Showing posts with label Dems. Show all posts
Showing posts with label Dems. Show all posts

 2026-05-27  

Vì sao đảng Cộng hòa vẫn tập trung hơn đảng Dân chủ?

(Daniel McCarthy, The Spectator, 27/5/2026)

republicans


Các chuyên gia và nhà bình luận chính trị ở Washington DC chưa bao giờ thực sự hiểu rõ về đảng Cộng hòa. Họ ghét các yếu tố bảo thủ và dân túy của đảng này, và họ chỉ biết đánh giá triển vọng của những yếu tố đó bằng các tiêu chí không liên quan, giống như một câu lạc bộ cờ vua đánh giá một đội bóng rổ – chỉ khác là phe cánh hữu chính trị lại lý trí hơn phe trung dung.

Dù quan điểm thông thường có sai lầm đến mấy đi nữa cũng không thành vấn đề. Phe cánh hữu Cộng hòa đáng lẽ phải bị sỉ nhục, tan vỡ và đánh bại hoàn toàn sau thất bại thảm hại của Barry Goldwater trước Lyndon Johnson năm 1964. Và rồi một lần nữa sau khi Richard Nixon từ chức trong ô nhục một thập kỷ sau đó. Tất nhiên, Donald Trump hoàn toàn không được bầu chọn vào năm 2016. Và sau cách ông ta rời nhiệm sở năm 2021, không còn cơ hội nào để ông ta quay lại nữa.

Câu chuyện mà giới chính trị Washington hiện tại đang tự kể cho mình là MAGA đã kết thúc. Trump là một tổng thống sắp mãn nhiệm (vịt què) và đảng Cộng hòa tại Quốc hội đang hướng tới thất bại thảm hại vào tháng 11. Liên minh của Trump đã tan vỡ vì cuộc chiến với Iran. JD Vance rõ ràng sẽ thua cuộc vào năm 2028 – có lẽ ông ta thậm chí sẽ không giành được đề cử của đảng Cộng hòa. Nếu đảng này có chút đầu óc nào, họ nên ủng hộ Marco Rubio ngay bây giờ. Ông ta vẫn sẽ không có cơ hội trong cuộc tổng tuyển cử, nhưng ít nhất đảng Cộng hòa sẽ thua một cách thông minh.

Ai cũng nói vậy – nếu tờ New York Times nói thế và George Will cũng nói thế, thì còn gì để nói nữa? Kết luận là nhất trí.

Thực tế là, đúng vậy, Barry Goldwater đã thua cuộc năm 1964, và đúng vậy, Nixon đã từ chức. Nhưng cả hai sự kiện đó chỉ làm trì hoãn bước tiến của phe cánh hữu Cộng hòa. Kết quả bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2022 đáng thất vọng với tỷ lệ ủng hộ đảng Cộng hòa thấp cũng không báo trước sự trỗi dậy của Ron DeSantis so với Trump trong đảng Cộng hòa hay thất bại của đảng này trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua.

Nếu điều tồi tệ nhất xảy ra với đảng của Trump trong năm nay, câu chuyện cũng sẽ không khác đi, cũng như việc những người theo chủ nghĩa trung dung không nhận ra điều đó sẽ không thay đổi. Đó là bởi vì sự thay đổi đối với họ là điều không thể tưởng tượng nổi – xét cho cùng, lịch sử đã kết thúc, và tất cả chúng ta đều biết rằng chủ nghĩa tự do thị trường và chủ nghĩa tự do văn hóa không chỉ là những câu trả lời đúng đắn, mà còn là những câu trả lời duy nhất. Trump là một sự thoái hóa, một sự lệch lạc, một kẻ mà nhiệm kỳ cố định của ông sắp kết thúc. Và cùng với nhiệm kỳ tổng thống của ông ta, phong trào của ông ta cũng kết thúc, một phong trào mà từ trước đến nay chỉ là phong trào của riêng ông ta, chứ không phải một phong trào chính trị thực sự – không phải một lực lượng lịch sử mới.

Tuy nhiên, ngay cả khi những lời cáo phó dành cho phe cánh hữu lại liên tục xuất hiện, những người theo chủ nghĩa tự do viết ra chúng dường như vẫn không hoàn toàn thoát khỏi nỗi sợ hãi. Nhìn sang bên kia đại dương, họ kinh ngạc trước những gì họ thấy ở Anh, nơi dường như những kẻ ủng hộ đảng Cải cách vẫn chưa hiểu rằng chủ nghĩa dân túy cũng đã chết ở châu Âu, như sự sụp đổ của Viktor Orbán ở Hungary đã chứng minh. (Việc Nigel Farage chẳng có mấy điểm chung với Orbán là không quan trọng – cả hai đều “phi tự do”, giống như Trump.) Cử tri châu Âu dường như vẫn chưa hiểu rằng di cư ồ ạt là có lợi cho họ. Hàng triệu người Mỹ không hiểu rằng cuộc chiến của Trump chống lại Iran đồng nghĩa với việc ICE nên bị cắt giảm ngân sách.

Sự ngoan cố của cử tri Mỹ, và cả cử tri châu Âu nữa, là một trong những lý do tại sao cần phải nhập khẩu những cử tri mới và tốt hơn. Giấc mơ xã hội chủ nghĩa về một thế giới thống nhất bởi tư tưởng kinh tế khai sáng nhất và đạo đức khoa học đã bị phá hủy bởi chủ nghĩa dân tộc lệch lạc của giai cấp công nhân. Sẽ là một tội ác nếu để cho nền kinh tế học tốt nhất và đạo đức "đa nguyên" của thế kỷ 21 bị cản trở bởi chính những bộ phận dân cư đó. Rào cản đó phải được dỡ bỏ về mặt kinh tế và nhân khẩu học.

Nếu châu Âu là một mối lo ngại, thì một mối lo ngại khác lại khó hiểu đối với những người chống chủ nghĩa dân túy ngày nay, cũng giống như chủ nghĩa dân tộc của giai cấp công nhân thế kỷ 20 đối với những người theo chủ nghĩa xã hội thời đó. Người ta cho rằng đảng bảo thủ là đảng của những người già, lỗi thời, thế nhưng những người tranh cử lãnh đạo đảng Cộng hòa sau Trump lại trẻ đến đáng lo ngại: Ngoại trưởng Rubio 54 tuổi, Thống đốc DeSantis 47 tuổi, Phó Tổng thống Vance chỉ mới 41 tuổi. Và trong khi người ta cho rằng họ bị chia rẽ nghiêm trọng bởi chính sách đối ngoại của Trump, không thể cân bằng giữa một thành phần cơ sở phản chiến và một Tổng thống đang ném bom Iran, thì trên thực tế, tất cả họ đều đang hành xử như những thành viên có kỷ luật của cùng một đảng. Phe cánh hữu có những khác biệt về chính sách đối ngoại, nhưng chúng không phải là nguồn gốc gây chia rẽ giữa các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa trong và ngoài chính quyền.

Sự thật là Đảng Cộng hòa đoàn kết và tập trung hơn nhiều so với Đảng Dân chủ, với nhận thức rõ ràng hơn về chương trình nghị sự của mình và sẵn sàng khẳng định nó một cách công khai hơn. Đảng Cộng hòa hiện là đảng ủng hộ việc hạn chế nhập cư và biết rõ họ cần bảo vệ điều gì: nước Mỹ, không phải như một “ý tưởng" (proposition) mà là một quốc gia.

Mặt khác, đảng Dân chủ đang chia rẽ về việc nên giảm nhẹ hay công khai sự ủng hộ của họ đối với người chuyển giới và phân biệt chủng tộc "ngược", và sự chia rẽ của họ về vấn đề Israel không chỉ thể hiện trên mạng xã hội mà còn trong nhiều cuộc bầu cử sơ bộ và tổ chức đảng. Chỉ có Thomas Massie là đưa ra được tình huống tương tự ở phía đảng Cộng hòa.

Điều này không có nghĩa là đảng Cộng hòa sẽ dễ dàng giành chiến thắng khi cử tri đi bỏ phiếu trong vài tháng tới. Nhưng những định kiến ​​đã khiến giới chuyên gia đánh giá sai kết quả các cuộc bầu cử năm 1964, 1974 và 2020 vẫn còn tồn tại. Phe cánh hữu mạnh hơn nhiều so với những gì đối thủ của họ dám thừa nhận.


https://spectator.com/article/why-the-republicans-are-still-more-focused-than-the-democrats/?edition=us&rcp=true

Daniel McCarthy là một nhà bình luận người Mỹ cho tờ The Spectator và là biên tập viên của Modern Age: A Conservative Review 

NVV
 

 2026-05-23  

Đảng Dân chủ lo ngại họ đã bị mắc kẹt trong cái bẫy giận dữ với ông Trump

(Amie Parnes, The Hill, 23/5/2026)


Đảng Dân chủ đã dành gần một thập kỷ trong thế trận chống lại Tổng thống Trump.

Và một số người trong đảng lo ngại rằng họ có thể vẫn bị mắc kẹt ở đó.

Một báo cáo phân tích được Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ (DNC) công bố hôm thứ Năm đã nhấn mạnh điểm này, cho rằng đảng Dân chủ đã quá dựa vào sự chia rẽ đảng phái tiêu cực và trở nên quá phụ thuộc vào các cuộc tấn công nhằm vào Trump trong thông điệp gửi đến cử tri.

Báo cáo cũng nêu rõ rằng “tâm lý chống Trump” có những hạn chế nhất định trong việc đạt được thành công bầu cử.

Trong khi họ đang công kích Trump trong cơn giận dữ, đảng Dân chủ đã không đưa ra được tầm nhìn nào để thu hút cử tri về phía mình hoặc lập luận nào về những gì họ sẽ làm với quyền lực.

Tuần này tại Hội nghị IDEAS 2026 do Trung tâm Tiến bộ Mỹ tổ chức, sự giận dữ cũng được thể hiện bởi một loạt các diễn giả của đảng Dân chủ, bao gồm Thống đốc California Gavin Newsom, một ứng cử viên hàng đầu trong cuộc đua tổng thống năm 2028.

Ông và những người khác chủ yếu nói về việc chống lại tổng thống và đảng của ông, một thông điệp mà đảng Dân chủ cảnh báo sẽ kích động cử tri cốt lõi nhưng có thể không đủ để giành được sự ủng hộ của cử tri độc lập, và do đó, không thể thắng cử.

“Trump hiện là người huy động cử tri cốt lõi tốt nhất cho đảng Dân chủ. Nhưng tôi nghĩ rằng mọi người đều hiểu rằng thời gian đang trôi nhanh, đảng Dân chủ không thể dựa vào sự phân cực do Trump gây ra để khích lệ cử tri của mình thêm bao lâu nữa,” chiến lược gia đảng Dân chủ Joel Payne nói, nhấn mạnh vấn đề này.

Trong một bài đăng trên Substack tuần này có tiêu đề “Liệu đảng Dân chủ có thể kiểm soát cơn giận dữ của mình?”, chiến lược gia đảng Dân chủ Dan Turrentine cũng tự hỏi liệu những người trong đảng của ông có thể vượt qua được sự tức giận trong vài chu kỳ bầu cử gần đây hay không.

Sau khi tham dự Hội nghị IDEAS tuần này, Turrentine cho biết ông “choáng váng trước việc các diễn giả và người điều hành bị cuốn vào cơn giận dữ tột độ chống lại chính quyền Donald Trump.”

“Hết lần này đến lần khác, họ trông và nghe có vẻ tức giận, bất kể chủ đề là gì, liên tục nói về việc đánh mất nền dân chủ và đất nước đang thực sự bị hủy hoại,” Turrentine viết trong bài đăng.

“Điều tôi lo ngại đối với ban lãnh đạo đảng là sau phán quyết của Tòa án Tối cao Virginia và sau khi Đạo luật Quyền Bầu cử được thông qua, cả ở Washington D.C. và trên BlueSky, chúng ta lại đang bị mù quáng bởi sự giận dữ của mình,” ông nói thêm.

Đó là những lời ám chỉ đến hai phán quyết gần đây của tòa án đã mang lại cho đảng Cộng hòa những chiến thắng lớn trong việc phân chia lại khu vực bầu cử, đồng thời khiến đảng Dân chủ tức giận. Tòa án Tối cao Virginia đã bác bỏ bản đồ khu vực bầu cử quốc hội mới được cử tri Virginia thông qua, trong khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các bang do đảng Cộng hòa lãnh đạo ở miền Nam thành lập các khu vực bầu cử mới dành riêng cho đảng Cộng hòa, một đòn giáng mạnh vào Đạo luật Quyền Bầu cử.

Tất cả sự tập trung vào sự giận dữ diễn ra trong bối cảnh đảng Dân chủ đang vật lộn với lý do tại sao họ thất bại trong cuộc bầu cử năm 2024.

Một phần vấn đề nằm ở uy tín của đảng, vốn tiếp tục xuống dốc trong mắt cử tri, theo các cuộc thăm dò.

Ví dụ, một cuộc thăm dò của CNN vào tháng 4 cho thấy chỉ 28% số người được khảo sát có cái nhìn tích cực về đảng Dân chủ, trong khi 56% có cái nhìn tiêu cực về đảng này.

Gần đây, đảng Dân chủ đã gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng mặc dù họ được kỳ vọng sẽ thắng ở Hạ viện và đang cạnh tranh tốt trong các cuộc đua vào Thượng viện, họ cần đưa ra cho cử tri một kế hoạch thu hút không chỉ cử tri cốt lõi của mình mà còn cả cử tri độc lập và đảng viên Cộng hòa.

Báo cáo phân tích của Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ (DNC) khuyến khích các ứng cử viên Dân chủ trong các cuộc đua sắp tới nên “xây dựng những luận điểm tích cực cho các ứng cử viên để thúc đẩy sự nhiệt tình thay vì chỉ dựa vào những thông điệp đơn giản hóa”. Báo cáo cho biết, chỉ riêng tâm lý chống Trump là “không đủ để thúc đẩy cử tri”.

Chiến lược gia đảng Dân chủ Steve Schale, người điều hành chiến dịch tranh cử của cựu Tổng thống Obama tại Florida năm 2008, cho biết mặc dù “sự tức giận là một động lực” đối với cử tri cốt lõi của đảng, các ứng cử viên Dân chủ “cần phải đưa ra cho những cử tri hoài nghi một lý do để bỏ phiếu cho mình và lý do đó phải nhiều hơn là chỉ nói ‘Trump là một thảm họa’”.

“Ông ấy khiến việc chỉ trích trở nên quá dễ dàng vì nội dung đã có sẵn”, Schale nói. “Nhưng cũng cần phải có một điều gì đó để lật sang trang mới”.

Schale cho biết các ứng cử viên có thể nhấn mạnh những gì ông gọi là “sự phi lý của thời điểm hiện tại”, chỉ ra sự quan tâm của Trump đến các dự án như cổng vòm được đề xuất ở Washington như một sự tương phản với nỗi lo lắng về kinh tế mà nhiều người Mỹ đang cảm thấy, bao gồm giá xăng và giá thực phẩm tăng cao.

“Sự tương phản luôn luôn quan trọng”, ông nói.

John Morgan, một nhà tài trợ lớn của Đảng Dân chủ, cho biết việc Đảng Dân chủ liên tục tập trung vào Trump sẽ mang lại hiệu quả trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.

“Sự ám ảnh đồng nghĩa với tỷ lệ cử tri đi bầu cao”, Morgan nói, điều này có thể giúp đảng giành quyền kiểm soát Hạ viện và Thượng viện. Ông nói rằng kết quả như vậy “sẽ là dấu chấm hết cho nhiệm kỳ tổng thống [Trump] như chúng ta đã biết”.

Trong năm qua, các ứng cử viên tiềm năng cho năm 2028 như Newsom đã báo hiệu loại thông điệp mà họ có khả năng sử dụng trong chiến dịch tranh cử. Ví dụ, Newsom đã tập trung mạnh vào việc trở thành người đấu tranh chính của Đảng Dân chủ, thu hút những người Dân chủ cảm thấy thất vọng và bất lực.

Ông ấy đã tích cực đối đầu với Trump và đảng Cộng hòa trên mạng xã hội, phát động một cuộc đấu tranh thành công về việc phân chia lại khu vực bầu cử ở California và đã có một loạt bài phát biểu chỉ trích mạnh mẽ chính quyền.

Tại Hội nghị IDEAS tuần này, Newsom đã kêu gọi đảng Dân chủ “lấy độc trị độc”.

“Một năm trước, tôi cảm nhận rằng, ở đất nước này, con đường trở lại của đảng Dân chủ… là thông qua phe trung dung,” ông nói với đám đông tại một phòng khiêu vũ khách sạn ở Washington. “Tôi cho rằng, ngày càng nhiều người muốn thấy con đường đó là thông qua cuộc đấu tranh. Và người dân muốn những người đấu tranh. Người dân muốn những người có niềm tin và sự rõ ràng.”

Payne nói rằng mặc dù điều đó có thể đủ cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, nhưng nó cần phải thay đổi cho chu kỳ năm 2028.

“Dự án cho năm 2026 là tận dụng cơ hội từ sự mất lòng dân của Trump,” ông nói. “Nhưng dự án cho năm 2028 là kể một câu chuyện hậu Trump.”

https://thehill.com/homenews/campaign/5891811-democrats-trump-partisanship-analysis/

NVV

 

 2026-05-18  

Sự đảo ngược vận mệnh của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.

(Kurt Schlichter, Townhall, 18/5/2026)

Winston Churchill từng nhận xét rằng không có gì sánh được với cảm giác bị bắn mà không trúng. Đảng Cộng hòa đang tận hưởng cảm giác tuyệt vời đó ngay lúc này. Nhờ các quyết định phân chia lại khu vực bầu cử của nhiều tòa án khác nhau, cũng như một số ví dụ đáng ngạc nhiên về bản lĩnh của đảng Cộng hòa sau đó, có vẻ như tháng 11 sẽ là một cuộc đua gay cấn. Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ được cho là cuộc hẹn với thảm họa, và xét về lịch sử, vận may vẫn đang chống lại chúng ta. Nhưng đảng Dân chủ vừa trải qua kinh nghiệm đau khổ khi nhận ra rằng số phận thật khó lường. Những sự kiện gần đây đã tạo cơ hội cho đảng Cộng hòa, và niềm vui sướng cùng sự nhẹ nhõm của chúng ta khi biết rằng mình không nhất thiết phải chịu số phận bi thảm càng được nhân lên khi nghe thấy đảng Dân chủ rên rỉ trong đau đớn khi tất cả giấc mơ của họ tan vỡ.

Và đó mới chỉ là khởi đầu cho nỗi đau của họ. Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026 chỉ là một tia hy vọng nhỏ nhoi trước khi xu hướng thành công của đảng Dân chủ lao dốc không phanh, giống như chiếc quần của Swalwell tụt xuống khi có mặt một điệp viên Trung Quốc. Sự dịch chuyển dân số liên tục sẽ có lợi cho đảng Cộng hòa. Ví dụ, việc di cư từ các thành phố và tiểu bang truyền thống ủng hộ đảng Dân chủ sang các tiểu bang bảo thủ hơn ủng hộ đảng Cộng hòa sẽ làm tăng số ghế của đảng Cộng hòa tại Hạ viện, vì các tiểu bang này sẽ có thêm ghế do tăng trưởng dân số và đảng Dân chủ sẽ mất ghế khi cử tri tương lai của họ di cư. Sự dịch chuyển này cũng sẽ dẫn đến nhiều phiếu đại cử tri hơn cho đảng Cộng hòa, củng cố vị thế của họ trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới. Tương lai tươi sáng đến mức đảng Cộng hòa phải đeo kính râm.

Nhưng chừng nào đảng Dân chủ còn đội mũ phân biệt chủng tộc và thỉnh thoảng xăm hình phát xít, họ sẽ tiếp tục thua cuộc. Miền Nam gần như hoàn toàn là màu đỏ. Các cơ quan lập pháp của đảng Cộng hòa đang loại bỏ nhiều khu vực bầu cử của đảng Dân chủ mang tính phân biệt chủng tộc và bảo thủ (mặc dù những người Cộng hòa ôn hòa có thể tạm thời bỏ qua một số khu vực, nhưng khi các chính trị gia đảng Cộng hòa bị "Indiana hóa" trong mùa bầu cử sơ bộ tới, họ sẽ cứng rắn hơn). Đây không phải là các khu vực bầu cử của người da đen. Đây là các khu vực bầu cử của đảng Dân chủ. Nhưng thật tốt khi thấy đảng Dân chủ giả vờ quan tâm đến cử tri da đen của họ sau nhiều năm coi thường họ để ủng hộ người nhập cư bất hợp pháp, người Hồi giáo và những kẻ biến thái, những người đều xếp hạng cao hơn trên Kim tự tháp Áp bức của phe cánh tả.

Cơ hội đó là gì? Khi bạn có những khu vực bầu cử về cơ bản dành riêng cho đảng Dân chủ, nơi mà đảng Cộng hòa không có cơ hội đắc cử, thì không cần phải ôn hòa. Không cần phải nói chuyện với bất kỳ ai không phải là người cộng sản hoặc có liên hệ với chủ nghĩa cộng sản, và họ đã không làm vậy. Trong nhiều năm, đảng Dân chủ hoàn toàn không có bất kỳ nỗ lực tiếp cận thực sự nào với người dân Mỹ bình thường. Cô đặc vụ CIA kỳ quặc, mặt búp bê chua ngoa Abigail Spanberger đã cố gắng giả vờ, nhưng mặt nạ của cô ta – làm ơn đeo lại đi! – đã rơi xuống ngay khi cô ta tuyên thệ nhậm chức. Cô ta tranh cử với tư cách là một người ôn hòa nhưng lại cầm quyền như một người theo chủ nghĩa Mác.

Và bạn thấy kết quả ra sao rồi đấy.

Đảng Dân chủ sắp phải đối mặt với một sự lựa chọn, đặc biệt là ở miền Nam, nơi họ sẽ sớm không thể trông chờ vào những chiến thắng chắc chắn. Giờ đây, họ sẽ phải cạnh tranh giành phiếu bầu của người dân bình thường nếu muốn có bất kỳ ghế nào, nhưng làm thế nào để cạnh tranh giành phiếu bầu của người dân bình thường khi họ đang rao giảng những điều nhảm nhí mang tính Bolshevik? Cắt xẻ trẻ em để ép chúng tuân theo ảo tưởng của những bà mẹ Münchhausen? Nhập khẩu phần lớn người dân từ Thế giới thứ ba và trả tiền cho họ để ở đây? Cho phép tội phạm hoành hành? Tăng thuế để giúp cho những kẻ ăn bám, cũng như các công đoàn viên chức nhà nước, mặc dù tôi đang lặp lại lời của chính mình.

Người bình thường không muốn điều đó. 

Nhưng nếu có một đảng viên Dân chủ có thể nói "Không" với những điều phi lý cực đoan nhất thì sao? Đã từng có một đảng viên Dân chủ như vậy. Bạn phải quay ngược lại gần 35 năm trước, nhưng ông ấy đã từng ở đó. Bill Clinton. Bạn có nhớ ông ấy đã đứng về phía những người Mỹ muốn làm việc chăm chỉ và tuân thủ luật lệ như thế nào không? Ông ấy muốn phá thai phải an toàn, hợp pháp và hiếm khi xảy ra? Ông ấy nghĩ rằng tội phạm nên vào tù và người dân không nên sống dựa vào trợ cấp mãi mãi? Tất cả những điều đó giờ đây đều là điều cấm kỵ đối với đảng Dân chủ, nhưng nếu họ khôi phục lại chúng thì sẽ rất được lòng dân, và điều đó sẽ tạo vỏ bọc cho những điều tự do khác mà họ muốn. Bill Clinton không phải là người bảo thủ, nhưng đừng nhầm lẫn ông ấy với người vợ thiếu hiểu biết của mình. Ông ấy hiểu rằng để một đảng viên Dân chủ thành công, ông ta phải làm cho đảng Dân chủ trở nên an toàn để người dân bình thường có thể nuôi dạy gia đình và đi lại trên đường phố. 

Thật kỳ lạ là người Dân chủ bị ghét nhất hiện nay không phải là gã có hình xăm Đức Quốc xã, hay kẻ theo chủ nghĩa xã hội công khai, hay kẻ giả danh người da đỏ. Mà lại là một đảng viên Dân chủ đến từ một tiểu bang tranh chấp, người nói rằng nước Mỹ nên đánh bại kẻ thù của mình, rằng tội phạm là xấu, và có lẽ việc mở cửa biên giới hoàn toàn là một ý tưởng tồi. Họ ghét Thượng nghị sĩ John Fetterman (D-PA), nhưng bạn biết ai không ghét John Fetterman không? Chính là người dân Pennsylvania, những người đã bầu ông ấy.

Giờ hãy tưởng tượng một số đảng viên Dân chủ miền Nam sẵn sàng nói những điều như “Nước Mỹ là quốc gia tốt nhất trên thế giới”, “Thật tệ khi nói xấu đồng minh Israel của chúng ta để làm hài lòng những kẻ cuồng tín bài Do Thái trong đảng”, “Tội phạm phải ngồi tù”, và “Giáo viên có công đoàn cần phải làm việc hiệu quả trước khi được tăng lương”. Người đó sẽ được lắng nghe. Mọi người sẽ chú ý đến anh ta. Và khi anh ta được bầu, và điều đó hoàn toàn có thể xảy ra, và nếu anh ta thực sự điều hành đất nước theo cách đó, anh ta sẽ có thể đưa vào rất nhiều điều tự do (liberal) mà chúng ta, những người Cộng hòa, không thể chấp nhận được.

Đừng tự lừa dối mình. Đảng Cộng hòa không thắng cử vì họ được lòng dân. Hầu hết người Mỹ đều ghét tất cả các chính trị gia. Đảng Cộng hòa thắng cử phần lớn là vì Đảng Dân chủ chấp nhận những điều kỳ quặc, lập dị, khiến người bình thường xa lánh. Nhưng người dân có thể chấp nhận nhiều điều tồi tệ mà Đảng Dân chủ muốn – như hệ thống chăm sóc sức khỏe chỉ do một người tài trợ (single-payer healthcare), dù nó tệ đến mức nào – nếu nó được thúc đẩy bởi người mà họ tin tưởng sẽ không để con cái họ bị xâm hại hoặc tiền tiết kiệm của họ bị cướp đoạt. May mắn thay, điều đó sẽ khó khăn đối với Đảng Dân chủ. Đó là bởi vì hệ tư tưởng của họ không chỉ là một quan điểm chính trị. Nó là sự thay thế cho tôn giáo của họ. Hệ thống niềm tin kỳ lạ của họ vào những thứ như thần thời tiết giận dữ, phân biệt chủng tộc có hệ thống và tất cả những thứ khác là những gì lấp đầy khoảng trống mà người bình thường lấp đầy bằng Niềm tin, Gia đình và Quốc kỳ. Bạn không thể bình thường trong Đảng Dân chủ. Bạn không thể nói “Không, có lẽ giết một bào thai tám tháng tuổi là một ý kiến ​​tồi vì mẹ nó muốn thế.” Bạn không thể nói “Hầu hết những kẻ lang thang và vô gia cư là những kẻ nghiện ma túy, tội phạm hoặc người điên cần được điều trị hoặc bỏ tù, và họ không thể sống trên đường phố của chúng ta và làm ô nhiễm đường phố bằng kim tiêm và phân của người vô gia cư.” Bạn không thể nói “Chưa từng có phụ nữ nào có dương vật.” Bạn không thể nói những điều hoàn toàn đúng mà mọi người đều biết là đúng chỉ vì những người Dân chủ khác sẽ không chấp nhận điều đó, và điều đó khiến bạn trở nên không đáng tin cậy đối với những người bình thường, và lẽ ra điều đó phải xảy ra. Nhưng nếu họ chấp nhận thì sao?

Điều gì sẽ xảy ra nếu có một đảng viên Dân chủ đứng lên và từ chối quỳ gối trước bàn thờ của những tư tưởng kỳ quặc cánh tả?

Vậy thì, với tư cách là đảng Cộng hòa, chúng ta sẽ gặp rắc rối. Nhưng hiện tại, chúng ta không cần phải lo lắng. Trong khi đảng Dân chủ đang cố gắng hết sức để giải thích tại sao người có hình xăm Đức Quốc xã lại được coi là ngầu, còn người giơ ngón tay cái kiểu "OK" lại bị coi là Hitler, họ đang làm thay công việc của chúng ta. Có thể không phải đảng Cộng hòa sắp bước vào chuỗi thắng liên tiếp; mà có thể đảng Dân chủ sắp bước vào chuỗi thua liên tiếp. Và, may mắn thay cho chúng ta, chính đảng Dân chủ sẽ tiếp tục chuỗi thua đó.

https://townhall.com/columnists/kurtschlichter/2026/05/18/the-gops-midterm-reversal-of-fortune-n2676169

NVV
 

 2026-05-16  

Những bạn bè trong giới công nghệ đang nhận lấy hậu quả xứng đáng — sau nhiều năm ủng hộ phe tả.

(Joei Kotkin, NY Post, 16/5/2026)

 Mark Zuckerberg, CEO of Meta, walking with other individuals in the U.S. Capitol.


Các ông trùm công nghệ California đang tự miêu tả mình là nạn nhân, trong khi phe tả liên tục kêu gọi đánh thuế để giảm bớt tài sản của họ .

Có lẽ họ nên chịu một phần trách nhiệm.

Từng được ngưỡng mộ rộng rãi như những người dám phá vỡ khuôn mẫu và táo bạo, những ông trùm siêu giàu này giờ đây định hình nên tầng lớp thượng lưu ở California, một tiểu bang có nhiều tỷ phú hơn bất kỳ tiểu bang nào khác.

Và đó là một thể chế đang bị đe dọa.

Trước đây, các ông trùm công nghệ từng tạo ra hàng trăm nghìn việc làm trong tiểu bang. Nhưng giờ đây, khi tập trung vào trí tuệ nhân tạo (AI) như "xu hướng lớn tiếp theo", các ông lớn như Meta và Google đã mạnh tay cắt giảm nhân sự trong khi vẫn công bố lợi nhuận khổng lồ.

Nhìn chung, lực lượng lao động công nghệ của tiểu bang, vốn đang chịu áp lực ở khắp mọi nơi, đang thu hẹp nhanh hơn bất kỳ nơi nào khác trong cả nước, theo nhận định của nhà kinh tế học Gad Levanon. Kể từ năm 2022, tỷ lệ việc làm công nghệ cao của tiểu bang đã giảm từ 19% xuống còn 16%.

Vì vậy, ngay cả khi giới tài phiệt ngày càng giàu có hơn, người dân California vẫn là người chịu thiệt thòi nhất.

Newsom tự hào tuyên bố California là “cường quốc kinh tế”, nhưng người dân nơi đây lại phải gánh chịu tỷ lệ nghèo đói điều chỉnh theo chi phí sinh hoạt cao nhất cả nước, tỷ lệ mù chữ chức năng cao nhất và tình trạng không đủ khả năng chi trả nhà ở tồi tệ nhất ở lục địa Hoa Kỳ. 

Tiểu bang có nhiều tỷ phú nhất cả nước hiện đang xếp hạng là tiểu bang tệ nhất về khả năng tạo ra việc làm có mức lương trên trung bình. 

Trong môi trường này, người ta có thể không mấy hào hứng khi chứng kiến ​​lối sống xa hoa của các tỷ phú — những du thuyền khổng lồ, vô số biệt thự và máy bay phản lực riêng — ngay cả khi họ đón nhận những quan điểm “xanh” và tiến bộ vốn là mốt trong giới thượng lưu.

Nhưng sai lầm nghiêm trọng nhất của giới tài phiệt chính là việc tài trợ cho chính những nhóm và chính trị gia hiện đang kêu gọi lật đổ họ.

Mặc dù giới báo chí cấp tiến liên tục chỉ trích mối quan hệ của các nhà tài phiệt với ông Trump, đặc biệt là Larry Ellison của Oracle và Elon Musk, nhưng hầu hết các "ông trùm công nghệ" đã ủng hộ các đảng viên Dân chủ cấp tiến trong suốt một thế hệ. 

Hãy nhìn vào số tiền quyên góp của Apple, Amazon, Google, Microsoft và Meta, và tất cả đều cho thấy cùng một câu chuyện: số tiền quyên góp cho các đảng viên Dân chủ tiến bộ lớn hơn đáng kể so với số tiền quyên góp cho đảng Cộng hòa.  

Năm 2024, trong số năm nhà tài trợ doanh nghiệp hàng đầu cho Kamala Harris, bao gồm cả nhân viên, có Alphabet (Google) và Apple, cùng với Đại học California cũng nằm trong top đầu. 

Một số khoản đóng góp này đã đến tay chính những người hiện đang kêu gọi lật đổ giới tài phiệt.

Hãy lấy ví dụ về nghị sĩ Ro Khanna của Thung lũng Silicon, một người ủng hộ mạnh mẽ đề xuất đánh thuế tài sản 5%, quỹ tranh cử của ông bao gồm tiền từ những nơi như Google, mà người đồng sáng lập Sergei Brin đã trở thành biểu tượng của phe bảo thủ chống lại loại thuế này.

Nhưng không chỉ có đóng góp cho chiến dịch tranh cử. Các ông trùm công nghệ và các quỹ của họ là những nhà tài trợ lớn cho các nhóm bình phong như Tides Foundation, một tổ chức ủng hộ mạnh mẽ các phong trào cánh tả. Họ cũng, thông qua Silicon Valley Community Fund, đã đóng góp số tiền lớn cho Black Lives Matter, một nhóm có khuynh hướng Mác-xít không phải là bí mật. 

Khi họ trực tiếp kiểm soát truyền thông, họ thường kể một câu chuyện mang tính tiến bộ. Tờ Washington Post của Jeff Bezos nghiêng về cánh tả đến mức khiến tờ New York Times trông giống như Fox News.

Sergei Brin, người đồng sáng lập Google, có thể gây ấn tượng với những người bảo thủ bằng những lời chỉ trích về thuế tài sản và tài trợ các sáng kiến ​​nhằm ngăn chặn việc áp thuế mới, nhưng công ty của ông đã luôn là một người ủng hộ và quảng bá trực tuyến cho chương trình tiến bộ này trong gần một thế hệ.   

Amazon cũng từng được biết đến với việc cố gắng hạn chế đóng góp của khách hàng, ngay cả đối với các nhóm bảo thủ lâu đời. Họ cũng đã gỡ bỏ những cuốn sách xúc phạm đến định kiến ​​thiên tả của họ. 

Giới tài phiệt từ lâu cũng đã tài trợ cho các tổ chức phi lợi nhuận cánh tả mọc lên như nấm ở California và nhiều nơi khác. 

Các tổ chức phi lợi nhuận về môi trường đặc biệt gây thiệt hại. Các ông trùm công nghệ đã đóng góp rất lớn vào cái mà nhà phân tích Robert Bryce gọi là “ngành công nghiệp phản công nghiệp”.   

Trong nhiều năm, giới tinh hoa công nghệ không mấy bận tâm về giá năng lượng cao liên quan đến năng lượng "xanh". Nhưng giờ đây, các nhà tài phiệt cần điện giá rẻ và ổn định để cung cấp năng lượng cho trí tuệ nhân tạo.

Chúc bạn may mắn.

Những người theo chủ nghĩa tiến bộ ở California, và những người cùng chí hướng ở những nơi khác , ngày càng phản đối các trung tâm dữ liệu tiêu tốn nhiều năng lượng và tìm cách điều chỉnh trí tuệ nhân tạo (AI).

Các vụ tấn công gần đây vào dinh thự của Sam Altman ở San Francisco đã cho thấy một định kiến ​​chống lại các tập đoàn tương tự, vốn ngày càng ăn sâu vào văn hóa chính trị của tiểu bang.

Vậy tại sao những người quyền lực này lại ủng hộ những người ghét họ? Một phần lý do có thể phản ánh thực tế rằng việc sống trong một quốc gia độc đảng đồng nghĩa với việc phải khuất phục trước phe tả. 

Nhưng điều đó cũng xuất phát từ sự ngây thơ cơ bản và thói quen thể hiện đạo đức giả, vốn phổ biến trong giới tinh hoa công nghệ. Họ có thể hiểu rõ về công nghệ số, nhưng lại không nắm bắt được những thực tế phức tạp của đời sống chính trị. 

"Họ có thể giỏi về công nghệ," nhà tư vấn chính trị kỳ cựu Arnold Steinberg nhận xét, "nhưng họ lại ngu dốt về chính trị."

Chắc chắn rồi, họ có thể sống chung với một người cơ hội chủ nghĩa như Gavin Newsom, ít nhất là cho đến bây giờ. Họ có thể đặt các trung tâm dữ liệu của mình ở những tiểu bang "đỏ" không được ưa chuộng, và chuyển nhân viên đến những địa điểm thân thiện hơn với doanh nghiệp, ngay cả khi họ vẫn được hưởng những lợi thế về chất lượng khi sống ở California. 

Nhưng giờ đây, những hành động trong quá khứ đang quay trở lại ám ảnh họ và khối tài sản khổng lồ của họ.

Không thể nào có chuyện này xảy ra với một nhóm người xứng đáng hơn thế. 

https://nypost.com/2026/05/16/opinion/tech-bros-are-getting-what-they-deserve/

Joel Kotkin là nghiên cứu sinh được bổ nhiệm chính thức về tương lai đô thị tại Đại học Chapman và là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Civitas thuộc Đại học Texas tại Austin.

NVV




 2026-05-16  

Nếu thiếu sự ủng hộ của giai cấp công nhân, đảng Dân chủ sẽ thất bại thảm hại trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ — và cả năm 2028.

(Douglas Mackinnon, The Hill, 16/5/2026)


 

Khi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 và cuộc bầu cử tổng thống năm 2028 đến gần, người ta phải tự hỏi liệu bất kỳ đảng viên Dân chủ nào ở các vị trí lãnh đạo — dù là trong Quốc hội, trong Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ hay những tỷ phú tài trợ cho các sáng kiến ​​​​ủng hộ các lý tưởng cánh tả — có thực sự biết hoặc thường xuyên nói chuyện với bất kỳ người Mỹ thuộc tầng lớp lao động nào hay không.

Là người lớn lên trong cảnh nghèo khó cùng cực, tôi từ lâu đã giữ liên lạc với các bậc cha mẹ và những người sống dựa vào tiền lương hàng tháng. Một số là đảng viên Dân chủ. Một số là đảng viên Cộng hòa. Một số là những người độc lập mạnh mẽ. Hầu hết đang phải đối mặt với những trở ngại dường như không thể vượt qua liên quan đến chi phí sinh hoạt, tội phạm gia tăng và một tương lai ngày càng ảm đạm cho con cái họ.

Những người Mỹ này, chiếm phần lớn dân số, đã trở nên cảnh giác với các nhà lãnh đạo đại diện cho cả hai đảng chính trị, những người đang lơ lửng trên họ và nỗi khổ ngày càng tăng của họ trong những bong bóng đặc quyền, xa hoa và sự thiếu hiểu biết có chủ đích. Họ có thể không hiểu được sự phức tạp của chính trị và chính sách, nhưng họ nhận ra sự vô lý và sự thoái thác trách nhiệm khi nhìn thấy nó.

Đầu tuần này, chuyên gia phân tích số liệu xuất sắc của CNN, Harry Enten, đã dội một gáo nước lạnh vào mặt số lượng ngày càng tăng các đảng viên Dân chủ dường như tin rằng cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đã nằm trong tầm tay của đảng. Mặc dù một số cuộc thăm dò cho thấy tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Trump giảm sút có mối tương quan trực tiếp với chi phí sinh hoạt tăng cao, Enten nhắc nhở chúng ta rằng những đảng viên Cộng hòa khó chịu đó không chỉ vẫn còn bám trụ mà còn khá cạnh tranh trên khắp cả nước.

“Tôi nghĩ,” Enten nhấn mạnh, “cuộc thăm dò này là một lời nhắc nhở thực tế lớn đối với đảng Dân chủ, và đó là mọi chuyện vẫn chưa kết thúc, đặc biệt là với việc phân chia lại khu vực bầu cử khi chúng ta nhìn về phía trước cuộc đua vào Quốc hội năm 2026. Bạn có thể nghĩ rằng lợi thế của đảng Dân chủ sẽ được mở rộng trên lá phiếu quốc hội chung. Điều đó đã không xảy ra.”

Không những không xảy ra, mà lợi thế đó thậm chí có thể đang thu hẹp lại. Tại sao? Có vẻ như những người điều hành Đảng Dân chủ và các bộ máy truyền thông của họ đơn giản là không có khả năng nắm bắt tình hình hoặc từ bỏ chiến lược tranh cử thất bại “Không thể thua, hãy ghét Trump” năm 2024.

Người lao động Mỹ không hề ngốc nghếch. Họ có thể bị choáng ngợp bởi những chính sách tồi tệ và mang tính đảng phái áp đặt lên họ, nhưng họ rất thông minh và rất hiểu biết.

Họ biết khi nào tiền lương khó nhọc kiếm được của mình không đủ sống như tháng hoặc thậm chí tuần trước. Đột nhiên, nhiều người phải lựa chọn trả tiền điện nước nào hoặc làm thế nào để nói với con mình rằng quà sinh nhật sẽ phải hoãn lại.

Mỗi người Mỹ thuộc tầng lớp lao động đều hiểu rằng Đảng Dân chủ “ghét” Trump. Họ đã chán ngấy khi nghe điều đó. Tuy nhiên, điều họ chưa “hiểu” từ Đảng Dân chủ là họ sẽ giải quyết vấn đề thực tế về sức mua ngày càng giảm sút của tiền lương như thế nào.

Họ muốn nghe ít hơn về việc “ghét Trump” và nhiều hơn về việc giải quyết các vấn đề thiết thực trong cuộc sống. Điều đáng ngạc nhiên là họ không muốn nghe điều đó. Như một món quà dành cho Đảng Cộng hòa đang bị tổn thương, nhiều người trong Đảng Dân chủ dường như đã tăng cường luận điệu “Chúng tôi ghét Trump” đã được sử dụng trong ba cuộc bầu cử quốc gia gần đây.

Cùng với đó là một vấn đề rất thực tế khác đối với những người Dân chủ tưởng chừng đã nắm chắc phần thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ: những thị trưởng theo chủ nghĩa xã hội công khai mà họ đã bầu chọn để lãnh đạo thành phố New York và Seattle.

Những người Mỹ thuộc tầng lớp lao động này vô cùng lo ngại về Thị trưởng New York Zohran Mamdani và Thị trưởng Seattle Katie Wilson, những người có chính sách cực tả dường như đang lặp lại những gì đã thấy ở Trung Quốc, Liên Xô cũ và Cuba. Điều đáng lo ngại hơn đối với họ là giới lãnh đạo Đảng Dân chủ đang ủng hộ những chính sách ưu đãi theo chủ nghĩa xã hội và tấn công những người tạo việc làm, trong khi họ đáng lẽ phải giữ khoảng cách với những chính sách này.

Đối với giới lãnh đạo Đảng Dân chủ, câu hỏi đặt ra lúc này là: Làm thế nào để tự chuốc lấy thất bại từ chiến thắng đã nằm trong tầm tay và đánh mất cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11? Rất đơn giản. Lặp lại thông điệp thất bại năm 2024 rằng bạn “ghét” Trump trong khi thực sự ủng hộ những người chủ trương biến Hoa Kỳ thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa, thậm chí là cộng sản.

Hãy quan sát tình hình. Lắng nghe tiếng nói của giai cấp công nhân.

https://thehill.com/opinion/campaign/5880268-democrats-midterms-working-class/

 

NVV

 

 

 2026-04-04  

Đây là viễn cảnh nước Mỹ sẽ ra sao nếu đảng Dân chủ giành lại quyền lực. Chẳng đẹp đẽ gì cả.

(Joe Concha, Washington Examiner, 4/4/2026)

Đây là kịch bản ác mộng đối với bất kỳ người bảo thủ hay đảng viên Cộng hòa nào: đảng Dân chủ kiểm soát Hạ viện, Thượng viện và Tòa Bạch Ốc. Và theo thị trường cá cược trực tuyến nổi tiếng Kalshi, khả năng điều này xảy ra đang ở mức cao nhất từ ​​trước đến nay, lên tới 43%.

Thật kỳ lạ khi thấy "Đội Xanh" dường như đang ngày càng mạnh lên trong khi cử tri dường như ngày càng ít tin tưởng vào thương hiệu của đảng này. Theo một cuộc khảo sát gần đây của CNN/SSRS, có tới 74% người được hỏi cho rằng các nghị sĩ Dân chủ trong Quốc hội có những ưu tiên sai lầm, trong khi 55% đảng viên Dân chủ và những người độc lập có xu hướng ủng hộ đảng Dân chủ không hài lòng với đảng của họ.

“Đối với tôi, điều này thực sự nổi bật vì nó cho thấy những thách thức trong cuộc bầu cử sơ bộ đang diễn ra khắp nơi; và nó nói lên rằng ngay cả khi đảng Dân chủ không thích Donald Trump, họ cũng không thích chính đảng của mình khi nói đến Quốc hội,” nhà thăm dò dư luận Henry Enten nói trên CNN tuần này sau khi công bố các con số. “Và nhìn chung, trời ơi, thật kinh khủng!”

Bất kể kết quả thăm dò dư luận thế nào, khi nói đến việc giành lại Hạ viện, Kalshi dự đoán đảng Dân chủ có 85% cơ hội. Lịch sử ủng hộ tỷ lệ này vì chỉ có hai lần trong 80 năm qua, đảng cầm quyền mới giành được thêm ghế trong các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Và trong trường hợp bầu cử giữa nhiệm kỳ năm nay, đảng Dân chủ có thể có một đêm không mấy thành công nhưng vẫn có thể giành lại Hạ viện vì chỉ cần bốn ghế nữa là đủ để lật ngược tình thế. Con số tương tự (bốn) cũng áp dụng cho việc giành lại Thượng viện, trong khi Tòa Bạch Ốc cũng có thể bị tranh giành nếu nền kinh tế gặp khó khăn, bất kể kết quả đối đầu ra sao.

Vậy đất nước sẽ ra sao nếu đảng Dân chủ thắng cả ba nhánh?

Trước hết, và đây là một vấn đề lớn, không có Thượng nghị sĩ Joe Manchin hay Kyrsten Sinema nào có thể cứu đảng khỏi chính mình. Chính Manchin và Sinema đã bỏ phiếu chống lại nỗ lực của đảng Dân chủ nhằm quốc gia hóa các cuộc bầu cử năm 2022. Họ cũng bỏ phiếu chống lại việc bãi bỏ filibuster cùng năm đó. Và khi nói đến dự luật được gọi là “Build Back Better”, thực chất là một dự án chi tiêu lãng phí 2 nghìn tỷ đô la cho khí hậu và xã hội, họ cũng phản đối mức giá khổng lồ đó.

Vậy là, khi sự phản đối nội bộ đã được loại bỏ, đảng Dân chủ chắc chắn sẽ lại cố gắng quốc gia hóa bầu cử và nới lỏng các yêu cầu về giấy tờ tùy thân khi bỏ phiếu. Họ cũng sẽ xóa bỏ hoàn toàn filibuster để thông qua mọi dự luật cấp tiến có thể tưởng tượng được.

Ví dụ, Tòa án Tối cao sẽ giống một đội bóng rổ hơn, với việc đảng cầm quyền đảm bảo bổ sung đủ số thẩm phán theo chủ nghĩa tự do để biến thế đa số 6-3 bảo thủ thành thế đa số 9-6 cho phe tự do.

“Ở mọi khía cạnh, các thẩm phán MAGA đều quyết tâm kéo đất nước chúng ta thụt lùi,” Thượng nghị sĩ Ron Wyden (D-OR) nói vào năm 2024 sau khi đề xuất một dự luật mở rộng Tòa án Tối cao lên 15 thẩm phán. “Với sự giúp đỡ của các đảng viên Cộng hòa trong Quốc hội, Donald Trump đã dành thời gian tại chức để bổ nhiệm những người cực đoan cánh hữu vào các tòa án cao nhất của quốc gia, những người sẵn sàng làm luật từ trên ghế thẩm phán. Từ quyền của phụ nữ được đưa ra quyết định về cơ thể của chính họ đến chăm sóc sức khỏe, khủng hoảng khí hậu và mọi thứ khác, những thẩm phán MAGA này đang làm theo lệnh của các nhóm lợi ích đặc biệt muốn tước đoạt các quyền tự do cơ bản của chúng ta. Đất nước chúng ta được xây dựng trên nguyên tắc kiểm soát và cân bằng, và đã đến lúc khôi phục lại sự cân bằng đó bằng cách đặt ra một sự kiểm soát cần thiết đối với hệ thống tư pháp liên bang.”

Như vậy, có vẻ như giải pháp để mang lại sự “cân bằng” là bổ sung thêm những người theo chủ nghĩa tự do, những người sẽ ủng hộ phá thai và chấp nhận những nguy hiểm của cái gọi là “khủng hoảng khí hậu”. May mắn thay, dự luật của Wyden đã thất bại, nhưng trong một thế giới không có filibuster, nơi chỉ cần đa số đơn giản thay vì 60 phiếu tại Thượng viện, việc mở rộng Tòa án Tối cao chắc chắn sẽ được thông qua, với nhiều người trong giới truyền thông truyền thống hoan nghênh điều đó.

Trên một phương diện khác, hai tiểu bang sẽ được thêm vào, và chúng sẽ vẫn nghiêng về đảng Dân chủ như bất kỳ tiểu bang nào hiện có trong cả nước. Washington, DC, sẽ trở thành một tiểu bang, cũng như Puerto Rico. Và với việc bổ sung bốn thượng nghị sĩ đảng Dân chủ vào Thượng viện, việc giành được đa số đảng Cộng hòa sẽ rất khó khăn.

“Họ sẽ phải đơn phương sáp nhập Puerto Rico và Đặc khu Columbia vào liên bang,” cựu chiến lược gia trưởng của Clinton, James Carville, lập luận trên podcast của mình tuần này. “Nếu muốn cứu nền dân chủ, bạn phải làm những điều này.”

"Cứu lấy nền dân chủ" dường như đồng nghĩa với việc nghiêng cán cân về phía chế độ độc đảng.  

Carville cũng lưu ý rằng sẽ không khôn ngoan nếu đảng Dân chủ bàn về việc sáp nhập thêm hai tiểu bang trong chiến dịch tranh cử, mà những nỗ lực như vậy liên quan đến việc sáp nhập Washington D.C. và Puerto Rico nên được thực hiện vào “Day 1” sau khi nhậm chức thành công. 

Có lẽ điều đáng lo ngại nhất là, nếu đảng Dân chủ giành chiến thắng áp đảo, họ cũng sẽ cố gắng loại bỏ hệ thống Đại cử tri đoàn khỏi lịch sử nhằm mục đích "khôi phục nền dân chủ". 

Thượng nghị sĩ Peter Welch (Đảng Dân chủ Vermont) lập luận khi công bố một sửa đổi hiến pháp nhằm chấm dứt hệ thống Cử tri đoàn vào năm 2024: “Nền dân chủ của chúng ta mạnh mẽ nhất khi tiếng nói của mọi người đều được lắng nghe - và hiện nay các cuộc bầu cử của chúng ta không mang tính đại diện như lẽ ra phải vậy vì hệ thống Cử tri đoàn đã lỗi thời và có nhiều thiếu sót” . 

Dĩ nhiên, những lập luận yếu kém này hoàn toàn trái ngược với mục đích cốt lõi của những người sáng lập khi tạo ra hệ thống Đại cử tri đoàn: để trao tiếng nói cho cử tri ở các tiểu bang nhỏ hơn. Theo một hệ thống chỉ dựa trên phiếu phổ thông, không ứng cử viên tổng thống nào sẽ đặt chân đến các tiểu bang như Iowa, New Hampshire hay South Carolina nữa. Các cuộc mít tinh sẽ chỉ được tổ chức ở các trung tâm dân cư lớn như New York, Los Angeles, Chicago và Houston. Theo hệ thống Đại cử tri đoàn, các ứng cử viên được khuyến khích xây dựng các liên minh đa dạng trên nhiều khu vực khác nhau. Và một hệ thống bỏ phiếu phi tập trung ít có khả năng bị các thế lực nước ngoài hoặc trong nước can thiệp hơn. 

“Luôn cần nhắc nhở mọi người: Việc đảng Dân chủ giành chiến thắng ở các tiểu bang tranh chấp thực sự rất khó khăn, OK?” David Plouffe, cố vấn cấp cao cho chiến dịch tranh cử tổng thống thất bại của Kamala Harris, cho biết. 

Vậy nên khi chúng ta nghe nói về việc cứu vãn nền dân chủ, thực chất là đang cứu vãn những người thuộc đảng Dân chủ. Họ biết rằng chúng ta sẽ không có Tổng thống George W. Bush nếu không có Cử tri đoàn sau cuộc bầu cử năm 2000, và sẽ không có Trump từ năm 2017-2021. Hãy thay đổi những quy tắc đã tồn tại hơn hai thế kỷ, thay đổi tiến trình lịch sử trong tương lai. 

Không có Manchin hay Sinema để ngăn chặn đa số đơn giản thực hiện những thay đổi mạnh mẽ trong một thế giới không có filibuster, đảng Dân chủ đã cho thấy họ sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để đảm bảo đảng Cộng hòa không còn được đại diện nữa. 

Hãy nhìn vào Virginia, nơi Thống đốc Abigail Spanberger (Đảng Dân chủ) hứa sẽ không vẽ lại bản đồ khu vực bầu cử trong tiểu bang, nhưng lại làm chính xác điều đó không lâu sau khi nhậm chức. Kết quả tiềm tàng là, tại một tiểu bang mà Kamala Harris thắng với cách biệt chưa đến sáu điểm, Virginia sẽ từ chỗ có sáu đảng viên Dân chủ và năm đảng viên Cộng hòa trong Quốc hội trở thành mười đảng viên Dân chủ và chỉ một đảng viên Cộng hòa. 

Thời đại của sự thỏa hiệp đã qua lâu rồi, cũng như thời đại của sự lịch sự và tôn trọng ý định của những người sáng lập. Cuộc tranh giành quyền lực đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta. Đảng Dân chủ có cơ hội khá tốt để kiểm soát mọi thứ một lần nữa vào năm 2029. 

Và lần này, họ sẽ không dừng lại cho đến khi sự kiểm soát đó trở thành một phần cố định vĩnh viễn dưới danh nghĩa "cứu lấy nền dân chủ". 

https://www.washingtonexaminer.com/in_focus/4516290/america-democrats-retake-power-it-aint-pretty/

NVV

 

 2026-03-29  

Đảng Dân chủ muốn nói gì khi dùng từ "nền dân chủ"?  
Họ cho rằng Trump là một nhà độc tài, nhưng dường như mục tiêu của họ là đảm bảo sự cai trị của một đảng duy nhất.


(Bruce Gilley, WSJ, 29/3/2026)

Một tạp chí có tên Liberal Currents gần đây đã mời tôi đóng góp vào một hội thảo học thuật về điều mà chủ bút Adam Gurri mô tả là “làm thế nào chúng ta có thể chuyển sang một chế độ dân chủ mới, ổn định sau thời Trump”. Ông đặc biệt quan tâm đến “mô hình trách nhiệm giải trình nào nên được theo đuổi, đặc biệt nếu nó phải được thực hiện trên cơ sở đảng phái bởi một tam đầu chế (trifecta) đảng Dân chủ”. Tôi không đồng ý với tiền đề của hội thảo và đã từ chối.

Ý tưởng “khôi phục nền dân chủ” sau thời Donald Trump đang lan rộng trong giới tả. Khi chúng ta nhận ra ý nghĩa của điều này, nó sẽ thúc đẩy những người trung thành với Hiến pháp của chúng ta củng cố các biện pháp phòng thủ chống lại.

Trước hết, một số bối cảnh trong khái niệm. Các quốc gia chuyển từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ được cho là đang trong “quá trình chuyển đổi sang dân chủ”. Các học giả đã dành sự chú ý đáng kể cho các câu hỏi về khi nào, như thế nào và tại sao những quá trình chuyển đổi này xảy ra. Một phát hiện chung là trong khi sự yếu kém về cấu trúc trong các thể chế độc tài có thể góp phần vào quá trình chuyển đổi dân chủ, thì điều đó là không đủ. Quá trình chuyển đổi dân chủ xảy ra khi các cá nhân tách khỏi giới tinh hoa cầm quyền và thành lập một phe cải cách.

Các quốc gia đi theo hướng ngược lại, từ dân chủ sang chuyên chế, được cho là đang trải qua “sự thoái trào dân chủ”. Một phát hiện quan trọng ở đây là quá trình này khác nhau. Sự yếu kém về cấu trúc trong các thể chế dân chủ thường đủ để phá hủy nền dân chủ. Các nhà độc tài chỉ cần bước vào và nắm quyền.

Kế hoạch “khôi phục nền dân chủ” của Đảng Dân chủ sau thời ông Trump giả định rằng những năm cầm quyền của ông Trump đại diện cho sự thoái trào dân chủ. Luận điểm này rất yếu. Ba học giả nổi tiếng đã viết trên tạp chí Foreign Affairs vào tháng Giêng rằng Hoa Kỳ đã trở thành một chế độ chuyên chế. Phần lớn bằng chứng mà họ trích dẫn — như việc bổ nhiệm “những người trung thành” — bao gồm việc tổng thống thực thi quyền lực được thiết lập hợp pháp của mình. Phần lớn trong số đó — như việc điều tra các đối thủ của ông Trump — là sự trả đũa cho các hoạt động tương tự của đảng Dân chủ trước cuộc bầu cử của ông Trump.

Quan trọng hơn, nếu chiến thắng của ông Trump năm 2016 đại diện cho sự thoái trào dân chủ, thì theo mô hình tiêu chuẩn, hẳn đã có những điểm yếu về cấu trúc trong các thể chế của Mỹ từ trước đó. Tuy nhiên, đảng Dân chủ không hề đề cập đến sự suy thoái của các thể chế dân chủ trong nhiệm kỳ thứ hai của Obama hay chính quyền Biden. Họ chỉ nói về mối đe dọa từ ông Trump. Việc tuyên bố khủng hoảng dân chủ chỉ có sau khi thua cuộc bầu cử là không thuyết phục.

Việc nói về “quá trình chuyển đổi sang dân chủ” càng làm suy yếu luận điểm về sự thụt lùi dân chủ. Một quá trình chuyển đổi như vậy sẽ đòi hỏi một phe cải cách trong chính quyền chuyên chế của Trump phải nổi lên để lật đổ nó. Tuy nhiên, không ai trong đảng Dân chủ tham gia đàm phán, ngay cả với những người Cộng hòa bất mãn như Liz Cheney hay con cháu nhà Bush. Việc họ tiếp tục hoạt động trong khuôn khổ chính trị đảng phái truyền thống cho thấy họ thực sự không tin vào tiền đề của mình.

Điều này dẫn đến một kết luận đáng lo ngại: Điều mà đảng Dân chủ và các nhà hoạt động cánh tả muốn nói đến khi nhắc đến “quá trình chuyển đổi sang dân chủ” là sự chuyển đổi sang sự cai trị vĩnh viễn của đảng Dân chủ.

Đây là lúc mọi chuyện trở nên đáng sợ. Quay trở lại với bằng chứng lịch sử, sự suy yếu của các thể chế chính trị và kinh tế thường là đủ để điều ác được thực hiện. Việc ai nắm bắt cơ hội – một người cấp tiến như Alexandria Ocasio-Cortez hay một nhà kỹ trị như Rahm Emanuel – sẽ không quan trọng lắm. Nền tảng đã được đặt ra thông qua các cuộc tấn công liên tục vào nền tảng dân chủ mà chính quyền Trump hoặc đã làm trầm trọng thêm hoặc không thể đẩy lùi.

Chúng ta đã chứng kiến ​​ít nhất năm cuộc tấn công như vậy kể từ năm 2016. Quan trọng nhất là việc phủ nhận tính hợp pháp của ông Trump. Năm 2019, Hillary Clinton mô tả ông Trump là một tổng thống bất hợp pháp “biết” rằng ông ta đã đánh cắp cuộc bầu cử năm 2016. Ông Trump đã đáp trả tương tự, phủ nhận chiến thắng hợp pháp của Joe Biden năm 2020.

Cuộc tấn công thứ hai là việc vũ khí hóa hệ thống pháp luật để tấn công phe đối lập, điều này thể hiện rõ ràng qua các vụ kiện pháp lý sai trái được khởi xướng chống lại ông Trump và những người ủng hộ ông chỉ sau khi ông thắng cử năm 2016 và sau khi ông tuyên bố kế hoạch tranh cử năm 2024. Việc ông trả đũa bằng cách truy đuổi các đối thủ chính trị không có gì đáng ngạc nhiên. Đúng là ông Trump đã đẩy mạnh lời lẽ kích động vào năm 2016, khi ông dẫn dắt những người ủng hộ hô vang khẩu hiệu “Lock her up!”. Nhưng ông đã không thực hiện lời đe dọa đó trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình.

Thứ ba là một cuộc tấn công trắng trợn vào các định chế dân chủ khác, đáng chú ý nhất là việc phe cánh tả nhắm vào các thành viên bảo thủ của Tòa án Tối cao. Năm 2020, khi các thẩm phán xem xét một vụ án về phá thai, Lãnh đạo phe thiểu số tại Thượng viện Chuck Schumer đã đứng bên ngoài tòa án và tuyên bố: “Tôi muốn nói với ông, Gorsuch, tôi muốn nói với ông, Kavanaugh, các ông đã gieo gió và các ông sẽ phải trả bão. Các ông sẽ không biết điều gì đang xảy ra nếu các ông tiếp tục đưa ra những quyết định tồi tệ này.” Hai năm sau, một người đàn ông bị rối loạn tâm thần đã cố gắng ám sát Thẩm phán Brett Kavanaugh.

Cuộc tấn công này cũng thể hiện rõ trong việc các tiểu bang lớn do Đảng Dân chủ kiểm soát như Massachusetts, Virginia và California mở rộng hình thức bỏ phiếu qua thư dễ bị thao túng. Việc bỏ phiếu của người không phải công dân, được khuyến khích bởi chính sách biên giới mở của chính quyền Biden, đại diện cho cuộc tấn công nghiêm trọng nhất vào nền dân chủ vì mỗi lá phiếu do người nước ngoài bỏ ra sẽ vô hiệu hóa lá phiếu của một công dân Mỹ.

Thứ tư là sự huy động "nhà nước ngầm" để làm suy yếu đảng cầm quyền, thể hiện rõ trong vụ luận tội Trump năm 2019 dựa trên lời tố cáo thiếu căn cứ của một người trong cộng đồng tình báo, và năm ngoái là vụ rò rỉ đánh giá sơ bộ của Cơ quan Tình báo Quốc phòng cho rằng các cuộc tấn công vào các cơ sở hạt nhân của Iran đã không thành công.

Cuộc tấn công cuối cùng là việc sử dụng huy động quần chúng chống lại chính phủ dân chủ, đáng chú ý là các cuộc chiếm đóng của Women’s March tại Điện Capitol và Thượng viện vào tháng 6 và tháng 10 năm 2018, và cuộc nổi dậy kéo dài nhiều tháng của Black Lives Matter chống lại cảnh sát và tòa án địa phương trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump, và sau đó là nỗ lực đa thành phố nhằm cản trở việc thực thi luật nhập cư trong nhiệm kỳ thứ hai. Cuộc tấn công khủng khiếp nhất vào chính phủ dân chủ, cuộc bạo loạn ngày 6 tháng 1 năm 2021, được hiểu rõ nhất như một cuộc phản công chống lại việc phe tả liên tục sử dụng bạo lực đám đông.

Nhìn theo góc độ này, kế hoạch của đảng Dân chủ về một "quá trình chuyển đổi sang dân chủ" sau năm 2028 trông giống như một quá trình chuyển đổi sang chế độ độc tài hơn.

Các chi tiết đã quá rõ ràng dựa trên những mục tiêu đã được công bố của nhiều ứng cử viên và chiến lược gia thuộc đảng Dân chủ: mở rộng Tòa án Tối cao để áp đặt đa số cánh tả, tước bỏ quyền của các tiểu bang trong việc vạch ra ranh giới bầu cử và yêu cầu người dân trực tiếp bỏ phiếu, tiến hành các vụ kiện trả thù chống lại bất kỳ ai có liên quan đến chính quyền Trump, ân xá – và do đó là quyền bầu cử – cho hàng triệu người nhập cư bất hợp pháp.

Đã đến lúc những người yêu tự do phải đối mặt với một sự thật phũ phàng: Đất nước này vẫn là một nền dân chủ chỉ vì nó đã chống chọi được các cuộc tấn công từ cánh tả rồi đến cánh hữu kể từ năm 2016. Vòng tiếp theo có thể sẽ không kết thúc tốt đẹp như vậy.

https://www.wsj.com/opinion/what-do-democrats-mean-by-democracy-1b3fd663?st=yik8zW

Ông Gilley là giáo sư khoa học chính trị tại Portland State University, học giả về tổng thống tại Đại học New College of Florida, và là tác giả của cuốn sách “he Case for Colonialism”.


NVV


 

 2026-03-27  

Cả thế giới cười nhạo những tuyên bố vớ vẩn của đảng Dân chủ về việc xác minh danh tính cử tri.

(John R. Lott Jr., NY Post, 27/3/2026)

Các thượng nghị sĩ đảng Dân chủ đang kịch liệt phản đối Đạo luật SAVE, lập luận rằng việc yêu cầu người Mỹ phải chứng minh danh tính bằng giấy tờ tùy thân có ảnh khi đi bỏ phiếu — ngay cả khi giấy tờ tùy thân đó được cấp miễn phí — sẽ ngăn cản những cử tri đủ điều kiện bỏ phiếu.

Họ cho rằng việc chứng minh quốc tịch sẽ khiến việc bỏ phiếu trở nên khó khăn hơn đối với hàng triệu người không dễ dàng có được giấy khai sinh hoặc hộ chiếu, điều này được cho là tước đoạt quyền bầu cử của người Mỹ gốc Phi và gốc Tây Ban Nha. 

Tuy nhiên, các nền dân chủ trên toàn cầu, cả ở phương Tây giàu có và ở các nước đang phát triển, đều áp dụng những quy tắc tương tự.

Ví dụ, mọi quốc gia ở châu Phi đều yêu cầu giấy tờ tùy thân do chính phủ cấp để bỏ phiếu, và 51 trong số 54 quốc gia châu Phi yêu cầu những người muốn bỏ phiếu phải chủ động nộp bằng chứng quốc tịch để đăng ký.

Mexico và tất cả 12 quốc gia Nam Mỹ đều yêu cầu giấy tờ tùy thân có ảnh do chính phủ cấp để bỏ phiếu và xác minh quốc tịch của mỗi cử tri đã đăng ký.

Các quy định của Mexico, tương tự như những quy định được đề xuất trong Đạo luật SAVE, yêu cầu cử tri phải chứng minh quốc tịch của mình bằng giấy khai sinh bản gốc do cơ quan đăng ký dân sự cấp, giấy chứng nhận nhập tịch hoặc hộ chiếu Mexico.  

Nước láng giềng phía nam của chúng ta thậm chí còn yêu cầu dấu vân tay khi bỏ phiếu để ngăn chặn việc bỏ phiếu hai lần.

Tất cả 47 quốc gia châu Âu đều yêu cầu giấy tờ tùy thân có ảnh do chính phủ cấp khi đi bỏ phiếu.

Hầu hết các cơ quan này đều kiểm tra quốc tịch của cử tri dựa trên cơ sở dữ liệu quốc gia, mặc dù Pháp yêu cầu họ nộp thêm giấy tờ chứng minh — và Vương quốc Anh, Síp và Ireland có quyền yêu cầu giấy tờ khi nghi ngờ về quốc tịch.

Tại sao lại cần an ninh nghiêm ngặt như vậy? Để chống lại gian lận bầu cử trên diện rộng.

Mexico đã ban hành những cải cách lớn vào năm 1991 sau khi gian lận bầu cử trở nên phổ biến ở nước này.

Chính phủ yêu cầu cử tri phải có thẻ căn cước sinh trắc học kèm ảnh, cấm bỏ phiếu vắng mặt và bắt buộc đăng ký trực tiếp.

Và bất chấp các quy định chặt chẽ hơn, tỷ lệ cử tri đi bầu vẫn tăng lên.

Trong ba cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo, tỷ lệ tham gia trung bình đạt 68% số cử tri đủ điều kiện, tăng từ 59% trong ba cuộc bầu cử trước đó.

Khi niềm tin vào hệ thống tăng lên, tỷ lệ tham gia cũng tăng theo.

Tương tự, ở Bắc Ireland, hàng thập kỷ xung đột giáo phái gay gắt đã thúc đẩy các chiến thuật bầu cử hung hăng, và các nhà quan sát mô tả gian lận bầu cử là "lan rộng và có hệ thống".

Cả chính phủ Bảo thủ và chính phủ Lao động đều đã hành động.

Năm 1985, dưới thời Thủ tướng Margaret Thatcher, Vương quốc Anh bắt đầu yêu cầu cử tri xuất trình giấy tờ tùy thân tại các điểm bỏ phiếu, nhưng điều đó không giải quyết được vấn đề: Các nhà điều tra phát hiện ra rằng các cá nhân có thể dễ dàng làm giả thẻ y tế - loại giấy tờ tùy thân được chấp nhận - hoặc có được chúng một cách gian lận để bỏ phiếu bất hợp pháp.

Các chỉ huy IRA ở Belfast sau đó đã thừa nhận các vụ lừa đảo phức tạp, trong đó các tình nguyện viên cải trang — đội tóc giả, mặc quần áo khác nhau, đeo kính — để bỏ phiếu nhiều lần, và điều hành taxi để vận chuyển những cử tri gian lận giữa các điểm bỏ phiếu.

Đến năm 2002, một cuộc khảo sát của Ủy ban Bầu cử Anh cho thấy 64% cử tri tin rằng gian lận ở một số khu vực đủ nghiêm trọng để làm thay đổi kết quả bầu cử. Chỉ có 10% không đồng ý.

Năm đó, chính phủ Lao động đã tăng cường các yêu cầu về giấy tờ tùy thân, đưa ra các loại giấy tờ khó làm giả hơn và thực hiện các quy định để ngăn chặn việc đăng ký nhiều lần — và niềm tin của cử tri đã tăng lên.

Dân biểu Henry Cuellar (Đảng Dân chủ - Texas), người duy nhất trong Hạ viện thuộc đảng Dân chủ ủng hộ Đạo luật SAVE, cho biết ông làm vậy "vì tôi tin vào một nguyên tắc cơ bản: Công dân Mỹ nên quyết định các cuộc bầu cử ở Mỹ."

Hiện tại, bảy tiểu bang đã yêu cầu bằng chứng quốc tịch, chẳng hạn như giấy khai sinh, hộ chiếu, giấy tờ chứng minh thuộc bộ lạc hoặc giấy tờ nhập tịch, để đăng ký bỏ phiếu — tương tự như các quy định được đề xuất trong Đạo luật SAVE.

Và các cuộc thăm dò cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ đối với các yêu cầu về giấy tờ tùy thân khi bỏ phiếu trong số tất cả cử tri, cả đảng viên Dân chủ (71%) và đảng viên Cộng hòa (95%).

Mặc dù các đảng viên Dân chủ như Lãnh đạo phe thiểu số Thượng viện Chuck Schumer (D-NY) lên án dự luật này bằng cách tuyên bố nó "sẽ áp đặt những hạn chế kiểu Jim Crow đối với việc bỏ phiếu", nhưng cử tri thiểu số dường như không thấy bất kỳ mối nguy hiểm nào: Phần lớn người Mỹ gốc Phi (76%) và người Mỹ gốc Tây Ban Nha (82%) ủng hộ việc xác minh danh tính cử tri.

"Tóm lại là thế này: Việc xác minh danh tính cử tri không gây tranh cãi ở quốc gia này," nhà phân tích dữ liệu trưởng của CNN, Harry Enten, gần đây đã nhận xét.

Điều này cũng hầu như không gây tranh cãi ở bất cứ nơi nào khác.

Tuy nhiên, bất chấp sở thích của cử tri, chỉ có một thành viên Hạ viện thuộc đảng Dân chủ và một ứng cử viên Thượng viện tiềm năng thuộc đảng Dân chủ, ông John Fetterman của Pennsylvania, ủng hộ Đạo luật SAVE.

Trừ khi có thêm bảy trong số 47 thượng nghị sĩ đảng Dân chủ lên tiếng, nếu không thì hành động trì hoãn của họ sẽ khiến dự luật bị bác bỏ.

Nhưng nếu việc xác minh danh tính cử tri và bằng chứng quốc tịch phá hủy nền dân chủ, thì đảng Dân chủ sẽ phải coi hầu hết các nền dân chủ khác trên thế giới là phi dân chủ.

https://nypost.com/2026/03/27/opinion/democrats-lame-voter-id-claims-fail-against-global-reality/
 

NVV

 

 2026-03-12  

Tinh thần đảng phái trong vấn đề Iran rất nguy hiểm cho nước Mỹ.  
Ông Trump đang làm điều đúng đắn cho nước Mỹ, và chúng ta, những người thuộc đảng Dân chủ, nên đánh giá cuộc chiến dựa trên những lợi ích thực tế.


(David Boies, WSJ, 12/3/2026)

Mọi tổng thống tiền nhiệm kể từ Bill Clinton, cả đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ, đều tuyên bố rằng không thể cho phép Iran phát triển vũ khí hạt nhân. Nhưng không ai hành động để ngăn chặn điều đó. Mọi tổng thống kể từ Ronald Reagan đều lên án vai trò của Iran trong các hoạt động khủng bố chống lại công dân, lợi ích và đồng minh của Mỹ. Nhưng không ai hành động để ngăn chặn điều đó. Thay vào đó, mỗi tổng thống đều để lại cho người kế nhiệm một Iran nguy hiểm hơn và một mối đe dọa phức tạp hơn cần giải quyết.

Tháng Sáu năm ngoái, Tổng thống Trump đã tiến hành một chiến dịch quân sự hạn chế nhằm làm gián đoạn quá trình phát triển vũ khí hạt nhân của Iran và ngăn cản nước này tiếp tục chương trình hạt nhân của mình. Trước việc Iran từ chối từ bỏ vũ khí hạt nhân và bằng chứng cho thấy nước này đang nhanh chóng gia tăng số lượng, độ tinh vi và tầm bắn của tên lửa, ông Trump đã bắt đầu chiến dịch quân sự hiện tại.

Nếu ông ấy không hành động, người kế nhiệm sẽ phải đối mặt với một lựa chọn nguy hiểm hơn nhiều so với những người tiền nhiệm. Ba hoặc bốn năm nữa, những tên lửa của Iran hiện đang nhắm vào các nước láng giềng có thể sẽ nhắm vào Berlin hoặc London, thậm chí là New York hoặc Washington — có thể kèm theo một thiết bị hạt nhân hoặc ít nhất là một quả bom bẩn.

Không một người tỉnh táo nào muốn chiến tranh, đặc biệt là tổng thống. Chiến tranh tàn phá sinh mạng, lãng phí của cải và thường không được lòng dân. Nhưng sự phản đối rộng rãi đối với hành động quân sự này dường như không gắn liền với bất kỳ cuộc thảo luận nghiêm túc nào về giá trị của nó. Vậy giải pháp thay thế là gì?

Rõ ràng, ít người sẵn sàng nói rằng đó chỉ đơn giản là cho phép những kẻ cuồng tín tôn giáo thề "cái chết cho nước Mỹ" và củng cố lời đe dọa của chúng bằng khủng bố có được vũ khí hạt nhân và khả năng vận chuyển chúng. Phạm vi và quy mô phản ứng của Iran cho thấy khả năng quân sự của nước này đã tiến bộ đến mức nào, và sẽ nguy hiểm ra sao nếu cho phép chúng tiếp tục gia tăng.

Trong ba thập kỷ qua, chúng ta đã thử mọi thứ mà mỗi tổng thống có thể nghĩ ra. Chúng ta đã thử tỏ ra tử tế, nói cứng rắn, thuyết phục bằng đạo đức, thỏa thuận đàm phán, trừng phạt kinh tế. Không có gì hiệu quả. Vấn đề là các nhà lãnh đạo Iran chỉ hiểu một ngôn ngữ duy nhất.

Tôi hiểu một phần sự thù địch đối với hành động của ông Trump. Phe theo chủ nghĩa biệt lập của Đảng Cộng hòa và phe theo chủ nghĩa hòa bình của Đảng Dân chủ đều đang chìm đắm trong ảo tưởng rằng chúng ta có thể bỏ qua khả năng và ý định của kẻ thù vì chúng ở cách xa hàng nghìn dặm. Hai trăm năm trước, quan điểm đó có thể tin được. Một trăm năm trước, nó có vẻ hợp lý. Ngày nay, chỉ cần một tên lửa mang bom hạt nhân hoặc bom bẩn vượt qua hệ thống phòng thủ của chúng ta, hoặc một thiết bị như vậy được buôn lậu vào nước này, cũng đủ để tàn phá một thành phố.

Tôi cũng hiểu – và lên án – những thành phần cực đoan của cả hai đảng dường như căm ghét Israel và người Do Thái đến mức họ phản đối bất kỳ hành động nào nhằm vô hiệu hóa kẻ thù của Israel.

Điều khó hiểu hơn, và đặc biệt đáng lo ngại đối với đất nước chúng ta, là sự phản đối bắt nguồn đơn giản từ sự ác cảm đối với chính ông Trump. Chúng ta từng nói rằng chính trị dừng lại ở biên giới quốc gia. Điều đó chưa bao giờ hoàn toàn đúng; Việc sẵn sàng chỉ trích gay gắt tổng thống về chính sách đối ngoại để đạt được lợi ích chính trị trong nước đã có từ thời Phó Tổng thống Thomas Jefferson tấn công Tổng thống John Adams. Tuy nhiên, trong phần lớn lịch sử, chúng ta vẫn dành cho tổng thống sự khoan dung.

Quan trọng hơn, những lời chỉ trích trong lịch sử thường dựa trên sự khác biệt về chính sách đối với hành động quân sự đang diễn ra, chứ không phải là sự phản đối mù quáng đối với chính tổng thống. Nhiều đảng viên Cộng hòa ủng hộ các hành động quân sự của ông Clinton và chiến dịch tăng cường quân sự của Tổng thống Obama ở Afghanistan; nhiều đảng viên Dân chủ ủng hộ các hành động của Tổng thống George W. Bush ở Afghanistan và (ít nhất là ban đầu) Iraq. Có lẽ số đảng viên Cộng hòa ủng hộ các hành động của Tổng thống Lyndon B. Johnson ở Việt Nam còn nhiều hơn đảng viên Dân chủ.

Quan trọng hơn nữa, ngay cả khi chúng ta tin rằng hành động của một tổng thống là sai lầm, chúng ta hầu như luôn muốn ông ta thành công nếu có thể. Một số nỗ lực nhằm hạn chế những gì tổng thống đang làm ở Iran dường như chỉ đơn giản xuất phát từ mong muốn không để ông ta giành chiến thắng — ngay cả khi điều đó có nghĩa là một thất bại cho nước Mỹ.

Khi Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc, Tổng thống Harry S. Truman đã hành động để ngăn chặn điều đó. Chính sách đó quá không được lòng dân đến nỗi Truman đã không tranh cử nhiệm kỳ thứ hai vào năm 1952. Dwight Eisenhower được bầu làm tổng thống với lời hứa sẽ đưa quân đến Hàn Quốc và chấm dứt chiến tranh. Nhưng trong thời gian Truman làm tổng thống, các nhà lập pháp thuộc cả hai phe đều ủng hộ ông, ngay cả khi ông cách chức vị tướng được lòng dân Douglas MacArthur.

Việc Truman bảo vệ thành công Hàn Quốc đã khởi đầu nỗ lực lưỡng đảng kéo dài bốn thập kỷ nhằm kiềm chế, và cuối cùng là chấm dứt, chủ nghĩa cộng sản như một mối đe dọa toàn cầu. Người ta tự hỏi kết quả sẽ ra sao nếu ông phải đối mặt với một đất nước chia rẽ và bè phái như ngày nay.

Đảng Cộng hòa, bao gồm cả ông Trump, phải chịu một phần trách nhiệm về sự chia rẽ và bè phái cực đoan đã kìm hãm khả năng hợp tác và làm việc cùng nhau của chúng ta. Những người trong chúng ta nói chung phản đối ông Trump nhưng nhận ra mối đe dọa mà Iran gây ra cần phải ủng hộ hành động quân sự không phải vì chúng ta nợ ông Trump điều gì đó mà vì chúng ta nợ chính mình, đất nước và con cái chúng ta.

Nếu chúng ta phản đối chiến tranh và thành công trong việc gây áp lực buộc ông Trump phải rút ngắn cuộc chiến trước khi hoàn thành, chúng ta sẽ có được sự thỏa mãn khi đánh bại một người mà chúng ta thường phản đối, điều này có thể giúp ích cho chúng ta về mặt chính trị. Nhưng nước Mỹ sẽ tồi tệ hơn vì điều đó.

An ninh quốc gia của Mỹ quá quan trọng để bị biến thành con tin của chủ nghĩa đảng phái. Chúng ta, những người Dân chủ, cần bắt đầu bằng việc tự hỏi lập trường của chúng ta sẽ như thế nào, và tại sao, nếu hành động đó được thực hiện bởi ông Clinton, ông Obama hoặc ông Biden. Tôi không trông chờ vào điều đó, nhưng có lẽ vào năm 2029, khi một người Dân chủ ở Tòa Bạch Ốc, những người hàng xóm Cộng hòa của chúng ta sẽ đáp lại thiện chí đó, và đánh giá những nỗ lực của vị tổng thống đó trong việc giữ an ninh cho quốc gia chúng ta dựa trên thực tế chứ không chỉ đơn thuần là cản trở.

Nếu chúng ta tin rằng Iran là một mối đe dọa nghiêm trọng, chúng ta cần ủng hộ tổng thống về vấn đề này. Có nhiều điều để bất đồng với ông ấy, và chúng ta không cần phải thích hay ngưỡng mộ ông ấy. Nhưng về vấn đề Iran, chúng ta nên có tiếng nói chung. Không phải chủ yếu vì chúng ta muốn giảm bớt sự chia rẽ đảng phái trong các vấn đề đối ngoại – mặc dù điều đó là hoàn toàn có thể. Không phải vì cử tri sẽ ủng hộ chúng ta nếu có phản ứng ôn hòa hơn – mặc dù tôi hy vọng là vậy. Mà bởi vì đó là điều đúng đắn cần làm cho đất nước chúng ta, con cái chúng ta và người thuộc đảng Dân chủ sẽ kế nhiệm ông Trump làm tổng thống.

https://www.wsj.com/opinion/partisanship-on-iran-is-dangerous-for-america-c8b69387?st=aHiBYD
 

NVV

 

 2026-03-09  

Đảng mà đảng Dân chủ muốn và đảng mà đảng Dân chủ đang có

(Jesse Arm, City Journal, 9/3/2026)

Kết quả thăm dò mới của Viện Manhattan cho thấy cử tri Dân chủ muốn một đảng bình thường hơn. Tuy nhiên, các thế lực đang thống trị phe tả khiến điều đó khó có thể xảy ra.

Thống đốc California Gavin Newsom trong một lần xuất hiện trên CNN gần đây đã gợi ý rằng để giành chiến thắng một lần nữa, đảng Dân chủ cần trở nên “bình thường hơn về mặt văn hóa”. Đáp lại quan điểm hiển nhiên này, các nhà bình luận cực tả đã cáo buộc Newsom phản bội các giá trị của đảng và nhường bước về mặt đạo đức cho phe cánh hữu.

Phản ứng dữ dội đó là điều có thể dự đoán được — và, nếu nhìn vào số liệu về những người thuộc đảng Dân chủ, thì thật vô lý. Hầu hết cử tri đảng Dân chủ không phải là người cực đoan. Nhưng đảng này lại do những người cực đoan điều hành, và họ đã xây dựng các thể chế để đảm bảo rằng sở thích của họ được ưu tiên.

Một cuộc khảo sát mới của Viện Manhattan với gần 2.600 cử tri Đảng Dân chủ và những người ủng hộ Kamala Harris năm 2024 đã cung cấp cái nhìn chi tiết nhất về sự khác biệt này. Trái ngược với giả định phổ biến, cơ sở cử tri của Đảng Dân chủ không phải là một liên minh méo mó gồm những nhà cách mạng xã hội chủ nghĩa và những người theo chủ nghĩa cực đoan cấp tiến. Những nhà hoạt động đó có mặt, nhưng họ chỉ là thiểu số — và không phải là một nhóm lớn.

Trong cuộc khảo sát, phần lớn người được hỏi (38%) cho rằng đảng của họ nên hướng tới trung tâm tư tưởng. Chỉ có 22% ủng hộ việc chuyển sang cánh tả. Các cử tri đảng Dân chủ cũng cho rằng, với tỷ lệ hơn 2/1, các nhà lãnh đạo đảng tương lai nên ưu tiên việc điều hành đất nước hiệu quả hơn là chống lại Donald Trump và đảng Cộng hòa.

Nói cách khác, cử tri trung bình của đảng Dân chủ không yêu cầu một phiên bản cực tả hơn của đảng. Họ muốn một điều gì đó gần gũi hơn với sự ôn hòa của Bill Clinton hoặc chính sách mà Newsom hiện đang cố gắng ủng hộ một cách thiếu thuyết phục .

Phân tích dữ liệu cho thấy liên minh Dân chủ có thể được chia thành ba khối riêng biệt. Phe ôn hòa — những cử tri tự nhận mình là đảng viên Dân chủ ôn hòa, cử tri độc lập hoặc đảng viên Cộng hòa chống Trump — chiếm 47%. Họ đa dạng về nhân khẩu học, trung bình lớn tuổi hơn và có xu hướng bỏ phiếu linh hoạt nhất — chỉ có 45% cho biết họ chưa bao giờ bỏ phiếu cho ứng cử viên tổng thống không thuộc đảng Dân chủ.

Khối thứ hai, Đảng Tự do Tiến bộ, chiếm 37%. Họ có khuynh hướng thiên tả rõ rệt, tỷ lệ người da trắng cao hơn các khối khác, và tập trung nhiều ở vùng ngoại ô và bờ biển phía Tây.

Cuối cùng là nhóm cực đoan "Woke Fringe" - những cử tri tự nhận mình là những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ hoặc cộng sản. Nhóm này chỉ chiếm 11% tổng số cử tri. "Woke Fringe" là nhóm trẻ nhất trong ba nhóm, có nhiều khả năng tin vào thuyết âm mưu nhất, có nhiều khả năng báo cáo về sức khỏe tâm thần kém nhất, và - không phải ngẫu nhiên - có nhiều khả năng dành quá nhiều thời gian trên internet nhất. Đáng chú ý, các nghiên cứu định lượng và định tính trước đây của Viện Manhattan về liên minh đảng Cộng hòa cho thấy rằng những người Cộng hòa trẻ nhất và dành nhiều thời gian nhất trên mạng cũng có xu hướng cực đoan về mặt tư tưởng nhất.

Như sự phân bố này cho thấy, kết quả thăm dò của chúng tôi tiết lộ rằng quan điểm ôn hòa phổ biến hơn nhiều người tưởng. Lấy ví dụ về vấn đề nhập cư: trong cuộc thăm dò của chúng tôi, chỉ khoảng một phần mười cử tri Đảng Dân chủ thực sự ủng hộ chính sách mở cửa biên giới. Chưa đến một phần tư muốn tăng mức độ nhập cư hợp pháp. Đa số ủng hộ việc chuyển đổi hệ thống sang hình thức nhập cư dựa trên kỹ năng, đồng thời ưu tiên trục xuất những người phạm tội.

Về vấn đề an ninh công cộng, đảng Dân chủ chia rẽ về quan điểm đối với hệ thống tư pháp hình sự nói chung. Tuy nhiên, họ kiên quyết ủng hộ việc truy tố mạnh tay các tội phạm liên quan đến súng, coi cảnh sát là yếu tố thiết yếu để duy trì trật tự và kiên quyết phản đối bạo lực chính trị. Về vấn đề người chuyển giới, đa số cử tri ủng hộ việc ngăn cấm các bé trai bẩm sinh tham gia các môn thể thao dành cho nữ, cấm các can thiệp y tế và phẫu thuật chuyển giới đối với trẻ vị thành niên, và yêu cầu các trường học thông báo cho phụ huynh nếu một đứa trẻ yêu cầu được xác định là người chuyển giới hoặc thay đổi đại từ nhân xưng trong lớp học.

Quan điểm kinh tế của liên minh này cũng ít mang tính cách mạng hơn so với những lời lẽ thường thấy của đảng. Đảng Dân chủ ủng hộ việc phân phối lại của cải và bảo vệ người tiêu dùng, nhưng chỉ một số ít người tán thành quan điểm cực đoan hơn rằng hệ thống kinh tế của Mỹ bị thao túng đến mức cần phải bị phá bỏ hoặc rằng không nên có các tỷ phú. Hầu hết đều bày tỏ mối lo ngại thực sự về gian lận phúc lợi. Một số lượng lớn người thể hiện sự quan tâm trở lại đối với thương mại tự do và các chính sách trọng cung khác.

Về chính sách đối ngoại, đa số đảng viên Dân chủ khẳng định quyền tồn tại của Israel, mặc dù cử tri trẻ tuổi có thái độ hoài nghi hơn hẳn. Điều đáng chú ý là, hai phần ba cử tri đảng Dân chủ vẫn cho rằng nước Mỹ trong lịch sử luôn là một thế lực tích cực trên thế giới.

Nếu đảng Dân chủ thực sự ôn hòa như vậy, tại sao đảng này lại thường xuyên thể hiện thái độ trái ngược?

Một phần câu trả lời nằm ở hệ sinh thái thể chế hiện đang chi phối nền chính trị của đảng Dân chủ. Trong hai thập kỷ qua, một mạng lưới các nhóm vận động tiến bộ, các tổ chức phi lợi nhuận theo hệ tư tưởng, các nhà tài trợ hoạt động tích cực và các công đoàn liên kết đã tích lũy được ảnh hưởng to lớn đối với việc tuyển chọn ứng cử viên, thông điệp và các ưu tiên chính sách. Các ứng cử viên tranh cử sơ bộ đi chệch khỏi đường lối chính thống của phe hoạt động thường phải đối mặt với sự phản đối có tổ chức, các thách thức trong cuộc bầu cử sơ bộ được tài trợ tốt và các chiến dịch gây áp lực không ngừng từ chính liên minh của họ.

Kết quả là, các chính trị gia thuộc đảng Dân chủ thường có xu hướng leo thang hơn là ôn hòa. Về mặt bầu cử, việc họ lặp lại những tiếng nói lớn nhất trong đảng thường an toàn hơn so với việc đại diện cho những bản năng thầm lặng của đa số cử tri.

Yếu tố kinh tế thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng này. Nhiều lãnh đạo đảng phụ thuộc trực tiếp vào chi tiêu của chính phủ, quy định hoặc vận động chính sách của các tổ chức phi lợi nhuận để duy trì cuộc sống. Điều này tạo ra một dạng chính trị bảo trợ, khi giới lãnh đạo được hưởng lợi về vật chất từ ​​một chương trình nghị sự tiến bộ ngày càng mở rộng. Bất kỳ giá trị bầu cử nào mà chủ nghĩa ôn hòa mang lại đều trở nên nhỏ bé so với mối đe dọa mà nó gây ra cho những lợi ích này.

Trong những hoàn cảnh như vậy, cải cách có ý nghĩa hiếm khi đến từ chính nội bộ hệ thống. Nó thường đòi hỏi một người ngoài cuộc sẵn sàng phá vỡ hệ thống đó. Một thập kỷ sau khi Donald Trump thâu tóm Đảng Cộng hòa một cách thù địch — kết hợp khuynh hướng dân túy cực đoan với sự ôn hòa trong chính sách — thật đáng chú ý khi đa số đảng viên Dân chủ ngày nay nói rằng họ sẽ ủng hộ một nhân vật nổi bật nào đó từ bên ngoài chính trường tranh cử tổng thống vào năm 2028.

Liệu một nhân vật như vậy có xuất hiện hay không vẫn còn phải chờ xem. Tuy nhiên, điều mà dữ liệu cho thấy rõ ràng là chính cử tri đảng Dân chủ không phải là vấn đề. Hầu hết cử tri đảng Dân chủ không muốn một đảng cực đoan hơn. Họ muốn một đảng bình thường hơn.

https://www.city-journal.org/article/democrats-party-voters-manhattan-institute-poll?skip=1
 

NVV

 

 2026-03-04  

Câu trả lời "Không" tức thì của đảng Dân chủ  
Một đảng khôn ngoan hơn sẽ chờ đợi trước khi phản ứng gay gắt trước vụ tấn công vào Iran.


(Barton Swaim, WSJ, 4/3/2026)

Vào thứ Bảy, Donald Trump đã trở thành tổng thống thời chiến. Cuộc xung đột ở Iran có thể sẽ chi phối sự chú ý của ông từ nay cho đến khi ông rời nhiệm sở vào năm 2029. Một số mối bận tâm ngoài lề của ông — những mối thù cá nhân, những trò hề trên mạng — có thể sẽ ít được chú ý hơn. Bất kể kết quả cuộc chiến ra sao, bằng việc cho phép tấn công trực tiếp vào một chế độ nguy hiểm, ông Trump đã dành thời gian còn lại trong nhiệm kỳ của mình cho nhiệm vụ cao cả nhất của một tổng thống — bảo vệ lãnh thổ quốc gia, các căn cứ quân sự và đồng minh của Mỹ khỏi mối đe dọa.

Các nhà bình luận tự do và các đảng viên Dân chủ tại Quốc hội đã phản ứng với bước ngoặt trọng đại này chính xác theo cách họ sẽ phản ứng nếu ông Trump làm điều ngược lại: bằng những lời buộc tội về sự bất tài và động cơ xấu xa. Nếu tổng thống không điều động một lực lượng chiến đấu khổng lồ đến Vịnh Ba Tư và phát động cuộc tấn công, những người chỉ trích ông sẽ buộc tội ông lãng phí nguồn lực,  không làm đủ và phớt lờ mối đe dọa thực sự ở Tehran.

Đảng Dân chủ, với một vài ngoại lệ dũng cảm, cáo buộc chính quyền đưa ra nhiều “lý do” khác nhau cho cuộc chiến để theo đuổi một mục tiêu ngầm nào đó. Họ phớt lờ khả năng một chính quyền có thể có nhiều hơn một lý do để tấn công kẻ thù.

Sự độc ác dai dẳng của chế độ Iran, cùng với khát vọng được giải phóng khỏi nó của người dân, khiến cho nhiệm vụ giải thích của chính quyền trở nên dễ dàng hơn. Dù sao đi nữa, như kinh nghiệm của chúng ta ở Iraq nhắc nhở, việc giải thích quá mức và lên kế hoạch quá chi tiết là điều có thể xảy ra. Điều thú vị hơn là thái độ thù địch tức thời và dữ dội của đảng Dân chủ đối với chiến dịch này.

Những lý do được nêu ra về cơ bản gồm ba điểm. Thứ nhất, nó “bất hợp pháp” và “vi hiến”. Thứ hai, mối đe dọa từ Iran không phải là “sắp xảy ra”. Thượng nghị sĩ Virginia Tim Kaine, viết cho tờ Journal hôm Chủ nhật, đã kết hợp hai điều này: “Với tư cách là thành viên của Ủy ban Quân sự và Đối ngoại Thượng viện,… tôi có thể khẳng định rõ ràng rằng không có mối đe dọa cận kề nào từ Iran đối với Mỹ đủ để biện minh cho việc đưa con trai và con gái chúng ta vào một cuộc chiến khác ở Trung Đông — đặc biệt là khi không có cuộc tranh luận và bỏ phiếu của Quốc hội mà Hiến pháp yêu cầu.”

Thật vô lý. Nếu Hiến pháp yêu cầu sự chấp thuận của Quốc hội, thì không có chữ “đặc biệt” nào ở đây cả. Vị thượng nghị sĩ này đã chứng kiến ​​danh sách dài các quyết định gây chiến được các tổng thống thuộc cả hai đảng đưa ra khi không có sự bỏ phiếu của Quốc hội. Còn về việc ông ta phủ nhận mối đe dọa là “cận kề”, tôi tự hỏi từ đó có nghĩa là gì: Iran đã cố gắng ám sát nhiều quan chức cấp cao của Mỹ, bao gồm cả tổng thống. Nước này tài trợ cho các nhóm khủng bố trên khắp Trung Đông và đã tàn sát 30.000 người biểu tình vài tuần trước. Giới cầm quyền của nước này thể hiện tham vọng giống như Đức Quốc xã về việc tiêu diệt kẻ thù, ngay cả khi họ không che giấu sự thèm khát điên cuồng đối với tên lửa tầm xa và công nghệ hạt nhân. Tôi đoán, đối với ông Kaine, sự sắp xảy ra có nghĩa là ngón tay của giáo chủ Ayatollah đang đặt trên một nút màu đỏ có nhãn "PHÓNG".

Lý do phản đối thứ ba được nêu ra, lý do này được bịa đặt ngay lập tức, liên quan đến việc Ngoại trưởng Marco Rubio được cho là đã thừa nhận Israel đã lôi kéo Mỹ vào cuộc chiến. Trong bối cảnh đó, ông Rubio đang giải thích lý do tại sao vụ phóng tên lửa diễn ra vào thứ Bảy, ngày 28 tháng 2, thay vì một ngày khác, chứ không phải lý do tại sao nó lại xảy ra. Nhưng một bộ phận cử tri cốt lõi của đảng Dân chủ sẽ rất vui mừng trước tuyên bố rằng Israel đã buộc chúng ta phải làm điều đó.

Đó là những lý do được nêu ra cho sự thù địch của đảng Dân chủ. Còn những lý do không được nêu ra thì sao?

Phản ứng của đảng Dân chủ đối với cuộc tấn công vào Iran một phần xuất phát từ sự hèn nhát muốn tránh mọi xung đột với cánh tả tiến bộ. Đó cũng là sự thôi thúc đã khiến chính quyền Biden sửa đổi chính sách Trung Đông của mình để lấy phiếu bầu của người Hồi giáo ở Michigan, nơi mà Kamala Harris vẫn thua cuộc.

Rồi còn kinh nghiệm từ Iraq. Năm 2002, 81 nghị sĩ Dân chủ Hạ viện và 29 nghị sĩ Dân chủ Thượng viện, bao gồm cả Hillary Clinton, đã bỏ phiếu cho phép sử dụng vũ lực ở Iraq; sáu năm sau, Barack Obama đã đánh bại bà Clinton và giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống nhờ lập trường phản đối chiến tranh. Đảng Dân chủ đã tiếp thu bài học đó.

Có nhiều điểm khác biệt so với cuộc chiến tranh Iraq. Điểm khác biệt rõ ràng nhất là việc không có cuộc đổ bộ lên Iran, nhưng những điểm khác cũng đáng được đề cập. Saddam Hussein từng sử dụng vũ khí hóa học trong quá khứ, và việc ông ta muốn thể hiện mình là "kẻ xấu" ở Trung Đông đã ngăn cản ông ta chứng minh rằng mình không còn vũ khí đó nữa. Đến năm 2026, chế độ Khamenei vẫn chưa chế tạo được thiết bị hạt nhân có thể vận chuyển được, nhưng trong nhiều năm, họ đã công khai mục tiêu sở hữu và sử dụng loại vũ khí này.

Điều này đưa chúng ta trở lại với ông Obama. Ông ấy đã xây dựng quan điểm chính sách đối ngoại của mình trên cơ sở rằng chính quyền George W. Bush đã hoàn toàn sai lầm. Điều này dẫn đến việc ông ấy giữ khoảng cách với các đồng minh vùng Vịnh và Israel, đồng thời ủng hộ Iran. Trong một trong những màn thể hiện sự cả tin có học thức vĩ đại nhất trong lịch sử, vô số chuyên gia chính sách đối ngoại đã chấp nhận niềm tin rằng giới cầm quyền Iran sẽ nhận ra lợi ích của năng lượng hạt nhân dân sự và gia nhập cộng đồng các quốc gia. Ảo tưởng đó, hơn bất kỳ điều gì khác, đã ngăn cản các nhà hoạch định chính sách của Mỹ trong hơn một thập kỷ không thừa nhận sự độc ác thường trực và tích cực của Iran.

Một phe đối lập khôn ngoan hơn các đảng viên Dân chủ ngày nay hẳn đã thận trọng hơn trong những ngày đầu của Chiến dịch Cuồng nộ Vĩ đại. Giờ đây, họ sẽ chỉ được lợi nếu Mỹ thất bại.

https://www.wsj.com/opinion/the-democrats-instant-no-23876a3e?st=8eYNGn

NVV

 

 2026-03-03  

Về vấn đề Iran, đảng Dân chủ chỉ đưa ra tinh thần đảng phái  
Hầu hết đều phản đối nỗ lực chiến tranh và thậm chí dường như còn mong muốn thất bại.


(Mark Penn & Andrew Stein, WSJ, 3/3/2026)

Bài diễn văn chia tay của George Washington đã cảnh báo về “những tác hại tai hại của tinh thần đảng phái”. Vị tổng thống đầu tiên nhận xét rằng, chủ nghĩa đảng phái “luôn đánh lạc hướng quần chúng và làm suy yếu chính phủ”. Phản ứng trước cuộc tấn công của Tổng thống Trump nhằm vào chế độ Iran, quốc gia đã gây chiến với Mỹ suốt 47 năm, là một ví dụ điển hình. Trước sự lựa chọn giữa đảng và đất nước, hầu hết đảng viên Dân chủ đã chọn đảng.

Một số người phản đối nỗ lực chiến tranh là những người trung thành với ý thức hệ, chẳng hạn như các dân biểu cấp tiến Ilhan Omar và Alexandria Ocasio-Cortez và Thị trưởng New York Zohran Mamdani, người cáo buộc ông Trump đang tiến hành một “cuộc chiến xâm lược”. Dân biểu Rashida Tlaib đã đăng dòng tweet về nước Mỹ bằng ngôi thứ ba: “Cả Mỹ và Israel diệt chủng đều không quan tâm đến luật pháp. Đó là bản chất của họ.”

Về phía đảng Cộng hòa, có một vài người theo chủ nghĩa biệt lập thực sự, như TNS Rand Paul và dân biểu Thomas Massie, những người luôn kiên định phản đối hầu hết mọi hành động quân sự. Nhưng đa số các nhà lập pháp đảng Cộng hòa đều ủng hộ.

Đảng Dân chủ lại là một câu chuyện khác. Một vài người, như TNS John Fetterman của Pennsylvania và dân biểu Josh Gottheimer của New Jersey, đã ủng hộ nỗ lực chiến tranh. Nhưng đa số, bao gồm cả lãnh đạo Quốc hội, đều phản đối và thậm chí dường như hy vọng vào thất bại.

“Người dân Mỹ muốn chúng ta tập trung vào việc cải thiện cuộc sống của họ, làm cho cuộc sống của họ dễ chịu hơn, chứ không phải tham gia vào một cuộc chiến tranh không hồi kết khác ở Trung Đông mà chắc chắn sẽ kết thúc bằng thất bại,” Lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện Hakeem Jeffries nói với CNN hôm thứ Hai. Ông đang ủng hộ một nghị quyết nhằm chấm dứt mọi nỗ lực chống lại Iran.

Lãnh đạo phe thiểu số Chuck Schumer, trước đây là người cứng rắn về vấn đề Iran theo tiêu chuẩn của đảng Dân chủ, cũng vậy. “Đây là một cuộc chiến được lựa chọn, chứ không phải vì cần thiết,” ông Schumer nói trên sàn Thượng viện hôm thứ Hai. “Chúng ta đã quá mệt mỏi với những cuộc chiến tranh không hồi kết ở Trung Đông… Quốc hội phải hành động để kiềm chế sự hiếu chiến của Donald Trump.”

Khi Barack Obama dành tám tháng cho chiến dịch chống lại Libya, ông Schumer và các đồng nghiệp của ông đã bỏ qua và không yêu cầu ông Obama phải xin phép Quốc hội. Đảng Dân chủ biết rằng ông Trump đã tuân thủ tất cả các yêu cầu của Đạo luật Quyền lực Chiến tranh năm 1973, cho phép ông có 60 ngày miễn là ông báo cáo thường xuyên cho Quốc hội. Đảng Dân chủ lẽ ra có thể ủng hộ tổng thống trong 60 ngày đó và thể hiện một mặt trận thống nhất của Mỹ trước thế giới.

Họ lo ngại về chi phí, hay về nguy cơ vướng vào các cuộc xung đột quốc tế? Chính những đảng viên Dân chủ đó đã ủng hộ việc chi gần 200 tỷ đô la cho Ukraine trong một cuộc chiến có tác động trực tiếp đến Mỹ ít hơn nhiều.

Vì vậy, trong khi các cuộc tấn công trả đũa Iran đang đoàn kết phần còn lại của Trung Đông, Quốc hội lại đang chia rẽ như George Washington đã dự đoán.

https://www.wsj.com/opinion/on-iran-democrats-offer-only-partisanship-71fffece?st=ND3VcM
 

NVV

 

 2026-02-19  

Vì sao họ phá hủy biên giới?  

Sự hỗn loạn biên giới dưới thời Biden không phải là ngẫu nhiên mà là một chiến lược chính trị nhằm định hình lại cử tri Mỹ và mở rộng quyền lực của cánh tả.


(Victor Davis Hanson, American Greatness, 19/2/2026)

Tại sao lại có một tổng thống nào đó muốn phá hủy biên giới phía nam của Hoa Kỳ?

Phe cánh tả thường "vồ lấy" bất cứ ai dám cho rằng chính quyền Biden đã bật đèn xanh cho nhập cư bất hợp pháp để thu hút thêm cử tri cho những chương trình nghị sự mà lẽ ra không nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng.

Phe cánh tả bôi nhọ những người chỉ trích chính sách biên giới mở là những kẻ theo thuyết âm mưu phân biệt chủng tộc, lan truyền "Lý thuyết thay thế vĩ đại" (Great Replacement Theory).

Tuy nhiên, trong nhiều năm, chính các đảng viên Dân chủ và cánh tả đã viết những cuốn sách đầy vẻ chiến thắng với những tựa đề như "Sự trỗi dậy của đa số dân chủ" (The Emerging Democratic Majority). Và họ thường xuyên hô hào rằng "Nhân khẩu học quyết định vận mệnh" (Demography is Destiny).

Một vài người theo chủ nghĩa toàn cầu cánh tả thậm chí còn khoe khoang về một thế giới không biên giới mới, nơi bất cứ ai cũng có thể sống ở bất cứ nơi nào họ muốn.

Cách đây không lâu, Dân biểu tiểu bang Texas, Gene Wu (Đảng Dân chủ - Houston), chủ tịch nhóm nghị sĩ Dân chủ tại Hạ viện Texas, đã vượt quá giới hạn khi nói thẳng ra điều thường không được nói đến về chương trình nghị sự của đảng Dân chủ:

"Ngày mà cộng đồng người Latinh, người Mỹ gốc Phi, người châu Á và các cộng đồng khác nhận ra rằng họ cùng chịu một kẻ áp bức là ngày chúng ta bắt đầu chiến thắng, bởi vì giờ đây chúng ta là đa số ở đất nước này. Chúng ta có khả năng nắm quyền kiểm soát đất nước này và làm những gì cần thiết cho tất cả mọi người."

Việc cánh tả không ngần ngại sử dụng vấn nạn nhập cư bất hợp pháp như một vũ khí chính trị cũng đang diễn ra ở châu Âu. Số lượng người nhập cư bất hợp pháp ở đó đã làm thay đổi hoàn toàn cấu trúc dân số — và cả các nhóm cử tri ủng hộ chính trị — của lục địa này.

Mới đây, cựu "Bộ trưởng Bình đẳng" của Tây Ban Nha, bà Irene Montero, đã có một bài phát biểu đầy nhiệt huyết: "Tôi hy vọng vào 'lý thuyết thay thế'. Tôi hy vọng chúng ta có thể quét sạch những kẻ phát xít và phân biệt chủng tộc khỏi đất nước này bằng người nhập cư. Bất kể màu da của họ là gì, dù là người Trung Quốc, người da đen hay người da nâu."

Đỉnh điểm của sự kiêu ngạo mới ở Mỹ là việc chính quyền Biden phá bỏ biên giới phía nam và thực thi luật nhập cư liên bang.

Có những ngày, dòng người nhập cư bất hợp pháp dưới thời Biden vượt quá sức tưởng tượng của bất kỳ ai, với tốc độ lên tới 10.000 người mỗi ngày. Bộ trưởng An ninh Nội địa Alejandro Mayorkas, với giọng điệu giống như Baghdad Bob, thỉnh thoảng hùng hồn tuyên bố rằng biên giới đã "an toàn" - trong khi hàng nghìn người khác vẫn tràn vào biên giới bất hợp pháp, không hề được kiểm tra sức khỏe hay thậm chí là kiểm tra lý lịch cơ bản.

Chương trình nghị sự chính trị của phe cánh tả về vấn đề nhập cư bất hợp pháp sẽ được thực hiện ngay lập tức thông qua việc làm suy yếu tính toàn vẹn của lá phiếu hoặc sớm thôi bằng cách bóp méo việc phân bổ lại các khu vực bầu cử quốc hội dựa trên điều tra dân số.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi hiện nay phe Dân chủ đang phản đối kịch liệt ngay cả những yêu cầu cơ bản trên toàn quốc về việc xuất trình giấy tờ tùy thân có ảnh để bỏ phiếu. Tuy nhiên, các cuộc thăm dò dư luận truyền thống ủng hộ phe tự do như của Gallup và Pew cho thấy 83 đến 84% người Mỹ ủng hộ việc bắt buộc xuất trình giấy tờ tùy thân có ảnh khi bỏ phiếu.

Thông thường, phe tả rất ủng hộ các quy định của châu Âu. Nhưng giờ đây, họ lại im lặng khi được nhắc nhở rằng 46 trong số 47 quốc gia châu Âu, kể cả những quốc gia do phe tả lãnh đạo, đều yêu cầu giấy tờ tùy thân để bỏ phiếu.

Rõ ràng, đảng Dân chủ cho rằng một khi có thêm 10 triệu người nghèo nhất thế giới vượt biên trái phép qua biên giới phía nam, không qua kiểm tra giấy tờ hay biết tiếng Anh, họ sẽ hòa nhập vào xã hội Mỹ và việc hồi hương sẽ trở nên bất khả thi.

Chẳng bao lâu nữa, chính sách biên giới mở sẽ khiến nhiều tiểu bang chuyển sang màu xanh (ủng hộ đảng Dân chủ), cũng như tăng số ghế của họ trong Quốc hội. Người nhập cư bất hợp pháp sẽ được định nghĩa lại là "cư dân" và thường là người nhận phiếu bầu qua thư.

Thực tế là hàng triệu người nghèo mới, do nhu cầu của họ, sẽ làm gia tăng hệ thống phúc lợi xã hội, mở rộng chính phủ ở mọi cấp độ, đòi hỏi mức thuế cao hơn nhiều và làm trầm trọng thêm sự phân cực giữa người bị áp bức và kẻ áp bức, đó là những lợi ích bổ sung.

Mối liên hệ giữa vụ gian lận phúc lợi xã hội trị giá chín tỷ đô la của người Somalia và các quan chức đảng Dân chủ bang Minnesota là một lời nhắc nhở sắc bén về cách thức ngành công nghiệp đặc miễn về nhập cư/phúc lợi xã hội/đa dạng, công bằng và hòa nhập được tạo ra và bảo vệ bởi chính quyền.

Con số 10 triệu người nhập cư bất hợp pháp mới do Biden đưa ra có thể đã làm tăng số lượng người nhập cư bất hợp pháp hiện có (20 triệu?) lên 30 triệu.

Tổng số đó, đến lượt nó, đã làm tăng đáng kể nhóm hiện có gồm 20 triệu công dân nước ngoài hợp pháp và cư dân hợp pháp thuộc nhiều loại khác nhau.

Vì vậy, khi ông Trump nhậm chức vào tháng 1 năm 2025, Hoa Kỳ đã tiếp nhận số lượng cư dân sinh ra ở nước ngoài cao kỷ lục. Họ chiếm khoảng 16% dân số và có lẽ lên tới 53 triệu người.

Làn sóng nhập cư diễn ra vào thời điểm mà truyền thống "nồi lẩu văn hóa" về hội nhập, đồng hóa và giao thoa văn hóa thường bị coi thường và thay thế bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa ly khai.

Tuy nhiên, phe cánh tả thắng thế chưa bao giờ tưởng tượng đến việc ông Trump tái đắc cử.

Nó cũng không thể hiểu thấu đáo nỗ lực phản cách mạng của Trump nhằm bảo vệ biên giới và xóa bỏ chủ nghĩa hư vô của Biden.

Điều khiến các đảng viên Dân chủ cảm thấy khó tin hơn cả là những nỗ lực của ông nhằm khôi phục tính toàn vẹn và quyền tối cao của luật nhập cư liên bang.

Thực tế thì chẳng ai tin Trump sẽ tìm cách trục xuất hàng triệu người đã vượt biên trái phép qua năm mươi tiểu bang. Hầu hết họ đều được hưởng quyền đặc miễn trên thực tế nhờ hàng trăm thẩm phán tòa án cấp dưới cánh tả và các quan chức thuộc các tiểu bang ủng hộ đảng Dân chủ như Tim Walz/Gavin Newsom.

Chỉ có một cách duy nhất mà phe cánh tả có thể phản đối việc quay trở lại chính sách nhập cư hợp pháp, có kiểm soát và đa dạng. Đó là nếu bất kỳ nhóm cử tri nhập cư nào của họ trong tương lai — chẳng hạn như 55% nam giới gốc Tây Ban Nha đã bỏ phiếu cho Trump vào năm 2024 — dám bỏ phiếu dựa trên các tiêu chí khác ngoài các quyền lợi liên bang, sự đoàn kết sắc tộc và sự ép buộc của đảng Dân chủ.

Làm như vậy, phe cánh tả sẽ nhanh chóng đóng cửa biên giới.

https://amgreatness.com/2026/02/19/why-exactly-did-they-destroy-the-border/
 

NVV

 

 2026-02-17  

Đảng Dân chủ có lẽ đã thua cuộc bầu cử năm 2028 rồi!  
Làm sao Kamala Harris có thể dẫn đầu? Hãy xem xét các ứng cử viên khác: Newsom, Buttigieg, AOC, Shapiro.


(Matthew Continetti, WSJ, 17/2/2026)

Stephen A. Smith có một lời thú nhận. Nhân vật nổi tiếng 58 tuổi của ESPN đang cân nhắc tranh cử vào vị trí ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ. “Tôi đang nghiêm túc xem xét việc tham gia vào cuộc tranh luận năm 2027,” ông nói với chương trình “CBS News Sunday Morning” vào ngày 15 tháng 2. Nếu ông Smith tham gia cuộc đua, ông sẽ không đơn độc. Cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân chủ năm 2028 đang rộng mở — và dàn ứng cử viên mới nổi lên lại khá mờ nhạt.

Mỗi ứng cử viên Dân chủ chuẩn bị tranh cử đều có điểm yếu. Tính đến thời điểm viết bài này, chỉ có hai ứng cử viên tiềm năng nhận được sự ủng hộ hai chữ số trong kết quả thăm dò trung bình của RealClearPolitics. Cả hai đều dễ bị tổn thương.

Cựu Phó Tổng thống Kamala Harris dẫn đầu với 31%, tiếp theo là Thống đốc California Gavin Newsom với 22%. Sau hai người đó, tỷ lệ ủng hộ giảm mạnh. Cựu Bộ trưởng Giao thông vận tải Pete Buttigieg đứng thứ ba với 9%. Hạ nghị sĩ Alexandria Ocasio-Cortez bám sát phía sau ông Buttigieg. Ứng viên Dân chủ duy nhất khác giành được hơn 5% trong các cuộc thăm dò toàn quốc là Thống đốc Pennsylvania Josh Shapiro.

Còn quá sớm để nói, và cuộc tranh cử sẽ thu hút những người mới nổi, những kẻ nổi loạn và những người cơ hội. Những người ngoài cuộc như vậy đã nắm bắt thời cơ trong quá khứ — đôi khi thành công (Barack Obama năm 2008; Donald Trump năm 2016), đôi khi không (Howard Dean năm 2004; Bernie Sanders năm 2016 và 2020). Không ai biết họ sẽ là người thế nào.

Nhưng họ sẽ không phải là những đảng viên Dân chủ bảo thủ. Hầu như không còn ai như vậy nữa. Theo Gallup, chỉ có 8% đảng viên Dân chủ tự nhận mình là người bảo thủ. 59% tự coi mình là người tự do hoặc rất tự do. Một cuộc thăm dò của CNN mùa hè năm ngoái cho thấy một phần ba đảng viên Dân chủ và những người độc lập có xu hướng ủng hộ đảng Dân chủ tự coi mình là những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ như bà Ocasio-Cortez. Tỷ lệ này là 42% trong số những người dưới 35 tuổi.

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa xã hội đặt ra những câu hỏi đáng lo ngại về tương lai của đảng. Sự thay đổi này có những hệ quả về mặt bầu cử. Một lực lượng cử tri cực đoan, được thúc đẩy bởi sự phản kháng chống lại ông Trump, có thể là một lợi thế trong các cuộc bầu cử đặc biệt và giữa nhiệm kỳ. Nhưng chính sách biên giới mở, tình trạng bất ổn xã hội và hệ tư tưởng về người chuyển giới đã gây bất lợi cho đảng Dân chủ trong các năm bầu cử tổng thống. Chúng sẽ lại gây bất lợi nếu không được kiểm soát.

Do đó, thành công trong năm 2028 phụ thuộc vào việc tìm ra một ứng cử viên hấp dẫn, người thể hiện sự thay đổi không chỉ so với ông Trump, mà còn so với danh tiếng của đảng Dân chủ. Điều đó đòi hỏi chính xác kiểu tự kiểm điểm mà đảng Dân chủ quyết tâm tránh. Ủy ban Quốc gia đảng Dân chủ sẽ không công bố bản phân tích về cuộc bầu cử năm 2024 – một sự từ chối rõ ràng việc tranh luận về tương lai của đảng.

Hiện tại, phe tả đang lên ngôi, ăn mừng các ứng cử viên tổng thống phản đối tận gốc các giá trị và chính sách của ông Trump. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra khi thời điểm đó qua đi và công chúng phải lựa chọn giữa hai người không phải là ông Trump?

Bà Harris sẽ lại phải bảo vệ chính quyền Biden mà cử tri đã bác bỏ sau bốn năm. Bà vẫn chưa nói rõ mình sẽ làm gì khác với người sếp cũ. Mặc dù là một tác giả bán chạy nhất, bà ấy lại rất giỏi trong việc không nói nhiều.

Việc đổi tên tài khoản mạng xã hội của chiến dịch tranh cử thành “trung tâm nội dung tiến bộ do thế hệ Z dẫn đầu” gần đây đặc biệt gây khó chịu. Bà Harris tuyên bố: “Vậy là KamalaHQ sẽ trở thành Trụ sở chính (Headquaters), và đó là nơi bạn có thể truy cập trực tuyến để cập nhật những thông tin mới nhất đang diễn ra, cũng như gặp gỡ và trao đổi lại với một số nhà lãnh đạo tuyệt vời, dũng cảm của chúng ta, dù đó là các nhà lãnh đạo được bầu, lãnh đạo cộng đồng, lãnh đạo dân sự, lãnh đạo tôn giáo hay các nhà lãnh đạo trẻ.” Hãy lưu ý rằng bà ấy không hề nhắc đến các nhà lãnh đạo doanh nghiệp.

Ông Newsom, người đồng hương California của bà, khéo léo và ăn nói lưu loát, đã hoàn thiện nghệ thuật công kích chống lại ông Trump. Nhưng ông cũng đã dành hai thập kỷ để biến tiểu bang California thành một môi trường nuôi dưỡng tư tưởng tiến bộ với thuế cao, các quy định hà khắc và văn hóa "woke". Những người thuộc đảng Dân chủ không bị mê hoặc bởi hình ảnh của ông Newsom trên tạp chí Vogue hiểu rằng thành tích của ông có thể khiến cử tri dao động xa lánh.

“Nhiều chính sách của California dường như được sao chép từ các quảng cáo công kích của đảng Cộng hòa,” Marc Novicoff và Jonathan Chait viết trên tờ Atlantic trong một bài báo có tiêu đề “Thành tích của Gavin Newsom là một vấn đề”. Đồng nghiệp của tôi tại Viện Doanh nghiệp Mỹ, Ruy Teixeira, cũng thẳng thắn không kém: “Gavin Newsom không phải là Bill Clinton”.

Nữ dân biểu 36 tuổi Ocasio-Cortez, hiện đang ở nhiệm kỳ thứ tư, đã tham dự Hội nghị An ninh Munich năm nay cùng với một số ứng cử viên tiềm năng khác. Màn trình diễn của bà không mấy ấn tượng.

Khi được hỏi về sự thay đổi quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại của ông Trump, bà Ocasio-Cortez đã đưa ra một câu trả lời lộn xộn (word salad)đến mức bà Harris cũng phải tự hào. Khi bị chất vấn về việc liệu Mỹ có nên bảo vệ Đài Loan trước một cuộc xâm lược từ Trung Quốc hay không, bà đã né tránh một cách vụng về.

“Ừm, bạn biết đấy, tôi nghĩ rằng đây là một, bạn biết đấy, tôi nghĩ rằng đây là, đây tất nhiên là một chính sách lâu dài của Hoa Kỳ,” bà nói. “Điều chúng ta hy vọng là chúng ta muốn đảm bảo rằng chúng ta sẽ không bao giờ đi đến điểm đó.”

Có hiểu không?

Những điểm yếu của các ứng cử viên khác dễ dàng nhận thấy. Ông Buttigieg là một cựu thị trưởng mang theo hành trang từ thời còn làm Bộ trưởng Giao thông vận tải. Khả năng nói bảy ngôn ngữ của ông ấy làm choáng ngợp những người theo chủ nghĩa tự do da trắng giàu có, có trình độ đại học; cử tri thiểu số thì không mấy ấn tượng.

Ông Shapiro được lòng dân, ăn nói lưu loát và có năng lực nhưng vẫn chưa xây dựng được một liên minh quốc gia. Còn có câu hỏi khó chịu là liệu một đảng mà cơ sở cử tri hoạt động tích cực ngày càng không có thiện cảm với Israel có đề cử một người Do Thái sùng đạo và ủng hộ Israel hay không. Thống đốc Gretchen Whitmer của Michigan và Andy Beshear của Kentucky đều không gây được ấn tượng. Thống đốc Wes Moore của Maryland vẫn chưa thể rũ bỏ tiếng xấu về thói bịa đặt.

Danh sách các ứng cử viên tiềm năng ngày càng dài ra. Khi nhìn vào gương, các Thượng nghị sĩ Mark Kelly, Ruben Gallego, Chris Murphy, Cory Booker và Jon Ossoff đều thấy hình ảnh các tổng thống đang nhìn lại mình. Còn nhớ các cuộc tranh luận "phụ" từ chiến dịch tranh cử của đảng Cộng hòa năm 2016? Đảng Dân chủ có thể sắp chứng kiến ​​một cuộc tái hiện.

Cứ chế giễu Stephen A. Smith tùy thích. Có thể ông ta sẽ không bao giờ được lên sân khấu tranh luận. Nhưng những người khác với ít hoặc không có kinh nghiệm chính trị chắc chắn sẽ bị cám dỗ. Và trong môi trường truyền thông ngày nay, những gì bắt đầu từ bên lề thường trở thành sự kiện chính.

https://www.wsj.com/opinion/democrats-you-may-already-have-lost-the-2028-election-7bab8946?st=smhdQY
 

NVV