẫn đang) bị loại khỏi quyền công dân vì họ chỉ có lòng trung thành có điều kiện, mặc dù họ được sinh ra "ở Hoa Kỳ".

Ví dụ, ít người nghiêm túc tranh luận rằng điều khoản về quyền công dân áp dụng cho người Mỹ bản địa sinh ra chịu sự quản lý của chính quyền bộ lạc của họ. Mặc dù sinh ra "ở Hoa Kỳ", lòng trung thành của họ được chia đều giữa Hoa Kỳ và chính quyền bộ lạc của họ, vốn (và vẫn đang) được coi là "các quốc gia bán nước ngoài".

Trên thực tế, Tòa án Tối cao đã xác nhận điều này vào năm 1884 trong vụ Elk kiện Wilkins khi tòa từ chối quyền công dân đối với một người Mỹ bản địa vì anh ta "có lòng trung thành trên hết với" bộ tộc của mình chứ không phải Hoa Kỳ.

Quyền công dân Hoa Kỳ của người Mỹ bản địa không đến từ Tu chính án thứ 14, mà thông qua Đạo luật Công dân Da đỏ (Indian Citizenship Act) năm 1924. Sẽ không cần đến luật này nếu Tu chính án thứ 14 mở rộng quyền công dân cho tất cả những cá nhân sinh ra ở Hoa Kỳ, bất kể hoàn cảnh sinh ra của họ như thế nào và bất kể tình trạng pháp lý của cha mẹ họ ra sao.

Lịch sử lập pháp rõ ràng loại trừ người da đỏ khỏi quyền công dân theo di truyền cũng cho thấy rõ rằng điều khoản về quyền công dân không bao gồm những đứa trẻ sinh ra tại Hoa Kỳ của những cá nhân khác chỉ có lòng trung thành tối thiểu, có điều kiện hoặc tạm thời với Hoa Kỳ.

Đó là sự khác biệt giữa quyền tài phán tạm thời theo lãnh thổ - mà tất cả người nước ngoài nhập cảnh vào Hoa Kỳ với tư cách là khách du lịch phải tuân theo luật pháp của chúng tôi—và quyền tài phán chính trị hoàn toàn, mà cũng đòi hỏi phải trung thành với chính phủ Hoa Kỳ. Một khách du lịch có thể bị truy tố vì vi phạm luật hình sự của chúng tôi, nhưng không thể được triệu tập làm nhiệm vụ bồi thẩm đoàn hoặc bị bắt đi nghĩa vụ quân sự vì khách du lịch đó không phải tuân theo quyền tài phán hoàn toàn của Hoa Kỳ

Nếu khách du lịch đó sinh con khi ở đây, đứa trẻ sẽ là công dân của quốc gia đó và không có nghĩa vụ trung thành về mặt chính trị với Hoa Kỳ. Do đó, đứa trẻ không phải là công dân Hoa Kỳ.

Mặc dù khái niệm “nhập cư bất hợp pháp” không tồn tại vào thời điểm Tu chính án thứ 14 được thông qua, nhưng các nguyên tắc tương tự sẽ loại trừ những cá nhân có mặt bất hợp pháp tại Hoa Kỳ.

* Quyền công dân theo nơi sinh có thực sự là 'Luật về lãnh thổ' không?

Ngay cả khi đối mặt với thực tế về ý nghĩa ban đầu của Tu chính án thứ 14, những người ủng hộ quyền công dân bẩm sinh phổ quát ngày nay thường tuyên bố rằng điều đó không quan trọng vì Tòa án Tối cao được cho là đã tuyên bố cách giải thích của họ là "luật về lãnh thổ" (law of the land).

Đúng là trong vụ kiện năm 1898, Hoa Kỳ kiện Wong Kim Ark, Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng trẻ em sinh ra tại Hoa Kỳ của những người nhập cư Trung Quốc có mặt hợp pháp và thường trú tại Hoa Kỳ là công dân Hoa Kỳ theo Tu chính án thứ 14.

Nhưng phán quyết trong Wong Kim Ark chỉ đi chệch khỏi ý nghĩa ban đầu của Tu chính án thứ 14 nếu người ta chọn đọc nó theo giả định rằng Tòa án Tối cao có ý định lật đổ tiền lệ trong nhiều thập kỷ và thay đổi ý định rõ ràng của Quốc hội. Giả định đó là không cần thiết, phi logic và nguy hiểm.

Về cốt lõi, vụ án Wong Kim Ark là về nỗ lực của chính phủ nhằm lách Tu chính án thứ 14 và ngăn cản những người nhập cư Trung Quốc và con cái của họ trở thành công dân, bằng mọi cách, chỉ vì họ là người Trung Quốc. Vào thời điểm đó, luật liên bang cấm những người nhập cư Trung Quốc trở thành công dân nhập tịch, và theo nghĩa vụ hiệp ước với Trung Quốc, họ là thần dân Trung Quốc vĩnh viễn.

Giống như những nô lệ được giải phóng mà Quốc hội đã nghĩ đến khi soạn thảo Tu chính án thứ 14, những người nhập cư Trung Quốc bị cấm - hoàn toàn vì chủng tộc của họ - không được phép chịu sự quản lý hoàn toàn của Hoa Kỳ. Mặc dù không có mối ràng buộc trung thành với bất kỳ quốc gia nào khác, Wong Kim Ark đã bị giáng xuống thành người xa lạ vĩnh viễn ở đất nước nơi anh sinh ra và lớn lên và được coi là quê hương của mình.

Kiểu phân biệt chủng tộc trong quyền công dân này chính xác là những gì Tu chính án thứ 14 dự định cấm, và Tòa án Tối cao đã đúng khi công nhận hệ thống này là trò hề vi hiến thực sự. Trong khi ý kiến ​​này cũng có thể được hiểu là chấp nhận thẩm quyền địa hạt và quyền công dân phổ quát theo quyền thừa kế là “luật lãnh thổ”, thì nó cũng có thể dễ dàng được hiểu là chỉ chấp nhận một luật lãnh thổ linh hoạt, “Mỹ hóa” giới hạn ở các yếu tố về sự hiện diện hợp pháp và nơi cư trú vĩnh viễn.

Cách giải thích thứ hai này khiến cho phán quyết này phù hợp với ý nghĩa ban đầu của Tu chính án thứ 14. Đây cũng chính xác là điều mà nhiều nhà bình luận pháp lý vào thời điểm đó nghĩ rằng Tòa án Tối cao cũng muốn nói đến.

Nói một cách đơn giản, việc xử lý vụ án đó chỉ áp dụng cho con cái của người nước ngoài thường trú, và không thể được sử dụng để biện minh cho bất kỳ khiếu nại nào rằng nó mở rộng quyền công dân cho con cái của người nước ngoài có mặt bất hợp pháp hoặc tạm thời hợp pháp tại đây.

* Bài học cho ngày hôm nay

Tóm lại, trong khi chính phủ Hoa Kỳ ngày nay có thể tiếp tục đối xử với tất cả trẻ em sinh ra tại Hoa Kỳ như công dân, thì không phải vì Hiến pháp yêu cầu như vậy hoặc vì Tòa án Tối cao đã ra lệnh thực hiện chính sách như vậy. Cả người nhập cư bất hợp pháp và không nhập cư đều không đáp ứng được các yêu cầu về quyền thường trú hợp pháp do Quốc hội hình dung và được Tòa án Tối cao dựa vào trong quyết định.

Do đó, họ không phải chịu sự quản lý của Hoa Kỳ theo nghĩa gốc của điều kiện đó trong điều khoản về quyền công dân. Và điều quan trọng là việc họ không đáp ứng được các điều kiện thường trú hợp pháp không phải là kết quả của các rào cản pháp lý dựa trên chủng tộc khác.

Như tôi đã viết trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, việc chấp nhận ý nghĩa ban đầu của điều khoản về quyền công dân không phải là về định kiến ​​chủng tộc hay sự khinh miệt đối với người nhập cư. Thay vào đó, động thái như vậy thừa nhận rằng quyền công dân Hoa Kỳ được dành riêng cho tất cả những ai, bất kể chủng tộc hay lòng trung thành trước đây của họ, đã thực hiện các bước pháp lý có ý nghĩa để củng cố mối quan hệ lâu dài với người dân Hoa Kỳ, đã đảm nhận các nhiệm vụ và trách nhiệm vốn có đối với những mối quan hệ đó và không có lòng trung thành chính trị với bất kỳ quốc gia nào khác.

Việc quay trở lại chính sách quốc tịch phản ánh chính xác hơn sự hiểu biết ban đầu về điều khoản quốc tịch là điều đáng được cả người dân và những người muốn trở thành công dân ăn mừng.


https://www.dailysignal.com/2024/12/11/trump-can-end-universal-birthright-citizenship-constitution-never-required-it/


NVV dịch




 

 2024-03-04 

Ngay cả các thẩm phán theo chủ nghĩa tự do cũng đồng ý rằng Trump phải ở trên lá phiếu. Những người cấp tiến vẫn buồn thảm.

Phần lớn phe cánh tả, bao gồm cả giới truyền thông, mù quáng vì lòng căm thù Donald Trump đến mức họ quên mất hệ thống chính quyền của chúng ta phải hoạt động như thế nào.

(Ingrid Jacques, USAToday, 4/3/2024)

Siêu Thứ Ba đang đến gần, khi 15 tiểu bang và một vùng lãnh thổ sẽ bỏ phiếu trong cuộc bầu cử tổng thống sơ bộ. Nhờ phán quyết dứt khoát hôm thứ Hai, cựu Tổng thống Donald Trump sẽ vẫn có tên trong lá phiếu ở tất cả các tiểu bang.

Colorado và các tiểu bang khác đã cố gắng loại Trump khỏi cuộc bỏ phiếu sơ bộ vì những hành động của ông ấy dẫn đến và trong cuộc bạo loạn ở Điện Capitol vào ngày 6 tháng 1 năm 2021. Bằng cách tuyên bố Trump đã thực hiện một số hình thức “nổi loạn” vào ngày hôm đó, những người ủng hộ về việc sa thải ông cho biết đây là một nỗ lực để bảo tồn nền dân chủ - điều mà các đảng viên Đảng Dân chủ thường hay nói thời gian này.

Nhưng liệu có điều gì kém dân chủ hơn việc ngăn cản người dân Mỹ được lựa chọn ứng cử viên tổng thống?   

Tòa án tối cao đã chấm dứt khả năng đó. Tạ ơn Chúa.

Tất cả chín thẩm phán, bao gồm cả ba thẩm phán theo chủ nghĩa tự do, đều đồng tình rằng chỉ Quốc hội mới có thẩm quyền hạn chế quyền tiếp cận lá phiếu của ứng cử viên nếu xảy ra cáo buộc vi phạm Mục 3 của Tu chính án thứ 14. Đó là tu chính án của hiến pháp ngăn cản những người tham gia nổi dậy nắm giữ một chức vụ liên bang.

Các thẩm phán giải thích: “Chúng tôi kết luận rằng các tiểu bang có thể loại bỏ tư cách của những người nắm giữ hoặc toan nắm giữ chức vụ tiểu bang ” . “Nhưng theo hiến pháp, các tiểu bang không có quyền thực thi Mục 3 đối với các chức vụ liên bang, đặc biệt là Tổng thống.”

Hãy nghĩ những gì bạn muốn về Trump, nhưng ông ấy vẫn đáng phải có ngày ra tòa liên quan đến hành động của ông ấy vào ngày 6 tháng 1 năm 2021. Tại thời điểm này, ông ấy vẫn chưa bị kết án bất cứ điều gì. Và chỉ vì các đảng viên Đảng Dân chủ và nhiều người Mỹ khác không thích những gì họ chứng kiến ​​ngày hôm đó, nên mức đó chưa đủ cao để loại ông ta ra khỏi lá phiếu.

Đây là người mà gần một nửa số cử tri đã muốn ông tái cử vào năm 2020, và các cử tri sơ bộ của Đảng Cộng hòa dường như đã sẵn sàng lựa chọn ông lần nữa. Ông ấy hầu như không phải là một ứng cử viên ngoài lề.


Ngay cả một quyết định đồng thuận của Tòa án tối cao cũng không thể làm hài lòng những người theo chủ nghĩa tự do


Tôi đã hy vọng rằng một quyết định đồng thuận sẽ xoa dịu sự khó chịu đối với phán quyết bằng cách chỉ ra rằng nó có nguồn gốc vững chắc từ luật pháp và Hiến pháp - chứ không phải hệ tư tưởng. Đó cũng là điều mà Thẩm phán Amy Coney Barrett mong muốn.

Theo quan điểm đồng tình, bà ấy viết, “Đặc biệt trong trường hợp này, các phán quyết của Tòa án nên hạ nhiệt độ trong nước xuống chứ không phải tăng lên. Vì mục đích hiện tại, sự khác biệt của chúng ta không còn quan trọng bằng sự đồng thuận của chúng ta: Tất cả chín Thẩm phán đều đồng ý về kết quả của vụ án này. Đó là thông điệp mà người Mỹ nên mang về nhà.”

Không có may mắn như vậy.

Những phản ứng điên rồ bắt đầu xuất hiện ngay lập tức. Ví dụ, kẻ khiêu khích cánh tả Keith Olbermann đã đưa ra một thái độ nóng nảy, xúc phạm ba nữ thẩm phán theo chủ nghĩa tự do vì đã “chứng tỏ mình không có khả năng đọc hiểu”. Tôi chắc chắn rằng các Thẩm phán Ketanji Brown Jackson, Elena Kagan và Sonia Sotomayor sẽ có quan điểm khác.

Olbermann cũng đưa ra lý luận rằng tòa án – một trong ba nhánh không thể thiếu của nhà nước – nên “giải tán”.

Bạn hiểu ý rồi.

Sau đó, có những bài đăng “tin tức” chẳng hạn như bài đăng này của Associated Press : “Tòa án tối cao khôi phục quyền bỏ phiếu của Trump, bác bỏ những nỗ lực của tiểu bang nhằm buộc ông ta phải chịu trách nhiệm về vụ tấn công vào Điện Capitol vào năm 2021.”

Đó hoàn toàn không phải là điều mà tòa án đã phán quyết. Nhưng tại sao lại để sự thật biến đi, nhường chỗ cho khuynh hướng chống Trump?


Hãy để người dân bỏ phiếu. Chấm hết.

Phần lớn phe cánh tả, bao gồm cả giới truyền thông, mù quáng vì lòng căm thù Trump đến mức họ quên mất hệ thống nhà nước của chúng ta phải hoạt động như thế nào.

Cách chắc chắn nhất để buộc Trump phải chịu trách nhiệm sẽ diễn ra tại thùng phiếu - bây giờ là trong các cuộc bầu cử sơ bộ và vào tháng 11. Nếu các đảng viên Đảng Dân chủ thực sự sợ ông ấy đến vậy, họ có thể tranh cử khá nhiều người khác ngoài Tổng thống Joe Biden, người đang có nguy cơ thua cuộc nghiêm trọng vào tháng 11.

Cố gắng thực hiện những hành động thiếu khôn ngoan như Colorado đã làm sẽ chỉ làm chia rẽ đất nước hơn nữa và góp phần gây mất lòng tin vào các cuộc bầu cử đã hình thành trong vài năm qua.

Hãy để người dân bỏ phiếu, đó là cách rõ ràng nhất để công dân có tiếng nói trong nước cộng hòa của chúng ta.


https://www.usatoday.com/story/opinion/columnist/2024/03/04/trump-supreme-court-colorado-ballot-super-tuesday/72838766007/

NVV dịch


 

 2024-03-04  

Khối đa số Tối cao Pháp viện cho biết các tiểu bang không thể loại bỏ bất kỳ ứng cử viên liên bang nào khỏi lá phiếu

Có một sự chia rẽ 5 phiếu thuận – 4 phiếu chống về vấn đề này. Khối thiểu số các thẩm phán cho rằng ý kiến của khối đa số đã đi quá xa.

(Jack Phillips, Epoch Times, 4/3/2024) 

Khi Tối cao Pháp viện đồng thuận đảo ngược quyết định của Tòa án Tối cao Colorado ngăn chặn cựu Tổng thống (TT) Donald Trump tiếp cận lá phiếu, một khối đa số 5 phiếu thuận – 4 phiếu chống đồng thời phán quyết rằng các tiểu bang không có quyền thực thi lệnh cấm của Tu chính án thứ 14 đối với các ứng cử viên liên bang liên quan đến “cuộc nổi dậy hoặc nổi loạn.”

Nhưng bốn thẩm phán bất đồng quan điểm đã viết rằng họ tin rằng quyết định này đã đi quá xa, đồng thời chỉ trích các thẩm phán đồng sự của họ về vấn đề này. Tất cả chín thẩm phán đều đồng ý rằng Colorado không thể loại bỏ cựu tổng thống khỏi lá phiếu của tiểu bang này.

Chánh án John Roberts cũng như các Thẩm phán Brett Kavanaugh, Neil Gorsuch, Samuel Alito, và Clarence Thomas, do các tổng thống Đảng Cộng Hòa bổ nhiệm, đã khẳng định rằng các tiểu bang không thể loại bỏ một quan chức liên bang, và đặc biệt là tổng thống, khỏi các cuộc bỏ phiếu theo Tu chính án thứ 14. Họ viết rằng để làm được như vậy, trước tiên Quốc hội phải thông qua luật.

“Chúng tôi kết luận rằng các Tiểu bang có thể loại bỏ những người nắm giữ hoặc cố gắng nắm giữ chức vụ trong tiểu bang. Nhưng theo Hiến Pháp, các Tiểu bang không có thẩm quyền thực thi Mục 3 đối với các cơ quan liên bang, đặc biệt là chức Tổng thống,” khối đa số nói. “Không có điều gì trong Hiến Pháp trao cho các tiểu bang thẩm quyền thực thi Mục 3 đối với các quan chức và ứng cử viên liên bang.”

Nhưng bốn thẩm phán đã viết rằng họ không đồng tình với khẳng định đó, cho rằng điều đó quá rộng và không còn nhiều khoảng trống cho việc áp dụng Tu chính án thứ 14 trong tương lai.

Tòa án Tối cao Colorado đã trích dẫn phần tu chính án đó để giải thích cho việc loại cựu TT Trump ra khỏi cuộc bỏ phiếu hồi tháng 12/2023. Phần lớn các thẩm phán của tòa án này viết rằng ông đã tham gia vào một cuộc nổi dậy vì hành động của mình vào và trước ngày 06/01/2021, khi tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ bị xâm phạm.

Cựu tổng thống cũng bị cấm tham gia cuộc bỏ phiếu ở Maine và Illinois dựa trên Tu chính án thứ 14. Những quyết định đó đã bị tạm dừng thực thi để chờ phán quyết của Tối cao Pháp viện trong vụ kiện ở Colorado.

Những lá phiếu phản đối

Các thẩm phán Sonia Sotomayor, Elena Kagan, và Ketanji Brown Jackson — do các tổng thống Đảng Dân Chủ bổ nhiệm — đã viết rằng phán quyết của khối đa số sẽ khép lại “cơ hội đối với các biện pháp thực thi tiềm năng khác của liên bang” và rằng “chúng tôi không thể tham gia vào một bản ý kiến quyết định những vấn đề trọng yếu và khó khăn một cách không cần thiết.”

“Mặc dù chúng tôi đồng ý rằng Colorado không thể thực thi Mục 3, nhưng chúng tôi phản đối nỗ lực của khối đa số trong việc sử dụng vụ kiện này để xác định các giới hạn trong việc liên bang thực thi điều khoản đó,” họ viết về điều khoản nổi dậy, nằm trong Mục 3 của Tu chính án thứ 14.

Họ nói thêm rằng “chúng tôi sẽ chỉ quyết định vấn đề trước mắt chúng tôi” và “chúng tôi chỉ đồng tình với phán quyết này.”

Trong một bản ý kiến riêng, Thẩm phán Amy Coney Barrett không đồng tình với phán quyết của khối đa số về khía cạnh đó của vụ án và cũng không đồng tình với ba thẩm phán bất đồng quan điểm. Thay vào đó, bà lập luận rằng vụ kiện về cuộc bỏ phiếu của ông Trump không yêu cầu các thẩm phán “giải quyết câu hỏi phức tạp liệu hệ thống lập pháp liên bang có phải là phương tiện duy nhất để thực thi Mục 3 hay không.”

“Vụ kiện này do cử tri Colorado đưa ra theo luật tiểu bang tại tòa án tiểu bang. Điều này không yêu cầu chúng ta phải giải quyết câu hỏi phức tạp về việc liệu hệ thống lập pháp liên bang có phải là phương tiện duy nhất để Mục 3 có thể được thực thi hay không,” Thẩm phán Barrett viết.

Sau đó, bà lập luận rằng “việc khối đa số lựa chọn một con đường khác khiến các Thẩm phán còn lại có quyền lựa chọn cách phản ứng” và rằng “Pháp viện đã giải quyết một vấn đề mang tính chính trị trong mùa bầu cử tổng thống đầy biến động.”

“Đặc biệt là trong hoàn cảnh này, các bài viết về Pháp viện nên xoa dịu chứ không nên góp thêm vào cơn thịnh nộ của cả nước,” bà tiếp tục

Cựu TT Trump là ứng viên dẫn đầu cho đề cử của Đảng Cộng Hòa để thách thức TT Joe Biden trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 05/11. Đối thủ duy nhất còn lại của ông trong vòng giành đề cử của đảng mình là cựu Thống đốc South Carolina Nikki Haley.

Phán quyết này được đưa ra ngay trước ngày Siêu Thứ Ba (05/03), ngày mà hầu hết các tiểu bang đều tổ chức bầu cử đề cử theo đảng trong vòng bầu cử sơ bộ tổng thống Hoa Kỳ. Ngoài Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, cựu tổng thống đã giành chiến thắng ở mọi tiểu bang trước đó, do đó giành được số lượng đại biểu đáng kể để bảo đảm được Đảng Cộng Hòa đề cử.

Đáng chú ý, Colorado và Maine dự kiến tổ chức bầu cử sơ bộ vào ngày Siêu Thứ Ba.

Sáu cử tri ở Colorado, những người đã thách thức tư cách của ông tại tòa án, mô tả ông là một mối đe dọa đối với nền dân chủ Mỹ và tìm cách buộc ông phải chịu trách nhiệm về vụ xâm phạm ngày 06/01/2021. Trong ba năm qua, cựu TT Trump thường xuyên lưu ý rằng ông đã nói với những người ủng hộ và những người sẽ biểu tình trước vụ vi phạm hãy biểu tình “một cách ôn hòa và yêu nước.”

Cựu tổng thống hoan nghênh phán quyết này, nói trong một lần xuất hiện ở Florida rằng: “Về cơ bản, quý vị không thể loại ai đó ra khỏi cuộc đua vì đối thủ muốn làm như vậy.”

“Họ đã làm việc lâu dài, họ làm việc chăm chỉ và thẳng thắn, họ làm việc rất nhanh chóng về một điều sẽ được nói đến trong 100 năm nữa và 200 năm sau nữa, vô cùng quan trọng,” ông nói hôm thứ Hai (04/03), đề cập đến các thẩm phán [Tối cao Pháp viện].

Đi xa hơn, ông cho biết ông hy vọng phán quyết này sẽ giúp gắn kết đất nước. “Tôi nghĩ sẽ phải mất một chặng đường dài để gắn kết đất nước chúng ta lại với nhau, điều mà đất nước chúng ta cần,” cựu tổng thống nói.

 

https://www.theepochtimes.com/us/5-4-supreme-court-majority-says-states-cant-remove-any-federal-candidate-from-ballots-5600218

Nguyễn Lê biên dịch

 

 2024-01-23 

‘Quả bom chưa nổ’ trong Hiến Pháp đang đe dọa cuộc bầu cử năm 2024

Lịch sử đằng sau Mục 3 của Tu chính án thứ 14 đang được sử dụng để loại cựu TT Trump khỏi các lá phiếu bầu cử và sẽ được Tối cao Pháp viện xét xử.

(Petr Svab, Epoch Times, 23/1/2024)

‘Quả bom chưa nổ’ trong Hiến Pháp đang đe dọa cuộc bầu cử năm 2024

Trong một tình huống hết sức trớ trêu liên quan đến lịch sử, một trong những phần ít được nghiên cứu nhất của Hiến Pháp Hoa Kỳ sắp gây ra một cơn lốc trả thù chính trị trên đất nước này.

Tuy nhiên, Tối cao Pháp viện vẫn có thể ngăn chặn một hậu quả như vậy.

Mục 3 của Tu chính án thứ 14, điều khoản tước bỏ tư cách [nắm giữ chức vụ công quyền], có mục đích ban đầu là để trừng phạt những kẻ nổi loạn trong Nội Chiến và kể từ đó thường bị coi là không phù hợp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, mục này đã được một số học giả nhắc lại và được các nhà hoạt động và quan chức Đảng Dân Chủ sử dụng. Họ nói rằng mục này cấm cựu Tổng thống (TT) Donald Trump trở lại nắm quyền do vai trò của ông trong cuộc nổi loạn tại Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 06/01/2021.

Tòa án Tối cao Colorado kết luận rằng cựu TT Trump đã tham gia vào cuộc nổi dậy và do đó bị tước bỏ tư cách tham gia tranh cử theo Mục 3.

Đổng lý Tiểu bang Maine Shenna Bellows cũng đưa ra một phán quyết tương tự. Những nỗ lực tương tự đang được tiến hành ở các tiểu bang khác như New York, California, và Pennsylvania.

Tối cao Pháp viện đã đồng ý xét xử vấn đề này theo một lịch trình nhanh chóng, ấn định phiên điều trần vào ngày 08/02.

Nhiều chuyên gia về Hiến Pháp cho biết nội dung của Mục 3 có phạm vi rộng, vẫn còn bỏ ngỏ, và cần được giải thích một cách thận trọng. The Epoch Times đã xem xét hàng ngàn trang văn bản pháp lý, học thuật, và lịch sử về vấn đề này.

Theo lời của một chuyên gia, điều nguy hiểm là hồ sơ lịch sử cho thấy điều khoản này được viết mà hầu như không có tầm nhìn xa về cách mà điều khoản này có thể được áp dụng ngoài bối cảnh cuộc Nội Chiến — một “quả bom chưa nổ” ẩn mình trong Hiến Pháp.

Đảng Cộng Hòa là tác giả viết nên điều luật này và họ đang phải đối mặt với việc bị lật đổ bằng chính bộc phá của mình cho dù ngòi nổ đó đã tồn tại hơn 150 năm qua.

Tuy nhiên, các tác động có thể dội ngược trở lại vì một số người vẫn mang suy nghĩ rằng, nếu Mục 3 áp dụng được cho cựu TT Trump thì cũng có thể áp dụng một cách hợp lý cho nhiều thành viên Đảng Dân Chủ, trong đó có chính TT Joe Biden.

Giai đoạn lịch sử hỗn loạn

Tu chính án thứ 14 phát sinh từ những hậu quả chính trị của cuộc Nội Chiến vừa kết thúc. Quốc hội nhiệm kỳ thứ 39, do Đảng Cộng Hòa chiếm đa số, được triệu tập vào năm 1865 trong thời điểm đầy những khó khăn.

Ông Kurt Lash, một giáo sư luật Hiến Pháp tại Đại học Richmond và là chuyên gia hàng đầu về lịch sử của Tu chính án thứ 14, cho biết: “Họ gặp nhau chỉ vài tháng sau khi Nội chiến kết thúc và Tổng thống Abraham Lincoln đã bị ám sát chỉ vài tháng trước đó.”

Ông nói với The Epoch Times rằng ngay lập tức, Đảng Cộng Hòa phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng chính trị.

Quân đội Liên bang và Liên minh miền Nam chiến đấu trong Trận Franklin ở Tennessee vào ngày 30/11/1864. (Ảnh: MPI/Getty Images)
Quân đội Liên bang và Liên minh miền Nam chiến đấu trong Trận Franklin ở Tennessee vào ngày 30/11/1864. (Ảnh: MPI/Getty Images)

Một lý do là, việc phóng thích hàng triệu nô lệ đã gây ra những hậu quả không lường trước được.

Trong thời kỳ lập quốc, các tiểu bang miền Bắc đã tìm cách giảm bớt những gì mà họ coi là lợi thế chính trị không công bằng của miền Nam — cuộc thống kê dân số đã tính cả số lượng nô lệ cho việc chia ghế trong Hạ viện và Đại cử tri Đoàn, nhưng nô lệ sẽ không được phép bỏ phiếu, từ đó tăng quyền bầu cử cho người miền Nam tự do.

Đó là lý do tại sao miền Bắc khăng khăng không tính nô lệ, trong khi miền Nam muốn họ được tính. Cuối cùng, một thỏa hiệp đã đạt được là một người nô lệ được tính bằng 3/5 so với một người [tự do].

Sau khi được trả tự do, những người nô lệ trước đây sẽ lại được coi là một con người trọn vẹn, điều này sẽ “khuếch đại quyền lực chính trị của các tiểu bang sở hữu nô lệ khi những tiểu bang này quay trở lại Quốc hội,” ông Lash nói.

Sau chiến tranh, Đảng Dân Chủ miền Nam ngay lập tức thiết lập “Luật người da đen” (Black Codes), trên thực tế đã ngăn chặn các quyền của người Mỹ gốc Phi Châu, bao gồm cả quyền bầu cử, và chặn trước việc hình thành một khối Cộng Hòa ở miền Nam.

Ông Lash cho biết, Đảng Dân Chủ miền Nam và miền Bắc đang trên đà hợp tác để giành đa số trong Quốc hội, dập tắt chương trình “Tái thiết” của Đảng Cộng Hòa.

“Đây là mối nguy hiểm trước mắt đối với Đảng Cộng Hòa và Liên bang.”

Đảng Cộng Hòa đã sẵn sàng sử dụng các biện pháp cực cấp tiến để ngăn chặn một mối nguy hiểm như vậy. Khi các nghị sĩ Đảng Dân Chủ miền Nam quay trở lại Quốc hội vào lúc Quốc hội nhiệm kỳ thứ 39 bắt đầu vào tháng 12/1865, khối đa số Đảng Cộng Hòa tại Hạ viện đúng là đã từ chối xướng tên và xếp chỗ cho họ.

Dân biểu James Brooks (Dân Chủ-New York), một thành viên Đảng Dân Chủ nổi bật ở miền Bắc, đã yêu cầu Thư ký Hạ viện giải thích, nhưng Dân biểu Thaddeus Stevens (Cộng Hòa-Pennsylvania) xen vào: “Điều đó không cần thiết. Chúng tôi biết tất cả.”

“Mọi chuyện vô cùng căng thẳng,” ông Lash nói.

Tổng thống (TT) Andrew Johnson, một thành viên Đảng Dân Chủ miền Bắc từng đồng tranh cử với TT Lincoln vào năm 1864 với tư cách phó tổng thống liên danh thuộc Đảng Liên minh Quốc gia, không đồng tình với việc loại trừ các nghị sĩ miền Nam. Ông Lash cho biết, sự rạn nứt giữa Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hòa ngày càng lan rộng, một sự chia rẽ bao trùm khắp đất nước.

Ông cho rằng nếu các thành viên Đảng Dân Chủ miền Bắc và miền Nam kết hợp để chiếm một khối đa số trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1866, thì có rất có thể TT Johnson sẽ hợp tác với họ để thành lập một Quốc hội mới từ chối cho các nghị sĩ Đảng Cộng Hòa tham gia và “loại bỏ hoàn toàn Quốc hội của Đảng Cộng Hòa.”

“Có thể chúng ta sẽ có hai chính phủ cạnh tranh nhau sau cuộc bầu cử năm 1866 và điều đó sẽ dẫn đến cuộc nội chiến thứ hai.”

Để tìm ra một giải pháp, Đảng Cộng Hòa ở cả Hạ viện và Thượng viện đã thành lập Ủy ban Chung về Tái thiết để nhanh chóng soạn thảo các sửa đổi Hiến Pháp nhằm bảo đảm những người được phóng thích ở miền Nam được phép thực hiện các quyền của mình.

Họ cũng nhận thấy cần phải ngăn chặn những người từng gia nhập Liên minh nắm quyền, gần như là một hình phạt cho tình trạng tàn sát khốc liệt trong chiến tranh và cũng là một lời quở trách cho TT Johnson, người đang ân xá một cách hào phóng cho những người từng nổi dậy.

Ủy ban này đã đưa ra hàng loạt đề xướng nhưng đều thất bại. Không chỉ các thành viên Đảng Dân Chủ phản đối gay gắt kế hoạch này, mà ngay cả các thành viên Đảng Cộng Hòa cũng mâu thuẫn nội bộ. Những người cực cấp tiến tìm cách trừng phạt miền Nam một cách nghiêm khắc vì những gì họ xem là phản bội, trong khi những người ôn hòa tìm kiếm sự khoan hồng để theo đuổi một giải pháp hòa giải. Một cánh mới của phe Bảo tồn Truyền thống Thiên tả đã xuất hiện, thúc đẩy sự khoan dung hơn nữa đối với miền Nam.

Cuối cùng, nhà hoạt động Đảng Cộng Hòa Robert Owen đã đề xướng với ông Stevens một cách tiếp cận khác — tập hợp tất cả những đề xướng này lại với nhau và đe dọa phá hủy toàn bộ nỗ lực nhằm buộc những người bất đồng chính kiến phải thuận theo một tiêu chuẩn chung.

Ủy ban này đã làm như vậy, đưa ra một bản dự thảo gần với bản sửa đổi cuối cùng, ngoại trừ Mục 3.

Mục 3 cấm các thành viên nào từng tham gia cuộc nổi loạn của Liên minh miền Nam bỏ phiếu bầu cử Quốc hội và Đại cử tri Đoàn. Quốc hội không muốn điều này. Một số thành viên cho rằng mục này đã tước đoạt quyền bầu cử của quá nhiều người Mỹ. Những người khác cho rằng điều khoản về Đại cử tri Đoàn rất dễ bị lách luật vì các tiểu bang có thể thông qua luật bổ nhiệm đại cử tri thay vì bỏ phiếu cho họ.

Ông Lash nói: “Mục này đã bị băm thành nhiều mảnh nhỏ.”

Vì không muốn gây nguy hiểm cho phần còn lại của đề xướng này, nên Hạ viện đã thông qua dự thảo sửa đổi đó.

Tuy nhiên, các thành viên Đảng Cộng Hòa tại Thượng viện không chấp nhận điều đó. Họ khẳng định Mục 3 phải bị bác bỏ và thay thế. Sau khi bế tắc tại Thượng viện, Đảng Cộng Hòa rút lui để tiếp tục thảo luận riêng. Những cuộc thảo luận được cho là “bí mật” lại chẳng có gì là bí mật. Các thượng nghị sĩ luôn cập nhật cho báo chí về tiến trình đàm phán của họ, hay đúng hơn là thiếu tiến trình đó. Cuối cùng, năm Thượng nghị sĩ, những người phục vụ trong Ủy ban Chung ban đầu, được yêu cầu soạn thảo ngôn ngữ mới cho Mục 3 với sự hiểu biết rằng bất cứ điều gì họ viết ra đều sẽ được chấp thuận.

Thượng nghị sĩ William Fessenden (Cộng Hòa-Maine) đã chuyển kết quả tới nhóm họp kín, ghi nhận công lao của hai đồng nghiệp của ông là Thượng nghị sĩ Jacob Howard (Cộng Hòa-Michigan) và Thượng nghị sĩ James Grimes (Cộng Hòa-Iowa), vì đã đưa ra bản dự thảo mà sau đó đã được nhóm họp kín đồng lòng thông qua chỉ với một số điều chỉnh. Trở lại sàn Thượng viện, Đảng Cộng Hòa sau đó đã bác bỏ mọi phản đối và thông qua toàn bộ bản sửa đổi.

Phiên bản cuối cùng của Mục 3 thể hiện một thất bại nặng nề đối với những thành viên cực cấp tiến của Đảng Cộng Hòa. Khác xa với việc tước quyền bầu cử của những người nổi dậy trong Liên minh miền Nam, mục này chỉ cấm những người trước đây đã tuyên thệ với Hiến Pháp được nắm giữ một số chức vụ nhất định, ông Lash đã viết trong bài nghiên cứu gần đây của mình, “Ý nghĩa và sự mơ hồ của Mục 3 trong Tu chính án thứ 14.”

Khi đó, Thượng nghị sĩ Lyman Trumbull (Cộng Hòa-Illinois) nói với báo chí rằng điều này “nhằm tạo ra một sự kỳ thị, một sự ô nhục nào đó đối với những người lãnh đạo cuộc nổi dậy này.”

“Không còn cách nào khác để làm điều đó ngoại trừ điều khoản kiểu như thế này.”

Trở lại Hạ viện, ông Stevens chỉ trích Mục 3 mới là không thỏa đáng, và khẩn nài Quốc hội thông qua “các đạo luật tạo điều kiện thích hợp” để Tu chính án này có hiệu lực nhằm tránh việc nó “có thể trao Quốc hội và Tổng thống tiếp theo cho phe nổi dậy được tái thiết này.”

Hạ viện ở Hoa Thịnh Đốn năm 1868. (Ảnh: MPI/Getty Images)
Hạ viện ở Hoa Thịnh Đốn năm 1868. (Ảnh: MPI/Getty Images)

Bất chấp sự phản đối của mình, ông vẫn ủng hộ Tu chính án, và Hạ viện đã thông qua ngay sau đó, giao văn kiện này cho các tiểu bang phê chuẩn.

Tuy nhiên, hầu hết các tiểu bang miền Nam đều từ chối phê chuẩn.

Đảng Cộng Hòa, được củng cố bởi chiến thắng quyết định trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 1866, đã phản ứng bằng cách thông qua hai Đạo luật Tái thiết áp đặt lên miền nam một loạt yêu cầu như một điều kiện để tiếp nhận họ vào liên minh và cho phép các nghị sĩ của họ được ngồi vào ghế.

Các điều kiện bao gồm việc bãi bỏ Luật người da đen, thông qua Hiến Pháp mới của các tiểu bang, chuyển các tiểu bang dưới sự giám sát chính thức của quân đội và phê chuẩn Tu chính án thứ 14. Tổng thống Johnson phủ quyết các dự luật này, nhưng Đảng Cộng Hòa đã phủ quyết ông ấy.

Tuy nhiên, miền Nam vẫn không hợp tác.

Đạo luật Tái thiết chỉ thị quân đội giám sát việc bỏ phiếu và ghi danh cử tri ở miền Nam, cho phép người Mỹ gốc Phi Châu được quyền tham gia. Sau đó, những cử tri mới này đã giúp khởi động các Hội nghị Lập hiến, thông qua Hiến Pháp mới của các tiểu bang, thành lập các chính phủ mới, và trong số này đã có đủ số người phê chuẩn Tu chính án để kế hoạch này vượt qua được sự chấp thuận cần thiết của 3/4 số tiểu bang.

Cuối cùng, vào ngày 09/07/1868, Tu chính án thứ 14 đã được thông qua.

Mục 3 quy định: “Những người đã tuyên thệ ủng hộ Hiến Pháp của Hoa Kỳ với tư cách là thành viên của Quốc hội, hoặc quan chức của Hoa Kỳ, hoặc thành viên của cơ quan lập pháp của bất kỳ tiểu bang nào, hoặc quan chức hành pháp hoặc tư pháp của bất kỳ tiểu bang nào nhưng lại tham gia vào cuộc nổi dậy hay nổi loạn chống lại Hiến Pháp hoặc trợ giúp hoặc úy lạo kẻ thù, thì không thể là Thượng nghị sĩ hoặc Dân biểu trong Quốc hội, hoặc đại cử tri để bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, hoặc giữ bất kỳ chức vụ nào, dân sự hay quân sự, dưới Hoa Kỳ hoặc dưới một tiểu bang nào đó. Nhưng Quốc hội có thể loại bỏ tình trạng không đủ tư cách đó bằng hai phần ba số phiếu của mỗi viện.”


Hồ sơ ghi chép còn hạn chế

Để giải thích Hiến Pháp, việc xem xét cuộc tranh luận diễn ra trước khi luật được thông qua và phê chuẩn thường rất hữu ích. Tuy nhiên, theo ông Dave Kopel, giám đốc nghiên cứu của Viện Độc lập và là chuyên gia về Hiến Pháp và bối cảnh pháp lý thế kỷ 18, trong trường hợp của Mục 3, hồ sơ ghi chép của Quốc hội còn hạn chế.

“Chắc chắn mục này không trả lời được mọi thứ và không có phạm vi lớn đến thế,” ông Kopel cho biết. “Chúng ta đã có một số thông tin về việc áp dụng ban đầu và đó gần như là tất cả những gì chúng ta có.”

Ông Lash cho biết, việc thiếu sự rõ ràng về mặt lịch sử và việc thiếu nghiên cứu chung về chủ đề này khiến việc giải thích trở nên phức tạp.

Ông nói: “Không có chuyên gia nào về Mục 3. “Chúng ta sẽ nắm bắt được vấn đề này khi đi tiếp.”

Mang tính thỏa hiệp, văn bản của Mục 3 bị ảnh hưởng bởi một số áp lực cạnh tranh. Những người cực cấp tiến muốn mục này trừng phạt những kẻ nổi loạn trước đây và ngăn họ tiến vào hội trường Quốc hội.

Ông Stevens tuyên bố nếu không có mục này, “cánh bên đó của Hạ viện sẽ tràn ngập những kẻ ly khai la hét và rít lên như rắn độc.”

Tuy nhiên, mục này cũng không thể quá sâu rộng vì nó sẽ đẩy lùi những người theo chủ nghĩa ôn hòa và thiên tả.

Trong khi đó, mục này cần phải được xây dựng nhanh chóng vì nó đang cản trở toàn bộ Tu chính án thứ 14.

Với những hạn chế này, hầu như tất cả các cuộc tranh luận về Mục 3 đều tập trung vào những vấn đề cấp thiết nhất — ngăn chặn những người nổi dậy trước đây vào Quốc hội và ngăn họ gây ảnh hưởng đến Đại cử tri Đoàn trong cuộc bầu cử năm 1868 sắp đến gần, theo ông Lash và các ghi chép lịch sử.

“Đó là điều mà mọi người lưu tâm. Mọi người đều nhìn vấn đề này dưới góc độ: ‘Làm thế nào để chúng ta đối phó với những kẻ sát nhân hàng loạt trong Nội chiến vốn là những kẻ điều hành các nhà tù và bỏ đói tù nhân chiến tranh của chúng ta cho đến chết, những kẻ phải chịu trách nhiệm cho 600,000 người tử vong ở miền Bắc và miền Nam và hiện là những người tạo ra hàng ngàn kẻ nổi loạn đang chực chờ,’” ông nói.

Hầu như không có tranh luận về hậu quả rộng hơn của điều khoản này. Liệu điều khoản đó sẽ chỉ áp dụng cho Liên minh miền Nam hay sẽ được áp dụng cho bất kỳ cuộc nổi dậy nào trong tương lai? Chính xác thì mục này được thực thi như thế nào? Liệu mục này có áp dụng cho tổng thống và phó tổng thống hay không?

Đối với hầu hết các câu hỏi như vậy, “có những lập luận đáng tôn trọng theo cả hai cách và đó không phải là vấn đề pháp luật được giải quyết rõ ràng,” ông Kopel cho biết.

Bản in màu của một bức tranh khắc gỗ mô tả Dân biểu Thaddeus Stevens (Cộng Hòa-Pennsylvania) đưa ra lập luận cuối cùng trước Hạ viện trong cuộc tranh luận ngày 02/03/1868 về các điều khoản đàn hặc. (Ảnh: Tài liệu công cộng)
Bản in màu của một bức tranh khắc gỗ mô tả Dân biểu Thaddeus Stevens (Cộng Hòa-Pennsylvania) đưa ra lập luận cuối cùng trước Hạ viện trong cuộc tranh luận ngày 02/03/1868 về các điều khoản đàn hặc. (Ảnh: Tài liệu công cộng)

Nội dung được soạn thảo sơ sài

Như ông Lash thừa nhận, Mục 3 không phải là luật được viết đặc biệt rõ ràng.

“Nội dung mục này lẽ ra có thể được viết rõ ràng hơn nhiều,” ông nói trong một phúc đáp qua thư điện tử, đồng thời lưu ý rằng bản dự thảo ban đầu, do “lưỡng đảng viết” và mất nhiều tháng để hoàn thiện, “đã bị cả Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hòa chỉ trích một cách thậm tệ.”

Các Thượng nghị sĩ Đảng Cộng Hòa sau đó đã viết lại toàn bộ mục này chỉ trong vài ngày và nhanh chóng thông qua nó.

“Không có tranh luận công khai, không có lời giải thích. Không có gì. Sau đó, họ quay trở lại Thượng viện với ý định thông qua điều khoản này mà không có bất kỳ thay đổi nào bất chấp bị chỉ trích thêm,” ông Lash nói.

“Đây không phải là cách tốt nhất để tạo ra một văn bản rõ ràng và hiệu quả.”

Ông Rob Natelson, một học giả Hiến Pháp và là một trong những chuyên gia hàng đầu về ý nghĩa gốc của văn kiện này, thậm chí còn kém hào phóng hơn trong đánh giá của mình.

Ông nói: “Những người bảo trợ cho tu chính án này thường không biết họ đang làm gì.”

Ông nói rằng toàn bộ Tu chính án thứ 14, trong khi có tầm quan trọng như vậy, nhưng văn phong pháp lý lại lỏng lẻo.

“Họ đã làm một việc dở tệ như thế, chúng ta đã tranh cãi về những điều khoản quan trọng nhất kể từ đó. Quốc hội nhiệm kỳ thứ 39 rõ ràng là kém xa trong vai trò là người soạn thảo so với Hội nghị Lập hiến.”

Ông chỉ ra rằng một số phần của luật này không thể thi hành được ngay từ đầu, chẳng hạn như “đại diện của một tiểu bang trong Hạ viện sẽ bị giảm đi nếu tiểu bang đó tước quyền bầu cử của một bộ phận nam giới.”

Ông nói: “Điều khoản đó là, và vẫn luôn là, một điều khoản không còn được thực thi nữa.

Điều khoản Bảo vệ Bình đẳng trong Mục 1 của Tu chính án này đã được sử dụng “để trao cho người Mỹ gốc Phi Châu các quyền bình đẳng với người da trắng, nhưng không có bất kỳ lý giải nào về những phân nhánh rộng hơn trong cách diễn đạt Điều khoản này,” ông cho biết.

“Khi một nhà bảo trợ được hỏi liệu điều khoản này có trao quyền bầu cử cho phụ nữ hay không, nhà bảo trợ quốc hội này đã nói ấp úng một cách không có sức thuyết phục. Ông ấy nghĩ là không, nhưng họ đã không sửa đổi Điều khoản này để làm rõ điều đó.”

Điều khoản này “đã trở thành một lời mời gọi các hoạt động tư pháp,” ông nói.

Ông cho rằng việc phân tích pháp lý về Tu chính án này hiếm khi có những lời phê bình như vậy.

“Tôi chưa bao giờ gặp một học giả luật nào viết về Tu chính án thứ 14 sẽ sẵn sàng nói rằng nó có vấn đề.”


Những cuộc nổi dậy trong tương lai

Cuộc tranh luận về Mục 3 tập trung trực tiếp vào Liên minh miền Nam. Tuy nhiên, ông Lash tìm thấy vài nhận xét cho thấy ít nhất một số nhà lập pháp vào thời điểm đó đã hiểu mục này cũng áp dụng cho các cuộc nổi dậy trong tương lai.

Thượng nghị sĩ John Henderson (Cộng Hòa-Missouri) nói: “Mục này được soạn ra để tước quyền nắm giữ chức vụ công quyền đối với những người lãnh đạo cuộc nổi dậy trong quá khứ cũng như những người lãnh đạo của bất kỳ cuộc nổi dậy nào từ đó trở đi.”

Dân biểu Schuyler Colfax (Cộng Hòa-Indiana), Chủ tịch Hạ viện vào thời điểm đó, cho rằng Tu chính án thứ 14 đã “được gắn vào những bức tường thành bất diệt của Hiến Pháp quốc gia chúng ta, mà những làn sóng ly khai phản đối tu chính án này có thể ập đến trong tương lai nhưng cũng vô ích mà thôi.”

Không có chỗ nào trong nội dung văn bản gốc của điều khoản này nói rằng nó chỉ giới hạn trong quá khứ. Và nhiều chuyên gia thừa nhận rằng, nội dung văn bản gốc là chỗ mà Tối cao Pháp viện bắt đầu công việc phân tích của mình.

Ngay cả khi Đảng Cộng Hòa có ý định rằng Mục 3 chỉ áp dụng cho Liên minh miền Nam, thì có lẽ họ sẽ không muốn diễn đạt ý định này theo cách đó vì điều đó sẽ bị công kích là một dự luật về tước quyền công dân — một luật tuyên bố một người hoặc một nhóm người phạm pháp.

Điều 1 Mục 9 của Hiến Pháp nghiêm cấm những dự luật như vậy.

Trong các trường hợp hiếm hoi được ghi chép mà trong đó Mục 3 được thi hành, từng có lập luận được đưa ra để phản đối dự luật về tước quyền công dân này, nhưng đã thất bại.​

Tự động có hiệu lực

Mục 3 được viết theo cách ám chỉ rằng luật này sẽ “tự động có hiệu lực,” có nghĩa là không cần Quốc hội thông qua dự luật riêng để thi hành, theo ông William Baude, giáo sư luật tại Đại học Chicago, và ông Michael Paulsen, giáo sư luật tại Đại học St. Thomas, cả hai ông đều là những chuyên gia xuất sắc về giải thích Hiến Pháp.

Mục 5 của Tu chính án thứ 14 nói rằng “Quốc hội có quyền thực thi” tu chính án này “bằng luật thích hợp.”

Nhưng điều đó không có nghĩa là Quốc hội phải làm như vậy để Tu chính án này có hiệu lực, hai vị giáo sư này nói trong một bài phân tích năm 2023, “The Sweep and Force of Section Three” (Sự Sâu rộng và Quyền lực của Mục Ba).

Ông Lash nói đó là một “lập luận hợp lý.”

Vì “tự động có hiệu lực” nên Mục 3 có thể được thực thi bởi “bất kỳ ai có thẩm quyền pháp lý (theo luật liên bang hoặc tiểu bang liên quan) để quyết định xem một người nào đó có đủ tư cách đảm nhận chức vụ hay không,” theo Bài phân tích pháp lý của hai ông William Baude and Michael Stokes Paulsen (sau đây gọi tắt là phân tích Baude-Paulsen).

“Do đó, Mục 3 hoạt động như một kiểu hệ thống miễn dịch của Hiến Pháp, điều động mọi quan chức chịu trách nhiệm về việc áp dụng Hiến Pháp để không cho phép những người về căn bản đã phản bội lệnh của Hiến Pháp được tiếp tục hoặc quay trở lại nắm quyền.”

Theo cách giải thích này, bất kỳ quan chức đơn độc nào được giao nhiệm vụ xác minh, chẳng hạn, liệu một ứng cử viên tổng thống có đạt tối thiểu là 35 tuổi hay không cũng có thể tự động phân xử liệu một ứng cử viên như vậy có tham gia nổi dậy hay không.

Đổng lý tiểu bang Maine quả thực đã làm như thế khi được đặt vào vị trí như vậy, và tuyên bố rằng cựu Tổng thống Trump nên bị loại khỏi cuộc bầu cử.

Nhưng ông Lash cảnh báo không nên giải thích như vậy.

Ông cho biết rằng ông Stevens đã hai lần công khai nói trong quá trình soạn thảo rằng điều khoản này sẽ đòi hỏi phải có luật để thực thi.

“Điều khoản này sẽ không tự động có hiệu lực,” ông Stevens nói về bản dự thảo của Hạ viện.

“Vào thời điểm đó, hoặc bất kỳ thời điểm nào trước khi điều khoản này được thông qua lần cuối, không có ai là không đồng tình với tuyên bố của ông Stevens rằng điều khoản này sẽ không tự động có hiệu lực, hoặc đề nghị soạn thảo lại điều khoản để có thể thi hành ngay cả khi không có dự luật của Quốc hội,” ông Lash cho biết.

Tuy nhiên, phân tích Baude-Paulsen lập luận rằng những điều mà những người soạn thảo này chủ định không quan trọng bằng những gì họ thực sự đã thông qua.

Chỉ vì một số hậu quả từ ngôn từ của Mục 3 “là nằm ngoài ý định của một số người đã bỏ phiếu cho nó” không có nghĩa là “những gì họ đã bỏ phiếu thông qua không gây ra những hậu quả này,” hai tác giả này cho biết.

Hiến Pháp được giải thích đúng đắn dựa trên ý nghĩa văn bản gốc của Hiến Pháp tại thời điểm phê chuẩn, chứ không phải là những gì mà các nhà lập pháp đã nghĩ đến khi thông qua Hiến Pháp, họ giải thích, và gọi đó là “một sai lầm kinh điển: hoán đổi mục đích ban đầu thành ý nghĩa ban đầu.”

Tuy nhiên, ông Lash chỉ ra rằng cách mà những người soạn thảo trình bày một văn bản cũng ảnh hưởng đến cách những người phê chuẩn hiểu văn bản đó.

Ông nói: “Đây là lý do tại sao hầu hết các cuộc tranh luận tại Quốc hội đều có liên quan—chúng được đăng trên báo hàng ngày.”

“Hiến Pháp xuất phát từ người dân,” ông Kopel nói. “Chính cách hiểu ban đầu của người dân mới là chủ đạo.”

Một số học giả cho rằng Mục 3 chắc chắn là tự động có hiệu lực vì các phần khác của Tu chính án thứ 14, đặc biệt là Mục 1, đều là tự động có hiệu lực.

Ông Lash cho rằng không nhất thiết là như vậy.

“Đây đều là những bản sửa đổi khác nhau từ ban đầu và được tập hợp lại vào phút chót. Vì vậy, tôi nghĩ rất có thể chúng ta sẽ có một mục là tự động có hiệu lực và một mục thì không,” ông nói.

Chức năng của mỗi mục cũng có thể đóng một vai trò riêng.

Ông Lash cho biết, “Những mục khác nhau này của Tu chính án thứ 14 đều có chức năng riêng. Mục 1 cấp các quyền và việc mục này tự động có hiệu lực là điều dễ hiểu. Nhưng Mục 3 tước bỏ các quyền và việc tước bỏ các quyền là điều làm nảy sinh ra những vấn đề cần xem xét về thủ tục pháp lý chính đáng và quy trình tố tụng công bằng.”

“Trên thực tế, tầm quan trọng của nguyên tắc cụ thể đó cũng đã được giới thiệu trong Mục 1. Và do đó, để nhất quán với yêu cầu về thủ tục pháp lý chính đáng của Mục 1, chúng ta cần bảo đảm rằng Mục 3 không tước bỏ bất kỳ quyền nào nếu không có thủ tục pháp lý chính đáng.”

Thủ tục pháp lý chính đáng

Phân tích Baude-Paulsen lưu ý rằng, điều khoản về Thủ tục Pháp lý Chính đáng bảo vệ “quyền được sống, quyền tự do, hoặc quyền sở hữu.”

“Điều không mấy rõ ràng là liệu quyền giữ chức vụ công quyền có phải là một hình thức của quyền được sống, quyền tự do, hoặc quyền sở hữu hay không,” bản phân tích viết.

“Đó là một đặc quyền của công chúng, một niềm tin của công chúng, thuộc về quyền lực của người dân.”

Nhưng ông Natelson nhận xét rằng, dựa trên tiền lệ của Tối cao Pháp viện, “việc tước bỏ tư cách nắm giữ chức vụ chính trị là một hình phạt gần như mang tính chất hình sự, cũng nghiêm trọng như việc tước bỏ tư cách do bị đàn hặc” và do đó cần đến thủ tục pháp lý chính đáng. Tuy nhiên, ông thừa nhận rằng “có lẽ việc kết án không cần đến bằng chứng không thể chối cãi” như trong một phiên tòa hình sự.

Theo phân tích Baude-Paulsen, ngay cả khi một số biện pháp về thủ tục pháp lý chính đáng được áp dụng, thì “miễn là Mục 3 được áp dụng thông qua các thủ tục thường lệ và đã được thiết lập để xác định tư cách nắm giữ chức vụ công quyền, thì nhiều phản đối về thủ tục pháp lý chính đáng dường như sẽ biến mất.”

“Bất kỳ ai muốn lập luận rằng hành vi của người đó không nằm trong tầm kiểm soát thực chất của Mục 3 đều có quyền khởi kiện vấn đề đó thông qua tất cả các cách thức liên quan. Do đó, Mục 3 không mâu thuẫn với bất kỳ yêu cầu nào về thông báo công bằng hay một cơ hội được lắng nghe,” các tác giả cho biết.

Ông Natelson kỳ vọng Tối cao Pháp viện sẽ đi sâu vào vấn đề thủ tục pháp lý chính đáng này.

Ông Kopel cho rằng cần áp dụng thủ tục pháp lý chính đáng đến mức độ nào là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.

Ông gợi ý rằng, với đòi hỏi khắt khe nhất thì trước tiên người đó phải bị kết án về tội nổi loạn liên bang.

“Điều đó chắc chắn là đủ thuyết phục,” ông nói.

Trái lại sẽ là một quyết định đơn phương, chẳng hạn như ở Maine, hoặc thậm chí là thủ tục tố tụng nhanh chóng được sử dụng ở Colorado — “một phiên xét xử khá dài được chèn vào một vụ thách thức về một cuộc bỏ phiếu bầu cử mà người ta nghĩ rằng sẽ được thực hiện trong khoảng 72 giờ,” ông Kopel nói.

“Đó có phải là thủ tục pháp lý chính đáng không?”

Áp dụng cho tổng thống

Ông Lash đã trình bày lập luận có lẽ là chi tiết nhất tại sao Mục 3 có thể không áp dụng cho tổng thống hoặc phó tổng thống.

Ông chỉ ra rằng một trong những dự thảo xa xưa nhất về một điều khoản tước bỏ tư cách [nắm giữ chức vụ công quyền], một sửa đổi do Dân biểu Samuel McKee (Đảng Liên bang Vô điều kiện-Kentucky) đề xướng, đặc biệt đề cập đến “chức vụ Tổng thống hoặc phó tổng thống.” Nhưng bản dự thảo cuối cùng đã bỏ qua nhóm từ đó, mà chỉ đề cập đến “bất kỳ chức vụ nào, dân sự hay quân sự, dưới Hoa Kỳ.”

Lúc đó ông lập luận rằng về mặt pháp lý tổng thống không được xem là một “viên chức dân sự của Hoa Kỳ.”

Ông đưa ra ví dụ về vụ đàn hặc Thượng nghị sĩ William Blount vào năm 1799. Khi đó, luật sư của ông Blount lập luận rằng “rõ ràng một Thượng nghị sĩ không phải là viên chức dưới quyền Chính phủ.”

“Chính phủ bao gồm Tổng thống, Thượng viện, và Hạ viện, vậy nên người ta không thể nói những người hình thành nên Chính phủ nằm dưới chính phủ đó,” ông nói.

Trong cuốn sách “Commentaries on the Constitution” (Bình luận về Hiến Pháp) năm 1833 nổi tiếng của mình, Thẩm phán Tối cao Pháp viện Joseph Story nói rằng dựa trên án lệ Blount, “việc liệt kê tổng thống và phó tổng thống, với tư cách là những viên chức có thể bị đàn hặc, là điều bắt buộc; vì họ có được, hoặc có thể có được, chức vụ của mình từ một nguồn có thứ bậc cao hơn so với chính phủ quốc gia.”

“Việc xem họ là những viên chức của Hoa Kỳ thậm chí không có hiệu lực,” một bài xã luận năm 1868 dẫn lời của vị thẩm phán này.

Theo ông Lash, phân tích của Thẩm phán Story không hẳn là đúng, nhưng được xem là có căn cứ vào thời điểm đó.

Bài phân tích của ông cho rằng, “Vào thời điểm soạn thảo và phê chuẩn Tu chính án thứ 14, án lệ Blount và phân tích của thẩm phán Story đã được cả trong và ngoài Quốc hội chấp nhận và biết đến rộng rãi.

Khối đa số của Tòa án Tối cao Colorado đã giải quyết vấn đề này bằng cách tuyên bố rằng tổng thống không nằm dưới chính phủ, mà ông ấy nằm dưới Hoa Kỳ, vốn đại diện cho quyền lực thậm chí còn cao hơn — đó là người dân.

Nhưng ông Lash nêu ra rằng tại thời điểm soạn ra nhóm từ “dưới Hoa Kỳ” về mặt pháp lý đã được hiểu là tương đương với “dưới chính phủ Hoa Kỳ.”

Biên bản cuộc tranh luận tại Thượng viện về Mục 3 ghi lại một thời điểm, khi đó Thượng nghị sĩ Reverdy Johnson (Dân Chủ-Maryland), cố Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ, đã đặt câu hỏi tại sao điều khoản này không áp dụng cho tổng thống và phó tổng thống.

Thượng nghị sĩ Lot Morrill (Cộng Hòa-Maine) lúc đó đã trả lời: “Hãy để tôi lưu ý Thượng nghị sĩ về nhóm từ ‘hoặc nắm giữ bất kỳ chức vụ nào, dân sự hay quân sự, dưới Hoa Kỳ.’”

Thượng nghị sĩ Johnson trả lời: “Có lẽ tôi đã hiểu sai về việc loại trừ khỏi chức vụ Tổng thống; chắc chắn là tôi đã hiểu sai; nhưng tôi bị dẫn hướng sai khi thấy việc loại trừ [được ghi] cụ thể trong trường hợp Thượng nghị sĩ và Dân biểu.”

Phân tích Baude-Paulsen tận dụng cuộc trao đổi này, và cho rằng “có vẻ vô lý” khi không áp dụng Mục 3 cho tổng thống.

Tuy nhiên, ở đây, các tác giả dường như viện đến lập luận mà trước đó họ đã bác bỏ. Ông Lash lưu ý rằng, dựa trên lý luận của họ, thì nên dựa vào ý nghĩa của văn bản để dẫn dắt cách lý giải, chứ không phải dựa vào suy nghĩ của người soạn thảo về ý nghĩa của văn bản đó.

“Họ không thể hiểu theo cả hai cách. Hoặc là văn bản đóng vai trò quyết định hoặc là không.”

The Epoch Times đã liên lạc với Giáo sư Baude và Giáo sư Paulsen để đề nghị bình luận nhưng không nhận được phúc đáp.

Theo quan điểm của ông, chủ ý của những người soạn thảo được tính đến khi nó ảnh hưởng đến cách hiểu của những người phê chuẩn. Nhưng đó không phải là tình huống trong cuộc trao đổi giữa ông Johnson và ông Morill.

“Không có bất kỳ tờ báo nào nói về tình huống đó,” ông Lash nói.

Ông nói, thay vì “vô lý,” điều đó có thể được hiểu rằng những người soạn thảo không cân nhắc nhiều về việc bao gồm cả tổng thống.

Vào thời điểm đó, không một thành viên Đảng Dân Chủ miền Bắc nào mong muốn đề cử một người từng nổi loạn, và chuyện cả nước bầu cho một ứng cử viên [tổng thống] như vậy lại càng phi lý hơn.

Các học giả vẫn chưa xác định được một người phê chuẩn nào mà cho rằng Mục 3 là áp dụng cho những người đang tranh cử chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ,” bài phân tích của ông viết.

“Cho dù có tồn tại một người như vậy hay không, thì rõ ràng là đại đa số những người phê chuẩn [tu chính án] đã thảo luận về Mục 3 của Tu chính án thứ 14 rất ít (hoặc không hề) quan tâm đến vấn đề này. Nếu người soạn thảo lẫn người phê chuẩn đều cho rằng trường hợp đó có thể không quan trọng đến mức phải đưa vào Tu chính án thứ 14, thì người ta dự đoán rằng [biên bản tranh luận nói trên là] bằng chứng hoặc không có bằng chứng nào cả.

Nếu Mục 3 áp dụng cho tổng thống, thì Đảng Cộng Hòa đã có một cơ hội để áp dụng điều này vào năm 1872 khi ông Horace Greeley tranh cử thách thức đề cử viên của đảng này, đương kim Tổng thống Ulysses Grant.

Ông Lash nói rằng, “Mặc dù nhiều lần họ tuyên bố rằng ông Greeley đã ‘trợ giúp hoặc úy lạo kẻ thù’ của Hoa Kỳ, tức là những người đã tham gia vào cuộc nổi dậy và nổi loạn chống lại Hoa Kỳ, nhưng dường như đã không có ai tuyên bố ông có thể bị tước tư cách [tranh cử] theo Mục 3.”

Mặt khác, ông cho rằng đưa tổng thống vào Mục 3 sẽ là một “sự thay đổi” cực cấp tiến và không cần thiết “trong tiến trình dân chủ.”

“Quý vị không chỉ tước quyền bầu cử của những người không trung thành ở miền Nam, mà còn đang tước quyền bầu cử của những người trung thành với Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ, rồi nói rằng họ không thể bỏ phiếu cho một người bị buộc tội trừ phi Quốc hội cho phép.”

Đúng là Hiến Pháp có áp đặt một số tiêu chuẩn đối với các ứng cử viên tổng thống, chẳng hạn như độ tuổi và quốc gia nơi người đó sinh ra.

Nhưng “đó là điều hoàn toàn khác,” ông cho biết.

“Những hạn chế đó đối với tiến trình dân chủ đã được công bố rõ ràng trong Hiến Pháp và đã được người dân xem xét và tranh luận một cách thẳng thắn trong các Hội đồng Phê chuẩn tại thời điểm bản Hiến Pháp đầu tiên được ban hành.”

“Quý vị đang nói về việc thêm vào một hạn chế mới như một ẩn ý và cứ vậy tiến hành mặc dù biết rằng hạn chế đó không được những người phê chuẩn xem xét hay thảo luận ở cấp quốc gia. Đó là một đề xướng bất thường và là một đề xướng mà tôi nghĩ rằng không thể được bằng chứng trong lịch sử chứng minh.”

Phạm vi rộng

Khi bắt đầu áp dụng Mục 3, Quốc hội đã áp dụng trong chính nội bộ của mình. Nếu một thành viên sắp nhậm chức mà bị tước tư cách nắm giữ chức vụ, thì các nhà lập pháp sẽ nghe bằng chứng, cho phép bị cáo trình bày để tự bào chữa, và sau đó bỏ phiếu xem liệu việc loại bỏ tư cách có hợp lệ hay không.

Năm 1870, Quốc hội đã thông qua một đạo luật để thực thi Tu chính án thứ 14, trong đó có Mục 3. Đạo luật này nói rằng các công tố viên liên bang tại địa phương “có nghĩa vụ” phải phản đối các quan chức tòa án dân sự mà họ cho là không đủ tư cách và đưa ra các cáo buộc hình sự nhẹ đối với những ai cố tình giữ chức mặc dù không đủ tư cách.

Đạo luật này đã miễn trừ các thành viên Quốc hội và các nhà lập pháp tiểu bang khỏi phạm vi thực thi mục này—vào thời điểm đó, Quốc hội đã có thông lệ là thực thi Mục 3 bằng cách bỏ phiếu.

Đạo luật này và việc thực thi đạo luật này có thể đưa ra những gợi ý về việc Mục 3 đã được hiểu như thế nào.

“Điều đó cho thấy rằng việc tước tư cách chỉ được phép diễn ra sau khi tiến hành thủ tục pháp lý chính đáng — được tuân thủ trong trường hợp có một thủ tục chứng minh thẩm quyền hiện có (quo warranto),” ông Natelson nói.

“Điều đó chắc chắn cho thấy rằng Đổng lý tiểu bang Maine đã đi quá giới hạn khi bà ấy hành động một cách đơn phương.”

Phân tích Baude-Paulsen kết luận rằng, dựa trên các trường hợp mà một viên chức đã thật sự bị tước tư cách theo Mục 3, có vẻ như trở ngại đối với việc tước tư cách là thấp.

“Việc tước tư cách [nắm giữ chức vụ công quyền] theo Mục 3 vì đã ‘tham gia’ vào cuộc nổi dậy bao gồm một loạt các hành động tham gia tự nguyện ủng hộ hoặc trợ giúp cho cuộc nổi dậy, một số hành động gần với sự ưng thuận một cách gần như thụ động,” các tác giả cho biết.

Trong một trường hợp, một thành viên Quốc hội miền Nam đã bị loại bỏ vì ông ấy đã viết một lá thư gay gắt nói rằng tất cả những ai đang tìm cách gia nhập quân đội Liên bang đều phải bị xử bắn.

Trong một trường hợp khác, một cảnh sát trưởng được bổ nhiệm đã bị buộc tội vì ông ấy đã “đưa người thay thế mình vào quân đội Liên minh miền Nam.” Ông ấy bào chữa rằng ông chỉ đang cố gắng trốn tránh chế độ quân dịch của Liên minh miền Nam. Nhưng thẩm phán đã chỉ thị cho bồi thẩm đoàn xem xét kỹ lưỡng động cơ trốn tránh đi lính của người này.

“Hành vi của bị cáo hẳn là được thúc đẩy bởi nỗi sợ hãi có căn cứ về tổn hại thân thể nghiêm trọng và hậu quả của vũ lực, khiến bị cáo không thể trốn thoát hay chống cự,” ông nói.

“Và hơn nữa, hành động của bị cáo hẳn là xuất phát từ mong muốn của bị cáo là đồng tình với phong trào nổi dậy, chứ không phải chỉ vì sự ác cảm của bị cáo đối với việc phải đi lính.”

Các tác giả cho rằng cách giải thích với phạm vi rộng này có thể được áp dụng cho bất kỳ cuộc nổi dậy hoặc nổi loạn nào khác.

Ông Kopel đồng tình.

“Về vấn đề quyền quyết định thực thi, việc ủng hộ một cuộc nổi dậy nhỏ gây ra ít thiệt hại có thể được bỏ qua vì những mục đích thực thi. Cũng như nhiều hành vi sai trái có ít tác động khác đôi khi cũng được bỏ qua. Nhưng [Tu chính án thứ 14] chắc chắn không quy định rằng những hành vi này được phép bỏ qua,” ông nói.

Một số chuyên gia thì không chắc chắn lắm.

“Mục tiêu [của những người soạn thảo] là nhắm chính xác vào Liên minh miền Nam. Mục tiêu của họ không phải là bất cứ ai ủng hộ người Pháp trong Chiến tranh Pháp-Ấn. Mục tiêu của họ không phải là bất cứ ai ủng hộ người Anh trong Chiến tranh Anh-Mỹ. Mặc dù văn bản này không được viết theo cách nhằm hạn chế những điều đó, nhưng lý do căn bản là nhắm vào Liên minh miền Nam,” ông Horace Cooper, thành viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Công cộng Quốc gia, trước đây từng dạy luật Hiến Pháp tại Đại học George Mason, cho biết.

“Quý vị càng đi xa khỏi một cách hiểu liên quan đến những người thực sự đã tham gia vào cuộc nổi loạn quân sự chống lại chính phủ, thì quý vị càng phải cẩn thận hơn về khả năng đọc hiểu của mình.”

Ông Natelson nhắc nhở rằng việc thực thi một điều khoản Hiến Pháp không phải lúc nào cũng hợp hiến.

“Những hành động như vậy hầu như không có ý nghĩa gì đối với một người theo chủ nghĩa nguyên bản (originalist),” ông nói.

Ông cũng lưu ý rằng “các hành động được thực hiện trong hoặc ngay sau chiến tranh thường là những chỉ dẫn tồi tệ nhất cho việc tuân thủ Hiến Pháp.”

Cuộc nổi dậy là gì?

Điều thiếu sót trong bản thảo Mục 3 và các hành động thực thi ban đầu là đã không đưa ra các cách giải thích về những gì tạo thành một cuộc nổi dậy, nổi loạn, và ai là kẻ thù của Hoa Kỳ. Điều luật này chỉ được áp dụng cho Liên minh miền Nam, tổ chức mà chắc chắn những thuật ngữ này áp dụng.

Hơn nữa, việc thực thi điều khoản đó đã sớm phải dừng lại khi, vào tháng 05/1872, Quốc hội ban hành một lệnh ân xá, loại bỏ hình phạt tước tư cách nắm giữ chức vụ công quyền đối với gần như tất cả những người phục vụ trong Liên minh miền Nam, “ngoại trừ các Thượng nghị sĩ và Dân biểu của Quốc hội nhiệm kỳ thứ 36 và 37, các viên chức trong ngành tư pháp, quân đội, và hải quân Hoa Kỳ, các bộ trưởng và bộ trưởng ngoại giao của Hoa Kỳ.”

Kể từ đó, Mục 3 hầu như không còn được thực thi nữa, ngoại trừ một trường hợp vào năm 1919.

Ông Victor Berger, chủ báo và là đồng sáng lập viên của Đảng Xã hội Chủ nghĩa Mỹ, đã giành được một nhiệm kỳ tại Quốc hội vào năm 1910 và sau đó bị truy tố vào năm 1918 theo Đạo luật Gián điệp vì phản đối Hoa Kỳ can thiệp vào Đệ nhất Thế chiến.

Cuối năm đó, ông thắng cử trong cuộc đua vào Quốc hội, nhưng ông đã bị kết án 20 năm tù trước thời điểm nhiệm kỳ của ông bắt đầu. Được tại ngoại hầu tra, ông đã tìm cách đảm nhận chức vụ này, nhưng Quốc hội đã sử dụng Mục 3 để ngăn chặn ông. Năm 1921, Tối cao Pháp viện đã hủy bỏ bản án của ông Berger dựa trên bản khai hữu thệ của ông rằng thẩm phán sơ thẩm có thành kiến đối với ông, mặc dù hồ sơ cho thấy bản khai đó sai sự thật.

Phân tích Baude-Paulsen kết luận rằng Mục 3 không áp dụng cho ông Berger và Quốc hội đã phản ứng thái quá.

Hai tác giả này đã xem xét thuật ngữ “nổi dậy” và “nổi loạn” được sử dụng như thế nào trong Hiến Pháp và các văn bản pháp luật thời bấy giờ. Trường hợp duy nhất mà một tòa án ít nhất đã xác định một cách ngắn gọn các thuật ngữ này là từ Án lệ Giải thưởng (The Prize Cases) năm 1863, khi Tối cao Pháp viện thừa nhận việc Tổng thống Lincoln phong tỏa các cảng phía Nam ngay từ đầu cuộc chiến [là hợp hiến].

Pháp viện cho rằng, “Cuộc nổi dậy chống lại một chính phủ có thể hoặc không thể lên đến đỉnh điểm là một cuộc nổi loạn có tổ chức, nhưng một cuộc nội chiến luôn bắt đầu bằng cuộc nổi dậy chống lại cơ quan hợp pháp của Chính phủ.”

Bản ý kiến ​​đã đưa ra một ví dụ về một cuộc nổi dậy: Cuộc nổi loạn Rượu whisky năm 1794 ở Pennsylvania. Khi đó, một số người dân địa phương có vũ trang, phản đối thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu mạnh, đã khủng bố những người thu thuế và cuối cùng tham gia vào một cuộc đấu súng với một nhóm binh sĩ bảo vệ căn nhà của một người thu thuế.

Sau đó, một nhóm nhỏ người dân địa phương đã tìm cách triệu tập một đội dân quân gồm vài ngàn người làm ra vẻ đang khám phá những bí mật nào đó. Họ dự định sử dụng lực lượng dân quân này để hành quân đến Pittsburg, tấn công pháo đài Fayette, và thậm chí có thể tuyên bố độc lập khỏi Hoa Kỳ.

Những người khác đã cố gắng can ngăn những chỉ huy này thực hiện kế hoạch. Sau khi hành quân qua thị trấn, nhóm dân quân đã giải tán.

“Tóm lại: cuộc nổi dậy hay cuộc nổi loạn là những hình thức phản kháng thực sự chống lại quyền lực hợp pháp của chính phủ. Một cuộc nổi dậy có thể không phải là một cuộc nổi loạn toàn diện. Nhưng một cuộc nổi dậy chống chính phủ đôi khi phát triển thành ‘cuộc nổi loạn’ chính thức,” phân tích Baude-Paulsen viết.

Sự kiện ngày 06/01

Tòa án Tối cao Colorado đã dựa rất nhiều vào phân tích Baude-Paulsen để đưa ra kết luận rằng cựu TT Trump đã tham gia vào một cuộc nổi dậy và do đó bị tước tư cách tranh cử.

Tham khảo các từ điển có từ thế kỷ 19, các thẩm phán đã đưa ra định nghĩa [về cuộc nổi dậy] như sau: “Việc một nhóm người sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực một cách có phối hợp và công khai nhằm cản trở hoặc ngăn cản chính phủ Hoa Kỳ thực hiện các hành động cần thiết để hoàn thành việc chuyển giao quyền lực một cách hòa bình ở đất nước này.”

Họ cũng dựa vào một định nghĩa do một tòa án cấp thấp hơn ở Colorado áp dụng cho vụ kiện này: “Việc một nhóm người sử dụng vũ lực … hoặc đe dọa sử dụng vũ lực … một cách công khai để cản trở hoặc ngăn chặn việc thi hành Hiến Pháp Hoa Kỳ.”

Họ kết luận rằng nhóm người bước vào Tòa nhà Quốc hội khá đông, “được trang bị nhiều loại vũ khí”, và “hô vang theo cách thể hiện rõ rằng họ đang tìm cách gây ra bạo lực đối với các nghị sĩ Quốc hội và Phó Tổng thống [Mike] Pence.”

Những thẩm phán này lập luận: “Mức sử dụng vũ lực hoặc lời đe dọa sử dụng vũ lực cần phải có không nhất thiết phải liên quan đến đổ máu, cũng như quy mô của nỗ lực không cần phải lớn đến mức bảo đảm có thể thành công.”

“Ngay sau khi xâm phạm Tòa nhà Quốc hội, đám đông đã tiến đến các phòng của Hạ viện và Thượng viện, nơi đang diễn ra quá trình chứng nhận [kết quả bầu cử]. Vụ xâm phạm này khiến cả Hạ viện và Thượng viện phải hoãn lại, tạm dừng quá trình chứng nhận bầu cử.”

Các thẩm phán kết luận rằng vì có một nhóm người đe dọa vũ lực và vì hành động của họ nên việc chứng nhận đã bị cản trở và vì cựu TT Trump đã kích động những người ủng hộ ông bằng những lời lẽ như “chúng ta chiến đấu hết mình,” nên ông đã tham gia vào cuộc nổi dậy.

Ông Natelson cho biết, vấn đề chính của kết luận này là tòa án đã dựa vào “một phiên bản hết sức chọn lọc về những gì diễn ra vào ngày 06/01” lấy từ báo cáo của Ủy ban ngày 06/01 của Quốc hội.

Thông thường, những báo cáo như vậy được xem là lời nói gián tiếp, không thể được chấp nhận làm bằng chứng. Nhưng tòa án đã dựa vào một ngoại lệ đối với các báo cáo của chính phủ.

Những người ủng hộ Tổng thống đương thời Donald Trump tập trung bên ngoài khu vực Vòm Rotunda của Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn, vào ngày 06/01/2021. (Ảnh: Olivier Douliery/AFP qua Getty Images)
Những người ủng hộ Tổng thống đương thời Donald Trump tập trung bên ngoài khu vực Vòm Rotunda của Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn, vào ngày 06/01/2021. (Ảnh: Olivier Douliery/AFP qua Getty Images)

Ông Natelson nói, ngay cả trong trường hợp đó, thì tòa án vẫn có nghĩa vụ kiểm tra độ tin cậy của những báo cáo như vậy.

Tòa án đã làm như vậy và kết luận rằng báo cáo không thiên vị vì Đảng Cộng Hòa đã có cơ hội đưa các thành viên của mình vào ủy ban.

Tuy nhiên, họ không đề cập đến việc các dân biểu Đảng Dân Chủ đã từ chối cho phép những người ủng hộ cựu TT Trump thuộc Đảng Cộng Hòa tham gia vào ủy ban, mà thay vào đó cho phép một số nhà phê bình ông gay gắt nhất bên Đảng Cộng Hòa vào ủy ban này.

Ông Natelson nói, mặc dù các báo cáo của chính phủ khó có thể thoát khỏi những ảnh hưởng chính trị, nhưng ít ra các báo cáo cũng phải hợp lý ở mức nào đó.

Ông nói: “Những cuộc điều tra chính thức này không phải là phòng xử án, nhưng nói chung, cách làm tốt là quý vị giăng lưới rộng rãi, thu thập càng nhiều bằng chứng càng tốt, cho phép mọi người phản bác, v.v.”

“Không điều nào trong số đó được Ủy ban ngày 06/01 thực hiện. Tất cả các dân biểu của Ủy ban ngày 06/01 đều đã bỏ phiếu kết tội Tổng thống Trump khi ông ấy bị đàn hặc. Những thành viên Đảng Cộng Hòa ủng hộ cựu Tổng thống Trump đã bị loại khỏi ủy ban này. Người ủng hộ ông Trump không có quyền đối chất, không có quyền đưa ra bằng chứng. Đó là một phiên tòa dàn dựng được viết kịch bản cẩn thận.”

Một cái nhìn đầy đủ hơn về sự việc ngày 06/01 cho thấy chỉ một bộ phận nhỏ những người ở Tòa nhà Quốc hội đã tham gia vào bất kỳ hành vi bạo lực, phá hoại, hoặc đe dọa nào. Ngay cả khi một nhóm nhỏ hơn có mang theo vũ khí thì những vũ khí đó cũng không phải là súng, mà chủ yếu là gậy.

“Ấn tượng của tôi là điều mà nhiều kẻ nổi loạn ngày 06/01 muốn làm là họ chỉ muốn có một cơ hội nói chuyện với các nghị sĩ Quốc hội của họ và cố gắng thuyết phục những nghị sĩ này hoãn phiên điều trần,” ông Natelson nói.

Một số người đã hô lên những khẩu hiệu kích động, chẳng hạn như “treo cổ ông Mike Pence,” nhưng những khẩu hiệu đó là rất hiếm.

Ông nói, sẽ là rất thái quá khi nói rằng “cựu Tổng thống Trump đã phạm tội vì lý do đó.”

Ăn miếng trả miếng

Ông Kopel dự đoán nếu Mục 3 được sử dụng thành công đối với cựu Tổng thống Trump thì các quan chức Đảng Cộng Hòa cũng sẽ bắt đầu viện dẫn Mục 3.

Ông nói: “Hãy liệu trước rằng một số Đổng lý Tiểu bang sẽ loại bỏ [Phó Tổng thống] Kamala Harris, cũng như những người nào đã trợ giúp, úy lạo, và khuyến khích những kẻ nổi loạn vào mùa hè năm 2020, khỏi các lá phiếu.”

Ông Natelson cũng xác nhận quan điểm tương tự.

Ông viết trong một bài xã luận gần đây trên Epoch Times: “Nếu chúng ta áp dụng tiêu chuẩn mà một số người sử dụng để loại bỏ cựu Tổng thống Trump, thì nhiều chính trị gia cánh tả cũng sẽ bị loại.”

Đảng Cộng Hòa ở ít nhất sáu tiểu bang, bao gồm Texas, Missouri, Florida, Pennsylvania, Arizona, và Georgia đã nêu lên ý tưởng loại Tổng thống Biden khỏi lá phiếu vì cách ông ấy quản lý biên giới phía Nam.

Thay vì tham gia vào cuộc nổi dậy, câu hỏi đặt ra là liệu Tổng thống có “trợ giúp hay úy lạo” kẻ thù của Hoa Kỳ hay không.

Trong một tình huống trớ trêu, chính một thành viên Đảng Dân Chủ phản đối Mục 3 đã cảnh báo rằng Mục 3 sẽ dẫn đến những lời buộc tội qua lại về chính trị.

Trong các cuộc Tranh biện Phê chuẩn Pennsylvania bắt đầu vào năm 1787, Dân biểu tiểu bang Thomas Chalfant đã nhận xét:

“Hãy xem kỹ mục này và cho tôi biết liệu quý vị có thể tìm thấy bất kỳ nội dung nào quy định rằng một cá nhân không đủ tư cách đảm nhận chức vụ cho đến khi người đó bị tòa án có thẩm quyền xét xử và kết án về tội phản quốc hoặc tội danh được đề cập trong đạo luật đang nói đến hay không? Không có nội dung nào như vậy trong đó. Vậy thì người bị buộc tội phải bị xét xử như thế nào? Người đó có thể bị yêu cầu phải ra trước tòa án nào để bị buộc tội phản quốc hoặc không trung thành? Người đó được trao cơ hội nào để tự bào chữa cho mình?”

Ông Chalfant cho rằng Đảng Cộng Hòa sẽ hối hận vì họ đã ban hành điều khoản này.

“Sau này chính những người đó, khi đã hiểu rõ ý đồ của quý vị, có thể đẩy quý vị ra khỏi vị trí cao quý của mình, và khiến quý vị phải cầu xin trước những người mà quý vị đã đối xử sai trái và nhũng nhiễu.”




Epoch Times Tiếng Việt biên dịch