2026-02-27  

Cần những gì để thay đổi chế độ ở Iran?  
Quân đội Mỹ phải hành động mạnh tay—và sau đó để Iran tự lo phần còn lại.


(Behnam Ben Taleblu, Foreign Affairs, 27/2/2026)

Cộng hòa Hồi giáo Iran có lẽ đang ở thời điểm yếu nhất kể từ khi thành lập năm 1979. Tháng 6 vừa qua, các cuộc tấn công của Israel và Mỹ đã phá hủy cơ sở làm giàu uranium và nhiều hệ thống phòng không của nước này. Tháng 12 và tháng 1, đất nước này trải qua cuộc nổi dậy trong nước lan rộng nhất kể từ khi Cộng hòa Hồi giáo ra đời. Suốt thời gian đó, Iran phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng kinh tế và môi trường ngày càng trầm trọng mà họ không thể tự khắc phục. Không sự kiện nào trong số này đánh sập được Cộng hòa Hồi giáo. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, nó đang suy yếu.

Giờ đây, Tổng thống Mỹ Donald Trump đang đe dọa tấn công nước này. Ông đã nói rõ rằng ông không khoan dung với những nỗ lực của chế độ nhằm xây dựng lại chương trình hạt nhân hoặc cách thức đàn áp biểu tình cực kỳ tàn bạo. “Nếu Iran giết hại những người biểu tình ôn hòa một cách bạo lực, điều mà họ thường làm, thì Hoa Kỳ sẽ đến giải cứu họ”, ông nói tháng trước. “Chúng tôi đã sẵn sàng chiến đấu”. Kể từ đó, tổng thống đã tập trung các lực lượng không quân và hải quân của Mỹ trong khu vực, và ông đang xem xét nhiều phương án tấn công khác nhau.

Nhưng điều đó không có nghĩa là các cuộc tấn công lớn sẽ xảy ra. Trên thực tế, cho đến nay, các quyết định của chính quyền đặt ra nhiều câu hỏi hơn là đưa ra câu trả lời về những gì Washington muốn đạt được và bằng cách nào. Hiện tại, Trump đang thực hành ngoại giao bằng vũ lực, hy vọng rằng mối đe dọa vũ lực sẽ buộc Cộng hòa Hồi giáo Iran phải đạt được một thỏa thuận hạt nhân tốt hơn thỏa thuận ông đã bỏ lại năm 2018. Nếu điều đó thất bại, ông đang cân nhắc các chiến dịch tiêu diệt thủ lĩnh hoặc các cuộc tấn công hạn chế để buộc chế độ này phải nhượng bộ.

Thật dễ hiểu tại sao chính quyền Trump lại ưu tiên ngoại giao và các cuộc tấn công hạn chế. Cộng hòa Hồi giáo có thể yếu, nhưng vẫn rất nguy hiểm và có khả năng gây hại cho lực lượng Mỹ và các mục tiêu dân sự trong khu vực. Trong khi đó, tổng thống đã nhiều lần tỏ ra do dự trong việc bắt đầu một chiến dịch quân sự kéo dài. Nhưng thực tế là sau nhiều thập kỷ cố gắng và thất bại trong việc thay đổi hành vi của Tehran bằng các biện pháp trừng phạt, phá hoại và gần đây hơn là các cuộc tấn công đơn lẻ, đã đến lúc phải hành động mạnh tay. Chế độ này quá cứng nhắc về mặt ý thức hệ để có thể bị khuất phục bởi một vài loạt bom đạn. Trong khi đó, người dân Iran đã nói rõ rằng họ sẵn sàng chuyển đổi đất nước của mình. Hoa Kỳ có thể và nên giúp đỡ họ bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự để vô hiệu hóa năng lực quân sự của Cộng hòa Hồi giáo và làm suy yếu bộ máy đàn áp trong nước.

Những biện pháp như vậy có thể truyền cảm hứng cho đông đảo người dân Iran đã xuống đường biểu tình vào tháng 12 và tháng 1 để họ tiếp tục làm như vậy. Ngay trong tuần này, Iran đã chứng kiến ​​các cuộc biểu tình quy mô nhỏ hơn tại các trường đại học, cho thấy sự thù địch đối với chế độ vẫn còn rất lớn. Nếu các cuộc biểu tình thường xuyên tiếp tục diễn ra, sức mạnh quân sự của Mỹ có thể tạo ra sự cân bằng giữa đường phố và nhà nước, mang lại cho những người biểu tình trong nước cơ hội thành công.

THỎA THUẬN HAY KHÔNG THỎA THUẬN

Chính quyền Trump có thể đã đe dọa Iran bằng hành động quân sự quy mô lớn. Nhưng có những lý do để tin rằng, ít nhất là hiện tại, họ có thể có những ý tưởng khác. Trước hết, những bình luận của tổng thống về Iran trong năm nay đã dao động giữa các mối đe dọa chiến tranh và sự cần thiết phải đạt được một thỏa thuận hạt nhân. “Hy vọng Iran sẽ nhanh chóng ‘ngồi vào bàn đàm phán’ và thương lượng một thỏa thuận công bằng và bình đẳng,” Trump viết trên Truth Social vào cuối tháng Giêng. “Tôi thà có một thỏa thuận còn hơn là không có, nhưng nếu chúng ta không đạt được thỏa thuận, đó sẽ là một ngày rất tồi tệ đối với đất nước đó,” ông đăng tải một tháng sau đó. Trong bài phát biểu Thông điệp Liên bang ngày 24 tháng 2, Trump tuyên bố rằng mặc dù “ưu tiên của ông là giải quyết vấn đề này thông qua ngoại giao,” ông sẽ “không bao giờ cho phép quốc gia tài trợ khủng bố số một… sở hữu vũ khí hạt nhân.”

Tehran tuyên bố hai bên đã đạt được tiến triển trong các cuộc đàm phán. Nhưng cho đến nay, các quan chức Iran, như dự đoán, đã từ chối từ bỏ các yếu tố cốt lõi của chương trình hạt nhân của họ, vì vậy có lý do để tin rằng Trump sẽ buộc phải tấn công - ngay cả khi hai nước tiếp tục đàm phán gián tiếp. Nếu lịch sử lặp lại, ông ta sẽ giữ cho các hành động của mình ngắn gọn và dứt khoát. Ví dụ, trong nhiệm kỳ đầu tiên, tổng thống đã ra lệnh ám sát Qasem Soleimani, một chỉ huy nổi bật trong Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC), bằng một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái vào tháng 1 năm 2020. Tháng 6 năm 2025, ông ta chỉ đạo sử dụng bom xuyên phá hạng nặng chống lại các cơ sở làm giàu uranium của Iran. Và việc quân đội Mỹ giải cứu tổng thống Venezuela Nicolás Maduro khỏi Caracas gần đây diễn ra chỉ trong một buổi tối. Đáng chú ý, Trump đã viện dẫn chiến dịch giải cứu Maduro khi đe dọa lãnh đạo tối cao Iran Ali Khamenei. “Giống như với Venezuela,” tổng thống nói trong một bài đăng trên Truth Social mô tả việc Washington tăng cường lực lượng hải quân xung quanh Iran, quân đội Mỹ “sẵn sàng, mong muốn và có khả năng nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ của mình, với tốc độ và bạo lực, nếu cần thiết.”

Nhưng một chiến dịch nhanh chóng, dứt khoát khó có thể lật đổ chế độ này, ngay cả khi nó thành công trong việc giết chết Khamenei. Cộng hòa Hồi giáo Iran có thể từng là một nhà nước chuyên chế được xây dựng trên sự sùng bái cá nhân người lãnh đạo tối cao sáng lập, Ayatollah Ruhollah Khomeini. Nhưng trong ba thập kỷ qua, Khamenei (người kế nhiệm Khomeini) đã thể chế hóa sự cai trị và chế độ của mình bằng cách trao quyền cho những người trung thành trong bộ máy nhà nước rộng lớn hơn nhiều và bằng cách hỗ trợ các trung tâm quyền lực cạnh tranh. Kết quả là, Cộng hòa Hồi giáo trông giống như một loạt các trụ cột hơn là một kim tự tháp, với một bộ máy ngầm hùng mạnh được tạo thành từ các quan chức an ninh có lợi ích riêng trong việc duy trì chế độ.

Nhìn theo góc độ này, nhiều nhà lãnh đạo và cựu chiến binh của IRGC không phải là cấp dưới của Khamenei mà là cộng sự của ông. Thật vậy, không rõ Khamenei, 86 tuổi, thực sự điều hành chế độ hàng ngày đến mức nào. Ví dụ, Cộng hòa Hồi giáo đã đưa ra các quyết định quân sự nhanh chóng đáng kinh ngạc trong cuộc chiến 12 ngày với Israel vào tháng 6, khi Khamenei có thể đang ở trong hầm trú ẩn và, theo một báo cáo của New York Times, không sử dụng các phương tiện liên lạc điện tử. Điều đó xảy ra ngay cả sau khi nhiều sĩ quan cấp cao của IRGC bị giết chỉ trong một đêm bởi các cuộc tấn công của Israel.

Nói cách khác, mô hình Venezuela sẽ không hiệu quả ở Iran. Trên thực tế, một cuộc tấn công đơn lẻ và ngoạn mục nhằm vào Khamenei có thể gây ra tác dụng ngược lại so với dự định. Thay vì gây chia rẽ và do đó làm suy yếu chế độ, các quan chức còn lại có nhiều khả năng sẽ đoàn kết lại, ít nhất là ban đầu. Họ sẽ duy trì hệ thống hoạt động và tìm cách trả thù.

ĐÁNH LỚN

Đối với một số nhà phân tích, việc các cuộc tấn công hạn chế sẽ thất bại là lý do đủ để cân nhắc kỹ trước khi sử dụng quân đội. “Iran sẽ không nhượng bộ trước những yêu cầu lớn chỉ vì một chiến dịch ném bom,” Nate Swanson, cựu cố vấn Tòa Bạch Ốc về Iran, viết trong một bài báo cảnh báo trên Foreign Affairs. “Một cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào Iran có thể dẫn đến sự trả đũa chết người bất ngờ – và một cuộc xung đột kéo dài hơn nhiều và có khả năng gây thiệt hại.” Trừ khi Iran đang nói suông, phân tích này là chính xác. Nhưng đó không phải là lý do thuyết phục để tránh sử dụng quân đội. Iran là quốc gia tài trợ khủng bố hàng đầu thế giới, một trong những chính phủ chống Mỹ trắng trợn nhất thế giới, và là quốc gia sở hữu kho vũ khí tên lửa đạn đạo lớn nhất Trung Đông. Gần nửa thế kỷ kinh nghiệm đã cho thấy rằng Cộng hòa Hồi giáo sẽ không giảm bớt bất kỳ hành vi nào trong số này hoặc đối xử tốt hơn với công dân của mình. Washington hiện có một cơ hội lịch sử để lật đổ chế độ này, và không thể bỏ lỡ nó vì sợ hãi. Thật vậy, việc Iran gần như chắc chắn sẽ leo thang để đáp trả một cuộc tấn công hạn chế của Mỹ càng là lý do để hành động mạnh mẽ ngay từ đầu và tránh rơi vào kiểu leo ​​thang dần dần biến chiến tranh thành vũng lầy. Washington không thể để Tehran quyết định tốc độ hoặc các điều khoản của cuộc xung đột.

Tất cả những điều này không có nghĩa là Hoa Kỳ cần phải phát động một cuộc tấn công...

Sau đó, Hoa Kỳ có thể tiến hành các cuộc không kích. Họ nên bắt đầu bằng việc trấn áp và phá hủy hệ thống phòng không của chế độ Iran để giành ưu thế trên không. Việc này không quá khó khăn, xét đến thành công của Israel trong việc vô hiệu hóa chúng trong các vòng giao tranh trước đây. Nhưng vẫn còn những hệ thống mà Israel chưa trấn áp hoặc phá hủy, và một số hệ thống khác mà Iran đã sửa chữa. Sau đó, Washington nên tấn công vào trụ cột chính trong hệ thống răn đe của Tehran: kho vũ khí tên lửa đạn đạo đáng gờm của nước này. Iran có thể sử dụng những vũ khí này để làm phức tạp cách tiếp cận của Hoa Kỳ bằng cách gây thiệt hại cho các tài sản quân sự, cơ sở hạ tầng năng lượng khu vực, vận tải biển, và thậm chí cả các mục tiêu dân sự ở Israel. Thay vì chờ đợi Iran phóng một lượng lớn tên lửa với hy vọng áp đảo hệ thống phòng thủ của Hoa Kỳ và các đồng minh, Washington phải phá hủy mạng lưới các căn cứ ngầm nơi cất giữ tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm ngắn, mà các quan chức Iran từ lâu đã ca ngợi là "thành phố tên lửa".

Nói rõ hơn, Hoa Kỳ và, có thể, các đối tác của họ sẽ chịu tổn thất từ ​​tên lửa của Iran. Nhưng bằng cách tấn công phủ đầu và phá hủy các căn cứ này, Washington có thể giúp hạn chế thiệt hại từ bất kỳ cuộc phản công nào của Iran. Nếu Tehran phân tán các bệ phóng di động sau khi đưa chúng lên mặt đất, Hoa Kỳ nên dành nguồn lực tình báo, giám sát và trinh sát thời gian thực để xác định vị trí của chúng và tấn công, như Israel đã làm trong cuộc chiến 12 ngày. (Ước tính của Israel cho rằng các cuộc tấn công vào các bệ phóng này đã làm giảm khả năng phóng tên lửa của chế độ ít nhất 33%). Từ đó, Hoa Kỳ có thể làm suy yếu khả năng tên lửa trong tương lai của Iran bằng cách nhắm mục tiêu vào các cơ sở sản xuất, mà theo các nguồn tin tình báo công khai, nằm ở hoặc gần các thành phố Isfahan, Khojir, Parchin, Semnan và Shahroud.

Làm suy yếu cơ sở hạ tầng tên lửa của Iran sẽ không chỉ giúp Washington dễ dàng hơn trong việc tiến hành phần còn lại của chiến dịch quân sự. Nó cũng có thể giúp ích cho người dân Iran bình thường. Dù có vẻ cực đoan, một số người ủng hộ chế độ đã đề xuất sử dụng tên lửa chống lại chính người dân Iran. Tương tự, nếu cơ sở hạ tầng tên lửa và hạt nhân của Cộng hòa Hồi giáo bị phá hủy và toàn bộ vũ khí hạt nhân bị chôn vùi, các đại diện của chế độ sẽ có ít đòn bẩy hơn khi đàm phán với các quan chức Mỹ hoặc người biểu tình về một quá trình chuyển đổi chính trị. Vì lý do đó, Hoa Kỳ nên tấn công các địa điểm hạt nhân còn lại của Iran, đặc biệt là khi chế độ đang tiến hành củng cố hoặc xây dựng lại chúng.

MỞ ĐƯỜNG

Tuy nhiên, việc tấn công chương trình tên lửa và hạt nhân của Iran khó có thể giúp ích cho người biểu tình Iran trong ngắn hạn. Để làm được điều đó, Washington cũng nên nhắm mục tiêu vào các thể chế chính trị và các cơ sở an ninh của chế độ, vừa để khích lệ người biểu tình vừa để gây khó khăn hơn cho Cộng hòa Hồi giáo trong việc phối hợp và đàn áp hiệu quả các cuộc biểu tình.

Một số nhà phân tích Mỹ có thể phản đối việc nhắm mục tiêu vào các thể chế chính trị của Iran vì cho rằng đó là vi phạm chủ quyền quốc gia. Nhưng người dân Iran có thể sẽ hoan nghênh một chiến dịch như vậy. Người dân nước này rất yêu nước, nhưng họ vẫn đang tìm kiếm sự giúp đỡ từ nước ngoài trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ. Ví dụ, trong vòng biểu tình gần đây nhất, người dân Iran đã làm các video bằng tiếng Anh mô tả hoàn cảnh khó khăn của họ. Những người khác đặt tên đường phố theo tên Trump, với hy vọng thu hút sự chú ý của tổng thống. Khi Trump sau đó hứa rằng sự giúp đỡ “đang đến”, ông đã làm tăng kỳ vọng của họ và có thể đã thúc đẩy các cuộc biểu tình tiếp diễn. Như một người biểu tình đã nói với tờ Wall Street Journal trong một tin nhắn văn bản, “Chúng tôi đều đang nhìn lên bầu trời, hy vọng Trump sẽ ném bom chúng tôi, chỉ để tiêu diệt Khamenei và chế độ của ông ta.”

Trump đã phụ lòng người dân Iran khi đó. Nhưng giờ ông ta có thể sửa sai. Ông ta có thể bắt đầu giúp đỡ họ bằng cách tấn công các thể chế nhà nước đã ra lệnh hoặc ủng hộ việc đàn áp người dân Iran, chẳng hạn như văn phòng lãnh đạo tối cao, Bộ Tình báo, cục phản gián IRGC, cũng như các thể chế cho phép chế độ cắt Internet. Washington cũng nên sử dụng các biện pháp công khai và bí mật để làm suy yếu, cản trở và phá vỡ về mặt quân sự các cấu trúc chỉ huy và kiểm soát thời chiến của Iran - bao gồm cả các cơ quan trong hội đồng an ninh quốc gia tối cao, hội đồng quốc phòng và bộ tổng tham mưu quân đội. Sau đó, Hoa Kỳ có thể chuyển sang nhắm mục tiêu vào các căn cứ và trung tâm chỉ huy chứa các bộ phận khác của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), lực lượng bán quân sự Basij (những thành viên tuần tra đường phố Iran và đàn áp các cuộc biểu tình), và cái gọi là các đơn vị đặc biệt của lực lượng thực thi pháp luật nước này, những người phụ trách việc trấn áp đám đông. Cuối cùng, nếu Washington xác định rằng các lực lượng dân quân nước ngoài do Iran hậu thuẫn đang xâm nhập vào nước này để tàn sát người biểu tình — như dường như đã xảy ra trong vòng biểu tình gần đây nhất — thì họ không nên ngần ngại sử dụng vũ lực chống lại chúng. Xét cho cùng, các nhóm dân quân này đã bị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ liệt vào danh sách các tổ chức khủng bố nước ngoài và đã nhuốm máu của người Mỹ và các đồng minh của Hoa Kỳ.

Những hành động như vậy có thể sẽ loại bỏ nhiều quan chức chủ chốt của chế độ, kể cả Khamenei. Bằng cách tấn công nhiều mục tiêu khác nhau, Hoa Kỳ sẽ cho người dân Iran thấy rằng họ muốn thay đổi Iran theo hướng tốt đẹp hơn, chứ không chỉ hạn chế thiệt hại mà chế độ có thể gây ra cho các đối thủ nước ngoài. Washington nên tấn công các địa điểm này ngay cả khi các quan chức và lãnh đạo chủ chốt không có mặt ở đó. Làm như vậy vẫn sẽ làm giảm khả năng đàn áp của chế độ, cản trở sự liên tục của các hoạt động chính phủ và gửi một tín hiệu mạnh mẽ có thể thúc đẩy người dân Iran.

* Washington phải làm suy yếu chế độ Iran.

Khi tiến hành các cuộc tấn công, Hoa Kỳ cần phải làm suy yếu khả năng của chế độ trên khắp cả nước, không chỉ ở Tehran. Điều đó có nghĩa là các quan chức Hoa Kỳ nên nhắm mục tiêu vào mọi sở chỉ huy cấp tỉnh và tiểu đoàn của IRGC và Basij, cũng như các trung tâm chỉ huy thuộc lực lượng cảnh sát Iran. Làm như vậy sẽ khơi dậy thêm các cuộc biểu tình đồng thời khiến chế độ khó đàn áp chúng hơn. Không gì có thể khích lệ người biểu tình Iran hơn việc chứng kiến ​​lực lượng an ninh địa phương bị tấn công.

Cuối cùng, Hoa Kỳ phải chuẩn bị sử dụng không chỉ máy bay ném bom và máy bay chiến đấu tiên tiến mà còn cả máy bay không người lái và máy bay bay thấp và chậm hơn, có thể hỗ trợ trên không cho đám đông đối đầu với các chiến binh của chế độ. Những cuộc tấn công như vậy sẽ giúp Hoa Kỳ loại bỏ các chỉ huy cấp trung và cấp thấp, làm suy yếu chuỗi chỉ huy của lực lượng an ninh Iran. Nó cũng có thể khiến những quan chức này rút lui. Khi lực lượng Iran bắt đầu lo lắng về sự sống còn của mình, bản năng tự bảo vệ của họ có thể trỗi dậy và lấn át lòng trung thành còn sót lại đối với đơn vị và chỉ huy của họ. Lực lượng an ninh Iran, đến lượt nó, cuối cùng có thể bị chia rẽ.

Sự chia rẽ này sẽ là chìa khóa để người Iran kết liễu chế độ. Khi lực lượng của Cộng hòa Hồi giáo bị kẹp giữa các cuộc không kích của Hoa Kỳ và áp lực của quần chúng, họ sẽ có mọi động lực để hoặc hạ vũ khí hoặc lật kèo và tham gia cùng người biểu tình. Trong trường hợp sau, họ có thể mang theo súng, chuyển giao quyền lực cưỡng chế cho đường phố. Cả hai kết quả đều có thể tiếp thêm động lực cho người biểu tình để tận dụng lợi thế của mình. Họ có thể chiếm giữ các đồn cảnh sát và các tòa nhà chính phủ và thành phố. Khi lực lượng an ninh không còn cản trở hoặc tích cực hỗ trợ họ, người biểu tình có thể chiếm giữ đài truyền hình, đài phát thanh và các phương tiện truyền thông khác của nhà nước và phát sóng tuyên bố về sự kết thúc của Cộng hòa Hồi giáo. Một kết quả như vậy sẽ có những điểm tương đồng với cuộc cách mạng năm 1979: Cộng hòa Hồi giáo kỷ niệm ngày 11 tháng 2 là "Ngày Chiến thắng Cách mạng Hồi giáo" vì đó là ngày mà lực lượng vũ trang Iran tuyên bố trung lập, thực chất là từ bỏ chính phủ hiện tại và giao đất nước cho quần chúng cách mạng.

Sự sụp đổ của Cộng hòa Hồi giáo, tất nhiên, sẽ rất hỗn loạn. Nhiều nhà phân tích lo ngại rằng Iran sẽ chỉ đơn giản là có một nhà lãnh đạo mạnh mẽ mới, có thể là người nào đó nổi lên từ đống tro tàn của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC). Nhưng điều đó còn lâu mới được định đoạt. Những người biểu tình mới được trao quyền có thể sử dụng các nền tảng mới của họ để kêu gọi bộ máy hành chính dân sự lớn của đất nước tiếp tục hoạt động để duy trì các chức năng của chính phủ. Họ cũng có thể đưa các nhà lãnh đạo đối lập lưu vong của Iran, những người đã lên kế hoạch và có thể giúp dẫn dắt quá trình chuyển đổi, vào cuộc. Việc Washington từ bỏ các lựa chọn quân sự vì lo sợ bất ổn sẽ đồng nghĩa với việc biến cái hoàn hảo thành kẻ thù của cái tốt. Nguồn gốc thực sự của sự bất ổn ở Iran và khu vực xung quanh không phải là viễn cảnh thay đổi chế độ, mà chính là Cộng hòa Hồi giáo Iran.

MỘT LỐI THOÁT DUY NHẤT

Khi được hỏi về một “kết cục” chấp nhận được với Iran, ông Trump trả lời: “thắng”. Sau nhiều thập kỷ chống Mỹ và thù địch không ngừng của Iran, tất cả mọi người đều hiểu rằng chiến thắng có nghĩa là lật đổ Cộng hòa Hồi giáo. Chế độ này là kẻ gây ra nhiều cuộc xung đột ở Trung Đông và là nỗi kinh hoàng đối với chính công dân của mình. Washington nên sử dụng lực lượng quân sự bền vững để phá vỡ chế độ này và từ đó mở đường cho người dân Iran giành lại đất nước của họ.

Điều đó không có nghĩa là việc giúp lật đổ Cộng hòa Hồi giáo sẽ dễ dàng. Hoa Kỳ sẽ gặp phải những thách thức đáng kể. Họ sẽ đối mặt với những biến số không xác định, bao gồm khả năng phục hồi của các cơ quan an ninh Iran khi đối mặt với hỏa lực của Mỹ và khả năng chịu đựng rủi ro của chính chính quyền Trump khi gặp khó khăn. Nhưng ở thời điểm này, hành động táo bạo là cách duy nhất để phá vỡ cục diện hiện tại. Hoa Kỳ có cả năng lực và khả năng làm suy yếu chính phủ Iran đồng thời giảm thiểu những nguy hiểm phát sinh. Người dân Iran có động lực và quyết tâm cần thiết để kết liễu chế độ này. Cả hai cùng nhau sở hữu mọi thứ cần thiết để giành chiến thắng và kiến ​​tạo một Iran mới.

https://www.foreignaffairs.com/iran/what-it-will-take-change-regime-iran

NVV

 

 2026-02-24  

Thuế quan có hai vai trò: vừa là chính sách áp thuế thuộc thẩm quyền Quốc hội, vừa là chính sách đối ngoại thuộc độc quyền của tổng thống.
Đa số thẩm phán Tòa án Tối cao đã không nhận ra vai trò thứ hai.


(John C. Eastman, The American Mind, 24/2/2026)

Về vấn đề thuế quan khẩn cấp của Tổng thống Trump, Tòa án Tối cao đã đưa ra phán quyết. Theo quan điểm của Tòa án, Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) không cho phép tổng thống áp đặt thuế quan trong tình trạng khẩn cấp đã được tuyên bố, cụ thể là thâm hụt thương mại lớn đe dọa an ninh kinh tế của chúng ta.

Tuy nhiên, phán quyết của Tòa án trong vụ Learning Resources, Inc. v. Trump lại rất chia rẽ. Chỉ có ba thẩm phán — Kagan, Sotomayor và Jackson — cho rằng luật, theo các nguyên tắc thông thường về giải thích luật, không trao cho tổng thống quyền áp đặt thuế quan. Ý kiến ​​phản đối của Thẩm phán Kavanaugh, được các Thẩm phán Thomas và Alito đồng thuận, đã chứng minh một cách thuyết phục tại sao điều đó không đúng. Như Thẩm phán Thomas đã lưu ý trong ý kiến ​​phản đối riêng của mình, quyền “điều chỉnh… nhập khẩu” trong suốt lịch sử nước Mỹ “được hiểu là bao gồm quyền áp đặt thuế đối với hàng nhập khẩu”.

Ba thẩm phán còn lại trong phán quyết đa số — Chánh án Roberts và các thẩm phán Gorsuch và Barrett — đã viện dẫn học thuyết về các vấn đề trọng yếu. Nguyên tắc giải thích luật này cho rằng Quốc hội phải nói rõ ràng tuyệt đối về các vấn đề có “ý nghĩa kinh tế và chính trị” thì Tòa án mới chấp thuận việc ủy ​​quyền cho nhánh hành pháp. Việc viện dẫn học thuyết về các vấn đề trọng yếu (the major questions doctrine *) ngụ ý rằng, theo các nguyên tắc thông thường về giải thích luật, đạo luật cho phép tổng thống hành động, một điểm mà Thẩm phán Gorsuch đã thừa nhận rõ ràng trong ý kiến ​​đồng thuận của mình.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ này. Tòa án chưa bao giờ áp dụng học thuyết về các vấn đề trọng yếu trong lĩnh vực chính sách đối ngoại trước đây — và có lý do chính đáng. Theo Điều II của Hiến pháp, tổng thống có trách nhiệm cốt lõi đối với chính sách đối ngoại. Chánh án Roberts đã thừa nhận điều này, nêu rõ trong phần ý kiến ​​chỉ nhận được ba phiếu thuận rằng “nói chung, Tổng thống đương nhiên được hưởng một số 'quyền lực hiến pháp độc lập' đối với các vấn đề đối ngoại 'ngay cả khi không có sự cho phép của Quốc hội'”. Đó là một cách nói giảm nhẹ khá lớn. Việc không nhận ra đầy đủ tầm quan trọng cơ bản của điều luật hiến pháp này là sai sót nghiêm trọng đầu tiên trong ý kiến ​​của chánh án.

Vụ án quan trọng của Tòa án Tối cao về điểm này là vụ United States v. Curtiss-Wright Export Corp. (1936), mà Chánh án Roberts không đề cập đến. Trong vụ án đó, Thẩm phán George Sutherland, thay mặt cho hầu hết các thẩm phán của Tòa án, đã nêu rõ sự khác biệt có nguyên tắc giữa quyền lực đối ngoại và quyền lực trong nước: “Trong lĩnh vực đối ngoại rộng lớn này, với những vấn đề quan trọng, phức tạp, tế nhị và đa dạng, chỉ có Tổng thống mới có quyền phát ngôn hoặc lắng nghe với tư cách là đại diện của quốc gia.” Sau đó, trích dẫn “lập luận quan trọng ngày 7 tháng 3 năm 1800 tại Hạ viện” của John Marshall, ông nói thêm, “Tổng thống là cơ quan duy nhất của quốc gia trong các mối quan hệ đối ngoại và là đại diện duy nhất của quốc gia với các nước ngoài.”

Vấn đề chính trong vụ án là liệu Quốc hội có thể ủy quyền cho tổng thống quyền cấm bán vũ khí cho bất kỳ bên nào trong cuộc chiến giữa Bolivia và Paraguay hay không. Nhưng Thẩm phán Sutherland không chỉ dựa vào đạo luật của Quốc hội. Ông viết: “Điều quan trọng cần ghi nhớ ở đây không chỉ là quyền hạn được trao cho Tổng thống thông qua việc thực thi quyền lập pháp, mà còn là quyền hạn đó cộng với quyền lực rất tế nhị, toàn diện và độc quyền của tổng thống với tư cách là cơ quan duy nhất của chính phủ liên bang trong lĩnh vực quan hệ quốc tế - một quyền lực không cần đến đạo luật của Quốc hội làm cơ sở để thực thi ….” Nói cách khác, Tổng thống Roosevelt có quyền cấm bán vũ khí ngay cả khi không cần đến đạo luật của Quốc hội.

Điều tương tự cũng đúng trong vụ kiện Learning Resources, Inc. kiện Trump. Ý kiến ​​phản đối của Thẩm phán Thomas đã chứng minh một cách thuyết phục lý do tại sao lại như vậy. Mặc dù chánh án tuyên bố rằng luật sư trưởng Sauer thừa nhận rằng “Tổng thống không có thẩm quyền vốn có để áp đặt thuế quan trong thời bình”, nhưng đó không hoàn toàn là những gì luật sư trưởng Sauer đã nói. Thay vào đó, ông lập luận rằng đạo luật đã ủy quyền thẩm quyền đó cho tổng thống. Theo Curtiss-Wright, yêu sách về thẩm quyền vốn có đối với chính sách đối ngoại vẫn có thể được chấp nhận.

Trong phần ý kiến ​​của Curtiss-Wright mà tôi đã lược bỏ ở trên, Thẩm phán Sutherland lưu ý rằng quyền lực của tổng thống đối với các vấn đề đối ngoại, “giống như mọi quyền lực khác của chính phủ, phải được thực hiện theo các điều khoản áp dụng của Hiến pháp”. Đối với Chánh án Roberts, việc quyền đánh thuế thuộc về riêng Quốc hội và hơn nữa, bất kỳ dự luật nào áp đặt thuế đều phải bắt nguồn từ Hạ viện — một sự thừa nhận kỳ lạ nếu xét đến quyết định trước đó của chánh án khi coi Obamacare là một loại thuế mặc dù nó bắt nguồn từ Thượng viện! — càng khẳng định thêm rằng Quốc hội không ủy quyền cho tổng thống bất kỳ quyền nào để áp đặt thuế quan.

Đó chính là điểm yếu chí mạng thứ hai trong phán quyết của Tòa án, bởi vì thuế quan (tariffs) có hai vai trò. Nó vừa là thuế (tax) vừa là công cụ của chính sách đối ngoại. Việc Tổng thống Trump áp đặt thuế quan rõ ràng là công cụ của chính sách đối ngoại (mặc dù, tình cờ thay, chúng cũng thu được rất nhiều tiền). Hiện tượng “hai vai trò” này không chỉ có ở thuế quan do tổng thống áp đặt. Nó được công nhận rõ ràng trong một điều khoản khác, có phần liên quan, của Hiến pháp. Điều I, Mục 10, Khoản 2 quy định rằng “Không một tiểu bang nào được phép, nếu không có sự đồng ý của Quốc hội, áp đặt bất kỳ loại thuế nhập khẩu hoặc thuế quan nào đối với hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu, trừ những gì hoàn toàn cần thiết để thực thi luật kiểm tra của mình”. Điều khoản này công nhận rằng thuế nhập khẩu (impost) hoặc thuế quan (duty) (tương tự như tariffs) có thể vừa là thuế vừa là sự thực thi quyền lực cảnh sát của tiểu bang. Việc thẩm quyền áp đặt các loại thuế đó được trao độc quyền cho Quốc hội theo Điều I, Mục 8 không loại bỏ khả năng của các tiểu bang trong việc sử dụng quyền lực đó cho mục đích khác là bảo vệ sức khỏe và an toàn thông qua luật kiểm tra của họ.

Tương tự như vậy với thuế quan. Việc quyền áp đặt thuế và phí là một phần của quyền đánh thuế được trao riêng cho Quốc hội không làm suy yếu khả năng của tổng thống trong việc sử dụng thuế quan như một công cụ cho chính sách đối ngoại — một “quyền lực toàn diện và độc quyền” được trao, như Curtiss-Wright đã làm rõ, cho tổng thống với tư cách là cơ quan “duy nhất” của chính sách đối ngoại.

Sự khác biệt này là nền tảng cho ý kiến ​​phản đối sâu sắc đặc trưng của Thẩm phán Thomas. Ông đã chỉ ra một con đường mà theo đó tổng thống có thể tiếp tục sử dụng thuế quan khi ông tham gia vào các hoạt động đối thoại với các quốc gia khác với tư cách là cơ quan duy nhất của chính sách đối ngoại Mỹ. Thời gian sẽ trả lời liệu Tòa án có tuân thủ phán quyết mang tính bước ngoặt lâu đời của mình trong vụ Curtiss-Wright hay không nếu và khi tổng thống đi theo con đường đó, nhưng chắc chắn là Tòa án nên làm vậy.

https://americanmind.org/salvo/the-tariff-wears-two-hats-what-scotus-doesnt-understand/

John C. Eastman là Giám đốc sáng lập Trung tâm Luật Hiến pháp của Viện Claremont, Nghiên cứu viên cao cấp của Viện Claremont và là giáo sư lâu năm về luật hiến pháp. Ông là tác giả của cuốn sách "Sinh ra ở Hoa Kỳ? Đánh giá lại quyền công dân theo nguyên tắc nơi sinh sau sự kiện 11/9" .

* The major questions doctrine là học thuyết buộc các vấn đề quan trọng của quốc gia phải có sự chấp thuận minh bạch của Quốc hội.

NVV

 

 2026-02-20  

Phán quyết về thuế quan của Tòa án Tối cao có thể làm Trump mạnh lên

(Kyle Sammin, Unherd, 20/2/2026)

Hôm nay, Tòa án Tối cao đã đưa ra phán quyết được chờ đợi từ lâu với tỷ lệ 6-3, khẳng định rằng Donald Trump không thể đơn phương áp đặt thuế quan lên hàng chục đối tác thương mại. Quyết định này là đúng đắn từ quan điểm diễn giải theo nghĩa đen, theo chủ nghĩa nguyên bản và theo quan điểm bảo thủ. Nhưng bất chấp sự tức giận của Trump, phán quyết này có lẽ sẽ không gây hại gì cho ông về mặt chính trị. Thậm chí, nó có thể củng cố vị thế của ông.

Ý kiến ​​của tòa án bị chia rẽ, với những ý kiến ​​phản đối và đồng thuận dài dòng. Phán quyết, do Chánh án John Roberts viết, thậm chí không được đa số nhất trí hoàn toàn, có nghĩa là chỉ những lập luận chính mới có tính ràng buộc. Nhưng kết quả cuối cùng vẫn như nhau: sáu thẩm phán đồng ý rằng Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) không cho phép Tổng thống áp đặt thuế quan bằng sắc lệnh hành pháp. Quyền đó đã được giao cho Quốc hội khi Hiến pháp được soạn thảo lần đầu tiên vào năm 1787, và quyền đó vẫn thuộc về Quốc hội cho đến ngày nay.

Phán quyết này đồng nghĩa với việc thuế quan của Trump bị bãi bỏ, và thậm chí có thể phải được hoàn trả (tòa án vẫn chưa đưa ra phán quyết về phần cuối cùng này). Điều này sẽ làm giảm doanh thu của chính phủ và gia tăng thâm hụt ngân sách, nhưng cũng có thể giúp giảm giá cả, mang lại sự giảm bớt gánh nặng chi phí đáng kể cho nhiều cử tri.

Trớ trêu thay, phần cuối cùng đó có thể có lợi cho Trump trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Ông ấy không hề thất hứa; chính tòa án mới là người thất hứa. Giờ đây, vì Tòa án Tối cao đã bác bỏ lời hứa đó, những cử tri tin tưởng vào chương trình nghị sự thương mại "Nước Mỹ trên hết" sẽ phải bầu ra một Quốc hội có thể ban hành các chính sách này thành luật.

Ba thẩm phán theo khuynh hướng tự do — Elena Kagan, Sonia Sotomayor và Ketanji Brown Jackson — đã ký vào phán quyết nhằm hạn chế quyền lực của tổng thống này. Tuy nhiên, một cách khá mỉa mai, họ đã từ chối ký vào phần ý kiến ​​của Roberts liên quan đến học thuyết về các vấn đề trọng yếu, vốn sẽ hạn chế quyền lực của mọi tổng thống. Trong khi đó, ba thẩm phán phản đối — Clarence Thomas, Samuel Alito và Brett Kavanaugh — muốn duy trì hoàn toàn thuế quan, lập luận rằng “thuế quan là một công cụ truyền thống và phổ biến để điều tiết nhập khẩu”, và chính phủ đã giải thích IEEPA một cách chính xác.

Phản ứng trước phán quyết này từ phía cánh tả có thể gây hoang mang, bởi vì nhiều nhà bình luận chính trị thuộc phe đó đã tự thuyết phục mình rằng Chánh án Roberts chỉ đơn thuần là một con dấu cao su cho chính quyền Trump. Ở đây, khi chống lại Tổng thống về vấn đề trọng tâm của ông, các thẩm phán đã chứng minh nhận định đó là sai. Tòa án không chỉ là chính trị trá hình, ít nhất là không phải đối với tất cả các thành viên của ngành tư pháp. Hầu hết các thẩm phán đều là thẩm phán trước tiên và thứ hai mới là người ủng hộ đảng phái, nếu có.

Phán quyết của tòa án chấm dứt việc áp thuế này, nhưng không kết thúc cuộc tranh luận về chính sách thương mại, vốn đã diễn ra từ thời Alexander Hamilton. Nhưng khi tuyên bố rõ ràng rằng phán quyết về thương mại thuộc về cơ quan lập pháp, tòa án nhắc nhở các thành viên Quốc hội rằng nếu họ muốn một chính sách được ban hành, thì chính họ phải là người ban hành nó. Ý tưởng rằng cơ quan lập pháp nên soạn thảo luật là một điều hiển nhiên đến mức, trong phần lớn lịch sử nước Mỹ, việc nói ra điều đó là không cần thiết. Trong thời điểm hiện tại, Quốc hội có thể cần phải nghe lại điều đó.

https://unherd.com/newsroom/supreme-court-tariff-ruling-may-strengthen-trump/
 

NVV

 

 2026-02-20  

Điều gì sẽ xảy ra với hàng tỷ đô la tiền thuế quan đã được thanh toán? Tòa án Tối cao vẫn chưa giải quyết xong vấn đề hoàn thuế.

(Ari Hawkins, Polotico, 20/2/2026)

Trong phán quyết bác bỏ phần lớn thuế quan do Tổng thống Donald Trump áp đặt hôm thứ Sáu, Tòa án Tối cao đã mở ra một cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến hơn 130 tỷ đô la mà chính phủ đã thu được từ các loại thuế này.

Trong phán quyết 6-3, các thẩm phán không ra lệnh cho chính quyền Trump hoàn trả tiền thuế đã nộp cho các nhà nhập khẩu, cũng như không nêu rõ cách thức hoàn trả. Điều này có thể khiến Tòa án Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm giải quyết hàng loạt vấn đề pháp lý liên quan đến việc hoàn trả; theo luật hải quan, các yêu cầu hoàn thuế thường được xử lý thông qua tòa án tập trung vào thương mại có trụ sở tại New York này và được Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ thi hành.

Chính tổng thống đã bày tỏ sự tiếc nuối về việc tòa án bỏ sót vấn đề này trong một cuộc họp báo chiều thứ Sáu. “Họ mất hàng tháng trời để viết một phán quyết và họ thậm chí không thảo luận về điểm đó,” ông nói với các phóng viên tại Tòa Bạch Ốc. “Chẳng lẽ họ không nghĩ rằng họ sẽ đưa ra một câu nói rằng, ‘hãy giữ tiền’ hay ‘đừng giữ tiền’, phải không? Tôi đoán là vụ việc này sẽ phải được đưa ra tòa án trong hai năm tới.”

Trong một ý kiến ​​phản đối, Thẩm phán Brett Kavanaugh cảnh báo rằng quá trình hoàn thuế sẽ là một “mớ hỗn độn” — lặp lại mô tả của Thẩm phán Amy Coney Barrett trong phiên tranh luận miệng. Tuy nhiên, bà Barrett vẫn tham gia cùng đa số trong phán quyết chống lại các khoản thuế mà ông Trump đưa ra.

“Tòa án hôm nay không nói gì về việc liệu, và nếu có thì bằng cách nào, Chính phủ nên hoàn trả hàng tỷ đô la mà họ đã thu được từ các nhà nhập khẩu,” Kavanaugh viết, thêm rằng “việc hoàn trả hàng tỷ đô la sẽ có những hậu quả đáng kể đối với Kho bạc Hoa Kỳ.”

Đó là điểm mà tổng thống và các quan chức kinh tế cấp cao khác đã nhiều lần nhấn mạnh trong quá trình chuẩn bị cho phán quyết của tòa án. Trong một bài đăng trên Truth Social tháng trước, ông Trump cảnh báo rằng việc bãi bỏ thuế quan có thể buộc Hoa Kỳ phải hoàn trả “hàng trăm tỷ đô la” — thậm chí “hàng nghìn tỷ” khi tính cả các khoản đầu tư liên quan — gọi kịch bản như vậy là “một mớ hỗn độn hoàn toàn” mà “gần như không thể để đất nước chúng ta chi trả.”

Các chuyên gia thương mại và hải quan đều đồng ý rằng bất kỳ quy trình hoàn trả nào cũng sẽ là một “cơn ác mộng” về mặt hậu cần đối với cả chính phủ liên bang và các công ty đang tìm kiếm sự bồi thường — và các cuộc tranh chấp pháp lý rất có thể sẽ xảy ra.

“Tôi cho rằng những người của ông Trump sẽ phản đối ý tưởng hoàn trả, và đó sẽ là điều tiếp theo được đưa ra tòa án,” Bộ trưởng Thương mại nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump, Wilbur Ross, cho biết trong một cuộc phỏng vấn. “Sẽ có thêm nhiều vụ kiện tụng.”

Điều đó sẽ tạo ra “gánh nặng đặc biệt bất công đối với các nhà nhập khẩu nhỏ hơn,” Scott Lincicome, phó chủ tịch kinh tế tổng quát tại Viện Cato theo chủ nghĩa tự do, cho biết, lưu ý rằng họ “thiếu nguồn lực để kiện đòi hoàn thuế quan.”

Bộ Tư pháp và các bên trong vụ kiện thuế quan đã yêu cầu Tòa án Thương mại Quốc tế thành lập một ủy ban điều hành để phối hợp hơn 1.000 vụ kiện liên quan đến hoàn thuế đang chờ giải quyết, một bước đi phổ biến trong các tranh chấp thương mại lớn và phức tạp.

Trong các hồ sơ tòa án, Bộ Tư pháp đã thừa nhận rằng nếu các mức thuế quan bị phán quyết là bất hợp pháp, các nhà nhập khẩu có thể sẽ được hoàn thuế, và Cục Hải quan và Biên phòng (CBP) sẽ xử lý việc này, chủ yếu thông qua hệ thống Môi trường Thương mại Tự động (Automated Commercial Environment system - ACE), khi cơ quan này chuyển sang thanh toán hoàn thuế hoàn toàn bằng điện tử.

“Cục Hải quan đang thiết lập quy trình để các nhà nhập khẩu nhận lại tiền hoàn thuế. Những khoản hoàn thuế này sẽ được xử lý theo thời gian, vì vậy sẽ không có khoản tiền bất ngờ nào đến với các nhà nhập khẩu chỉ sau một đêm,” ông Nazak Nikakhtar, người từng làm việc về các vấn đề thương mại tại Bộ Thương mại trong chính quyền Trump đầu tiên và hiện là đối tác tại công ty luật Wiley Rein, cho biết. “Tuy nhiên, khách hàng của họ, những người chưa tự mình đàm phán để được hoàn thuế quan, có thể sẽ không có bất kỳ biện pháp nào để giải quyết.”

Các nhóm ngành công nghiệp đã và đang gây áp lực lên chính quyền Trump để nhanh chóng hoàn trả tiền thuế.

“Chúng tôi tin tưởng vào khả năng của Cục Hải quan và Biên phòng (CBP) trong việc hành động nhanh chóng và cung cấp hướng dẫn rõ ràng cho các doanh nghiệp Mỹ về cách nhận lại tiền hoàn thuế đối với các khoản thuế quan đã bị thu bất hợp pháp,” Chủ tịch Hiệp hội May mặc và Giày dép Mỹ, ông Steve Lamar, cho biết trong một tuyên bố.

Hôm thứ Sáu, ông Trump không cho thấy điều đó có khả năng xảy ra. Khi được hỏi trực tiếp liệu ông có kế hoạch hoàn tiền cho các công ty đã trả thuế trong vài tháng qua hay không, tổng thống trả lời: “Tôi đã nói với các bạn câu trả lời rồi, điều đó không được đề cập [trong phán quyết]. Chúng ta sẽ phải ra tòa trong năm năm tới.”

https://www.politico.com/news/2026/02/20/tariff-refunds-supreme-court-00791244

NVV

 

 2026-02-20  

Hãy bình tĩnh, thuế quan vẫn đang được áp dụng.

(Oren Cass và Daniel Kishi, Commonplace, 20/2/2026)

Tôi ngạc nhiên trước việc Tòa án Tối cao đã ngăn chặn việc sử dụng thuế quan IEEPA một cách rộng rãi và thẳng thừng như vậy, trong khi họ hoàn toàn có thể đưa ra một số hướng dẫn giới hạn thẩm quyền và sau đó trả lại cho các tòa án cấp dưới để giải quyết. Ngược lại, quyết định rằng IEEPA không cho phép áp thuế quan trong bất kỳ trường hợp nào lại tạo ra một tình huống khá kỳ lạ — như Tổng thống Trump đã lưu ý trong cuộc họp báo của mình — trong đó ông có thể hạn chế thương mại, cấp phép thương mại, cấm vận thương mại, bắt buộc hạn ngạch thương mại, nhưng lại không bao giờ thu bất kỳ loại thuế hoặc phí nào. Đó là một lập trường có phần mỉa mai mà Chánh án đưa ra, sau khi ông đã cứu vãn chính sách y tế đặc trưng của Tổng thống Obama bằng cách diễn giải một cách khá sáng tạo về thuế trong khi chỉ có quy định bắt buộc.

Nhưng như các chuyên gia thương mại thuộc mọi khuynh hướng chính trị đã nhận định từ khi vụ kiện bắt đầu, và như Tổng thống Trump đã nhấn mạnh chiều nay, phán quyết này không có nhiều tác động thực chất đến chương trình nghị sự thương mại của chính quyền. Thậm chí người ta có thể hiểu ý kiến ​​của Chánh án Roberts, người cũng biết rõ điều này, như là mô phỏng phong cách của John Marshall trong vụ Marbury kiện Madison : tận dụng cơ hội để đưa ra các nguyên tắc sẽ hạn chế quyền hành pháp mãi mãi (trong trường hợp này, thông qua Học thuyết về các vấn đề trọng yếu -  Major Questions Doctrine) vào thời điểm mà nhánh hành pháp không mấy bận tâm.

Và quả thực, Trump dường như không hề nao núng và tỏ ra rất vui vẻ trong phản ứng của mình. Để hiểu tại sao, và điều gì có thể xảy ra tiếp theo, chúng ta hãy quay lại khuôn khổ mà chúng ta đã sử dụng kể từ ngày Liberation Day, trong đó chia thuế quan thành ba loại: Thuế quan Toàn cầu, Thuế quan Đối ứng và Trung Quốc.

1. Thuế quan toàn cầu. Mức thuế quan cơ bản 10% là một chính sách quan trọng để cân bằng lại thương mại toàn cầu và cũng tạo ra nguồn thu đáng kể, nhưng luôn khó để phù hợp với các quy định của IEEPA. Lý tưởng nhất là nó sẽ được lập pháp hóa; trên thực tế, dự luật đã được đệ trình. Trong thời gian chờ đợi, tổng thống tuyên bố ông sẽ sử dụng Điều 122 của Đạo luật Thương mại năm 1974, cho phép ông giải quyết thâm hụt thương mại bằng cách áp đặt mức thuế quan cơ bản lên đến 15% đối với tất cả các quốc gia. Vì vậy, sẽ có rất ít thay đổi trong ngắn hạn, mặc dù thẩm quyền đó sẽ hết hạn sau 150 ngày trừ khi Quốc hội bỏ phiếu gia hạn, cuối cùng tạo ra một thời điểm hành động không thể tránh khỏi ở phía cuối Đại lộ Pennsylvania.

2. Thuế quan có đi có lại. Đây là các loại thuế quan nhắm mục tiêu vào từng quốc gia cụ thể mà tổng thống đã sử dụng để tạo đòn bẩy đàm phán nhằm đạt được các thỏa thuận song phương với nhiều đồng minh. Quy trình tối thiểu mà IEEPA yêu cầu trước khi điều tiết thương mại (mà theo Tòa án Tối cao, không thể bao gồm việc áp thuế quan) đã biến nó thành một công cụ đặc biệt hiệu quả trong đàm phán, nhưng tổng thống có thể áp đặt các mức thuế quan tương đương — hoặc cao hơn — thông qua Điều 301 của Đạo luật năm 1974 và Điều 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại năm 1962. Những điều này đòi hỏi một quy trình kỹ lưỡng hơn, nhưng việc áp đặt là một mối đe dọa hoàn toàn đáng tin cậy, và các quốc gia đã tham gia đàm phán hoặc đạt được thỏa thuận có thể sẽ nhận ra rằng việc rút lui vào lúc này là không khôn ngoan.

Việc đàm phán lại Hiệp định USMCA với Mexico và Canada đang diễn ra là một phần đặc biệt quan trọng trong số nhiều cuộc đàm phán. Việc đạt được một thỏa thuận thành công với các quốc gia này (cho dù là giữa cả ba nước, hay hai thỏa thuận song phương) nhằm tạo ra khuôn khổ đảm bảo thương mại công bằng và cân bằng trên lục địa của chúng ta sẽ là nền tảng quan trọng cho thương mại giữa các đồng minh rộng lớn hơn của Hoa Kỳ. Ở đây, một lần nữa, việc đàm phán lại đang được tiến hành và tổng thống vẫn giữ được đòn bẩy đáng kể thông qua các luật thương mại khác, và các khía cạnh khác của mối quan hệ Bắc Mỹ, để đạt được các điều khoản thỏa đáng.

3. Trung Quốc. Một mặt, Trung Quốc là trường hợp dễ giải quyết nhất. Tổng thống đã áp đặt thuế quan diện rộng đối với Trung Quốc dựa trên các thẩm quyền đã được thiết lập trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, Tổng thống Biden phần lớn duy trì chúng, và giờ đây chúng còn được mở rộng hơn nữa. Thuế quan theo IEEPA đã góp phần làm tăng tổng mức thuế, nhưng không ai thực sự nghi ngờ rằng Trump có thể sử dụng các thẩm quyền khác để áp thuế lên Trung Quốc cao đến mức ông ta muốn, xét đến vị thế của nước này vừa là đối thủ rõ ràng, vừa là mối đe dọa an ninh quốc gia, và là một tác nhân xấu rõ ràng trong hệ thống thương mại.

Mặt khác, Trung Quốc là nơi chiến lược của tổng thống còn nhiều điều chưa rõ ràng. Kể từ cuộc gặp với Chủ tịch Tập Cận Bình hồi tháng 10, ông Trump chủ yếu cố gắng giảm bớt áp lực và tránh đối đầu, và với hội nghị thượng đỉnh tiếp theo dự kiến ​​diễn ra vào tuần lễ ngày 30 tháng 3, không ai chắc chắn liệu ông đang tìm cách tăng cường ảnh hưởng hay phát tín hiệu về cam kết hòa giải. Nếu ông sử dụng việc mất thuế quan IEEPA làm cái cớ để giảm thuế suất đối với Trung Quốc, đó sẽ là một dấu hiệu đáng lo ngại cho hội nghị thượng đỉnh và sẽ làm suy yếu nỗ lực đang diễn ra nhằm đẩy chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc, điều này phụ thuộc vào việc duy trì thuế quan ở đó cao hơn đáng kể so với các nước khác.

Đây là cơ hội rõ ràng nhất để Quốc hội hành động, bằng cách thu hồi quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) của Trung Quốc. Việc thu hồi PNTR là khuyến nghị lưỡng đảng của cả Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung và Ủy ban Chọn lọc (Select Committee)Hạ viện về Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ngoại trưởng Marco Rubio, khi còn là Thượng nghị sĩ, đã đồng bảo trợ dự luật nhằm thực hiện điều này, và dự luật này cũng có một dự luật lưỡng đảng tương ứng tại Hạ viện. Quốc hội có thể khẳng định lại vai trò của mình trong chính sách thương mại và giải quyết vấn đề về hướng đi tương lai của mối quan hệ Mỹ-Trung, chính xác theo những đường lối có sự đồng thuận rộng rãi nhất.

Vấn đề phức tạp rõ ràng nhất mà phán quyết này gây ra cho chương trình nghị sự của tổng thống có thể nằm ở vấn đề vận chuyển quá cảnh. Mỹ có thể dựng lên các rào cản riêng đối với hàng hóa Trung Quốc, nhưng nếu muốn duy trì thương mại tự do với Mexico, hoặc thậm chí là Malaysia, và các quốc gia đó không dựng lên bất kỳ rào cản nào như vậy, thì hàng hóa vẫn sẽ sớm thâm nhập vào thị trường Mỹ. Tổng thống đã sử dụng thuế quan IEEPA như một đòn bẩy để buộc các nước cam kết ngăn chặn vận chuyển quá cảnh, và mối đe dọa tái áp dụng các loại thuế quan này là một cơ chế thực thi đặc biệt hiệu quả nếu các cam kết không được thực hiện. Đây là một vấn đề khác mà cả hai đảng trong Quốc hội và ngay cả những người ủng hộ thương mại tự do mạnh mẽ nhất cũng có thể đồng ý, và cũng có thể là cơ sở cho luật mới.

Dù Tòa án nghĩ gì về quyết định của mình, ông Trump vẫn đúng khi cho rằng xét trên nhiều khía cạnh, phán quyết đó “đã làm cho khả năng điều tiết thương mại và áp đặt thuế quan của tổng thống trở nên mạnh mẽ và rõ ràng hơn, chứ không phải yếu đi”. Ông đã đưa ra một lựa chọn chiến lược là hành động nhanh chóng với thẩm quyền linh hoạt nhất, ngay cả khi đó không phải là thẩm quyền có cơ sở pháp lý vững chắc nhất. Một năm trôi qua đã cho nhóm của ông thời gian để đạt được tiến bộ to lớn trong các cuộc đàm phán và khởi xướng các quy trình sẽ tạo nền tảng ổn định hơn cho những nỗ lực tiếp theo.

Peter Harrell là một trong những nhà bình luận sắc bén nhất về vụ việc này (và đã dự đoán chính xác hơn tôi!). Ông kết luận bài phân tích của mình với nhận định mà tôi đồng tình về các công cụ đang nổi lên hiện nay: “Việc các cơ quan chức năng càng khắt khe thì chính sách thuế quan trong tương lai càng có trật tự, kỷ luật, hợp lý và mạnh mẽ hơn.” Một khuôn khổ tốt hơn cho hệ thống thương mại toàn cầu, và những động lực tốt hơn cho đầu tư trong nước, luôn đòi hỏi những nền tảng vững chắc hơn so với IEEPA. Việc hướng tới những nền tảng đó là điều tốt.

Ngay sau ngày Liberation Day, tôi đã viết về sự cần thiết của việc chính quyền phải “chuyển từ vị thế đang gặp khó khăn sang một vị thế tiến lên bền vững”. Có vẻ như, đúng vào dịp kỷ niệm một năm Liberation Day, chúng ta sẽ ăn mừng việc thiết lập được vị thế như vậy.--Oren

https://www.commonplace.org/p/keep-calm-the-tariffs-are-on
 

NVV

 

 2026-02-21  

VÌ SAO TRUMP MANG LẠI THÙ GHÉT CHƯA TỪNG THẤY

 (Vũ Linh, Diễn Đàn Trái Chiều, 21/2/2026)

  Việc chống đối Trump có nhiều khía cạnh cần nhận chân cho rõ.

    Trước hết, ta cần tìm hiểu sâu hơn về cái gọi là 'hiện tượng' Trump để hiểu cho rõ hơn vai trò và vị thế của Trump trong lịch sử Mỹ, bỏ qua những công kích tào lao của đám vẹt, kiểu như Trump chuyên nói láo, gian dâm, trốn thuế, trốn lính, độc tài, gian manh,... có tính ấu trĩ, chỉ phản ảnh trình độ thấp kém, chửi bới lăng nhăng vô nghĩa của đám vẹt thiếu giáo dục căn bản.

    Trở lại câu hỏi tại sao Trump lại gây tranh cãi lớn như vậy, bị chống đối mạnh như vậy, phải nhìn nhận trả lời câu hỏi này không dễ, có phần rắc rối. Nếu có thể tóm tắt được thì trên căn bản, có 4 yếu tố khiến Trump bị đánh phá tàn bạo nhất:

  1. Trump làm TT trong môi trường đã bị phân hóa chính trị cực đoan nhất;
  2. Trump đưa ra một ý thức hệ trái ngược tuyệt đối với cánh tả đã nắm quyền từ thời Obama, mang tính 'nhổ cỏ tận gốc';
  3. Trump có cá tính đặc biệt rất mạnh, ăn nói cũng như hành động một cách cứng rắn nhất, gây tranh cãi mạnh nhất;
  4. Trump bị truyền thông dòng chính coi như kẻ thù sinh tử phải chặn bằng mọi giá, nghĩa là đánh chết bỏ, khuynh đảo dư luận quần chúng bằng cách thổi phồng cho thật lớn những chuyện bất lợi cho Trump.

1. BỐI CẢNH PHÂN HÓA

    Như DĐTC đã bàn qua nhiều lần, chính trường Mỹ ngày càng bị phân hóa nặng, đặc biệt là từ thời Obama. Khi Obama còn làm TT, báo loa phường Washington Post đã tặng ông ta danh hiệu 'tổng thống gây phân hóa nhất lịch sử chính trị Mỹ' tính tới thời điểm đó.

    Cái mỉa mai lớn nhất là Obama đã được bầu làm TT vì tiếng nói có vẻ ôn hòa, kêu gọi đại đoàn kết toàn dân bất kể khác biệt màu da, chủng tộc, chính kiến,... 'There is no white America, no black America, there is only the United States of America'. Đó chính là câu rao hàng mang Obama lên đỉnh cao của quyền lực. Nhưng tiêu biểu cho tất cả chính trị gia Mỹ, Obama nói một đằng làm một nẻo. 

    Chẳng bao lâu ngay sau khi tuyên thệ nắm quyền, Obama đã chửi thẳng mặt phe đối lập CH: 'Bầu cử có hậu quả'. Nghĩa là như một con vẹt đã viết một cách thô lỗ nhất để công kích Trump "Tao thắng cử, tao muốn làm gì thì làm. Tụi mày thua, câm miệng lại". 

    Obama có thể rất dẻo lưỡi, nhưng về chính sách và cách hành động, không dẻo chút nào. Luật đầu tiên, cũng là luật lớn nhất là Obamacare là luật cực đoan nhất mà nhiều đời TT không ai dám đụng tới vì tốn kém quá nhiều. Đúng như ông tiền nhiệm Clinton đã nhận định: đó là một cái luật điên rồ nhất: vì muốn cho một chục triệu người có bảo hiểm y tế, cả 60 triệu người phải è cổ đóng bảo phí gấp hai lần, phải đổi bác sĩ, nhà thương, thuốc men,... Nhưng Obama bất chấp. Obama chính là người đã 'khai sinh' ra nạn phân hóa nặng nề trong chính trường Mỹ.

    Thêm vào đó, thời Obama cũng là thời đã khai sinh ra cái gọi là  chính trị theo cá tính hay bản năng -identity politics- với những đặc điểm của cá nhân như màu da, giới tính, tính tình, giai cấp xã hội, học vấn,... thay thế hoàn toàn ý thức hệ, quan điểm chính trị, chính sách kinh bang tế thế,... Thiên hạ chúi mũi vào đời tư, cá nhân các chính khách. Obama đắc cử phần lớn vi màu da chứ chẳng phải vì tài cán, kinh nghiệm hay đường hướng, chính sách tương lai. Kinh nghiệm của Obama là kinh nghiệm của một anh lo làm đẹp một khu phố (thông cống, đắp ổ gà, thay bóng đèn đường,...), trong khi chính sách của Obama toàn là ... hy vọng, HOPE!

    Đưa đến Trump là người lý tưởng nhất để soi mói vì quá khứ cũng như cá tính thật đặc biệt, thật phức tạp của Trump.

2. KHẮC BIỆT Ý THỨC HỆ

    Đã vậy, nếu có ai đó nhìn kỹ các vấn đề chính sách, quan điểm chính trị, thì thấy ngay Trump đứng bên kia đầu cầu so với Obama, khác một trời một vực với Obama. Trong khi Trump là một doanh gia bảo thủ thì Obama lại là một trí thức cấp tiến. 

    Tính cấp tiến của Obama có thể nói là hơn xa tất cả các TT tiền nhiệm. Ngay trước khi Obama lên nắm quyền là TT CH Bush con, nhưng trước Bush con đã là Clinton. Tuy thuộc đảng DC, nhưng Clinton nổi tiếng vì là người đã rất 'hoành tráng' tuyên bố "Nhà Nước bao đồng khổng lồ như chúng ta biết đã cáo chung" -the big government as we know it is over-. Nôm na ra, chính sách cấp tiến đã cáo chung trong cơn lũ lụt bảo thủ Reagan. Chỉ sống lại với Obama gần ba chục năm sau.

    Trong khi Trump lại rất bảo thủ, công khai chủ trương trở về lại những giá trị bảo thủ nền tảng như giá trị gia đình, bác bỏ phá thai, bác bỏ đồng tính, tôn vinh tôn giáo lại, chống cộng và xã nghĩa triệt để. Ngay cả trong cuộc sống cá nhân của Trump và các con, ai cũng thấy rõ: không hút sách, không rượu chè, không cờ bạc tuy sở hữu cả lô sòng bài. Trump có thẻ có ba vợ, nhưng không cuỗm vợ bạn, cũng không tắm chung với con gái. Không có đứa con nào như quái thai Hunter Biden.

    Khác biệt DC-CH qua con người Obama, Trump, rồi Biden,... nổi bật rõ ràng, phá rách thêm phân hóa giữa hai đảng

    Đi xa hơn khác biệt ý thức hệ, phe DC coi Trump như một đe dọa nguy hiểm nhất cho thể chế dân chủ kiểu Mỹ. Thật ra, Trump là một đe dọa cho sự sống còn của ĐẢNG DÂN CHỦ -Democratic Party- chứ không phải cho thể chế dân chủ -democratie-, cũng là đe dọa lớn nhất cho tất cả mọi ước vọng cấp tiến thiên tả.

    Dĩ nhiên là đã có những công kích đi quá trớn như tố cáo Trump là Hitler, nhưng những tố cáo đó mang tính tuyên truyền xuyên tạc rẻ tiền, dùng để nói chuyện với đám đông ít hiểu biết, dễ hiểu cho họ, dễ dẫn dắt họ -đám vẹt là tiêu biểu, ôm chầm lấy tuyên truyền rẻ tiền này, ra rả tố Trump là Hitler, thậm chí còn trẻ con tới độ đặt tên Trump là Adolf Trump, Vladimir Trump, Tập Cận Trump, Hồ Chí Trump,... 

    Trump lại thẳng tay lật ngược hay xóa bỏ rất nhiều biện pháp mà phe cấp tiến coi như xương sống của chính sách cấp tiến: giảm thuế quy mô, trục xuất di dân lậu, siết chặt trợ cấp, xóa bỏ văn hóa 'thức tỉnh', và kinh hoàng nhất, dường như Trump đã thành công lớn trong việc sắp xếp lại các khối cử tri, mang khối lao động trước đây là lực lượng cử tri nồng cốt của đảng DC qua phe CH, chưa kể đang gặm nhấm mạnh vào các khối cử tri da nâu và da đen luôn. Trump hiển nhiên đang giết đảng DC, từ chính sách tới nhân sự.

    Nguy hiểm hơn nữa, Trump đã công khai thử thách xem quyền hạn của mình đi được bao xa như DĐTC đã bàn qua. Trump có vẻ coi phe đối lập DC như ruồi, coi các quan tòa như tay sai của đảng DC nhắm mắt cản Trump, và nhất là coi cả truyền thông như kẻ thù. Nghĩa là Trump đang phá nát tất cả các định chế nền tảng của thể chế chính trị Mỹ.

    Mà cái bực mình khiến đối lập không thể chịu nổi là những chính sách của Trump lại thành công, có những kết quả thật khó công kích, được hậu thuẫn chung của dân cả nước. Chẳng hạn như Trump giảm thuế đồng loạt cho tất cả dân Mỹ. Phe cấp tiến bóp méo, xuyên tạc Trump giảm thuế nhà giàu, siết cổ nhà nghèo, nhưng phiền là chẳng ai tin, ngoại trừ những người cuồng nhất.

    Hay khi Trump tăng thuế quan đồng loạt cho cả thế giới khiến dân Mỹ hầu hết thấy vui vì bớt bị khai thác. Phe cấp tiến ra rả tố tăng thuế quan, dân Mỹ sẽ lãnh đủ, với vật giá bay lên mây rất nhanh. Một năm sau khi Trump nắm quyền, người dân chỉ thấy lạm phát ngày càng bớt thôi, bây giờ đang ở mức thấp kỷ lúc 2,4%. Một con vẹt con la hoảng mỗi lần đổ xăng là tim ngừng đập vì cháy túi, khiến tất cả thiên hạ lăn ra đất cười hô hố vì trên thực tế xăng trên cả nước bây giờ xấp xỉ khoảng 2-3 đô một ga-lông, so với 5-6 đô thời Biden.

   Chủ trương thu nhỏ Nhà Nước của Trump cũng là một nguyên do khổng lồ cho việc thù ghét Trump. Cả ngàn, cả vạn công chức ngồi mát ăn bát vàng bị Trump cho về nhà đuổi gà, thì lẽ đương nhiên, những công chức mất việc đó và gia đình, bạn bè,... không thể nào mê thích Trump được.

    Trong vấn đề di dân lậu, Trump ra tay không hề mềm mỏng gì, thậm chí có khi quá nặng tay, nhưng kết quả là trong một năm đầu đã có hơn 2 triệu di dân lậu ra khỏi xứ, tự nguyện hay bị bắt. Dân tị nạn Việt trên thực tế hưởng lợi với chính sách của Trump vì nhiều lý do: bớt cạnh tranh về công ăn việc làm, giúp mức lương có thể lên cao hơn, được an toàn hơn trong các khu phố Việt gần các khu di dân lậu,... Thế nhưng đám vẹt tị nạn cuồng chống Trump nhắm mắt nhai lại lập luận của truyền thông loa phường, sỉ vả Trump lung tung, còn phịa chuyện hù dọa vớ vẩn Trump có thể trục xuất luôn cả dân tị nạn Việt.

    Tất cả những thành công của Trump ép đảng DC tới chỗ phải nhắm mắt nhắm mũi trả đòn, đánh Trump chết bỏ để tìm sống.

3. CÁ TÍNH CỦA TRUMP

    Ngay cả cách xử thế hai người cũng là hai thái cực. Obama dẻo lưỡi bao nhiêu thì Trump huỵch tẹt thẳng thừng bấy nhiêu. Hai hướng đi kèm theo hai cách hành động khác nhau như nước với lửa.

    Hai cách làm việc có thể hiểu được nếu nhìn kỹ hơn.

    Trước Obama, đã có vài ứng cử viên TT da đen ra tranh cử TT, nổi nhất là mục sư Jesse Jackson. Nhưng những người này hùng hổ, hăng say hô hào vung bọt mép quyền tranh đấu của dân da đen, khiến cho đa số cử tri da trắng -dù sao, dân da trắng cũng chiếm hơn 2/3 tổng số cử tri Mỹ- sợ hãi không dám bầu cho họ. Thông điệp của Obama là thông điệp của ôn hòa, trấn an, kêu gọi đại đoàn kết không phân biệt đen trắng, đặc biệt là dân da đen cần hòa nhập với dân da trắng chứ không phải tranh đấu chống dân da trắng. Do đó, dân da trắng yên tâm hơn, Obama đã thu được một số phiếu khổng lồ của chính dân da trắng vì hy vọng vuốt được dân da đen, mang lại chiến thắng cuối cùng cho ông. 

    Trump trái lại, thấy tình trạng hiện hữu ngày càng suy thoái, đại đa số dân Mỹ ngủ say trong khi chiếc xe Cờ Hoa đang lao xuống vực thẳm của suy đồi. Điều Trump thấy cần làm không phải là ru ngủ dân Mỹ thêm nữa, mà trái lại, phải lay tỉnh dân Mỹ, cho họ thấy cái vực thẳm trước mắt, để họ kéo thắng, trở đầu xe. Trump rung chuông báo động đinh tai và hô hoán ầm ĩ:

  • Vạch mặt đảng DC mánh mung mua chuộc cử tri bằng cách vung tiền trợ cấp đủ loại qua cửa sổ, chấp nhận thất thoát, phung phí, tham nhũng, ăn cắp, coi những thứ đó là cái giá phải trả để mua chuộc cử tri tức là mua phiếu;
  • Vạch mặt gian trá phe đảng một chiều của truyền thông qua các vụ kiện, khiến truyền thông hốt hoảng phải bồi thường Trump cả 80 triệu đô;
  • Vạch mặt cho cả nước thấy tính phe đảng của một đám quan tòa nhí cấp quận -district- bằng cách kháng cáo tất cả những phán quyết bất lợi cho ông ta, đưa đến việc hầu hết các phán quyết của các quan tòa nhí này đều bị các tòa trên lật ngược;
  • Quan trọng hơn cả, vạch rõ chính sách mở toang cửa biên giới cho di dân lậu tràn vào vì tương lai lâu dài của đảng DC, trong khi nhắm mắt ngó lơ những đại họa nạn di dân lậu mang theo vào Mỹ: đe dọa văn hóa Mỹ, tạo gánh nặng tài chánh vĩ đại cho nước Mỹ qua trợ cấp đủ loại, phí tổn y tế, giáo dục, kinh tế, an ninh trật tự, và nạn ma tuý, băng đảng tràn lan.

    Bản tính con người không ưa những xáo trộn, càng không thích bị bắt phải nhìn thẳng vào những sự kiện không vui, nên khi bị Trump đánh thức, trưng ra những đại họa trước mắt, tất nhiên cảm thấy khó chịu. Phe cấp tiến và đảng DC chỉ cần đổ xăng tiếp để nuôi đám lửa do chính họ đốt lên thôi.

4. TRUYỀN THÔNG VÀ MẶNG XÃ HỘI

    Phải nói ngay, kể từ thời Obama qua tới thời Trump, chưa bao giờ các chính trị gia hiểu rõ hơn giá trị và ảnh hưởng quần chúng của phương tiện truyền thông. Cả hai ông Obama và Trump đều khai thác sức mạnh của truyền thông tới mức tối đa, tuy qua hai cách đối nghịch nhau. Obama khích động cho truyền thông tung hô mình lê mây (Newsweek khi đó gọi Obama là... GOD !!!), trong khi Trump khiêu khích cho truyền thông chống mình, nhưng với kết quả tất nhiên là cả hai đều được truyền thông đưa lên trang nhất các báo.

    Việc khai thác này thật ra không khó vì ngay từ căn bản, truyền thông có khuynh hướng cấp tiến, sẵn mang mặc cảm da trắng ăn trên ngồi chóc, kỳ thị da đen, nên có phần muốn chuộc lỗi, nịnh Obama tới bến, trong khi Trump sẵn bị truyền thông ghét sẵn vì tư tưởng bảo thủ cộng thêm khinh thường báo chí, nên đánh Trump tàn bạo, từ loan tin bất lợi tới bình luận công khai đầy thù oán. 

    Quan điểm của truyền thông dù muốn hay không cũng có ảnh hưởng lớn trên dư luận quần chúng, đưa đến tình trạng phân hóa càng nặng thêm. Những người ghét Trump coi truyền thông như tiếng nói của công lý, của sự thật bị Trump giấu diếm, trong khi những người thích Trump càng thù ghét truyền thông phe phái thiếu trung thực hơn nữa, nên lại ôm Trump chặt hơn.

    Ngay từ đầu, giữa Trump và truyền thông đã không hề có sự cảm thông hay thân thiện nào. Đã vậy, cả hai bên đều chẳng bên nào có thiện chí muốn cải thiện quan hệ. Trái lại, truyền thông nhấm mắt nhắm mũi đánh Trump chết bỏ, bất cứ chuyện gì. Lý do giản dị là khác biệt quan điểm chính trị dĩ nhiên, nhưng truyền thông cũng nhìn thấy ngay đánh Trump ăn tiền, dễ bán báo, bán quảng cáo hơn xa ủng hộ Trump. Tới độ ngay cả các cơ quan truyền thông bảo thủ Fox News và The Wall Street Journal,... cũng cân nhắc và đánh Trump luôn. Những cơ quan ngôn luận lớn, chống Trump mạnh nhất, đều là sở hữu của các đại tài phiệt giầu nứt đá đổ vách. Quan điểm chính trị gì gì không cần biết, tiền quảng cáo và mua báo, mua cable thơm hơn tất cả mọi thứ. Tới độ ngay cả lô dân Việt tị nạn cũng thấy làm clip YouTube, hay ngay cả mở đài tivi với một máy quay phim và một xướng ngôn viên để bôi bác, sỉ vả Trump, dễ kiếm tiền hết sức.

    Các trang mạng xã hội Facebook, Twitter,... cũng thấy rõ các bôi bác, sỉ vả Trump có kết quả câu khách và câu tiền mạnh hơn xa những góp ý ủng hộ Trump, nên đã cố hết sức giúp phe chống Trump, thậm chí cấm cung đuổi Trump và những ai ủng hộ Trump luôn.

    Đi xa hơn nữa, những người gọi là nổi tiếng -celebrities- cũng để ý thấy lên tiếng sỉ vả Trump thì tên tuổi của mình cũng dễ nổi hơn. Các ca sĩ, tài tử hạng ruồi muỗi, thi nhau chửi Trump để được thấy tên tuổi mình trên báo, biết đâu giúp tái sinh trong nghề. Thậm chí, có anh tài tử da đen mất job, thất nghiệp, thuê hai tay du đãng cũng da đen đánh mình rồi hô hoán ầm ĩ bị đám côn đồ của Trump đánh.

    Trong khi Trump cũng không phải vừa, công khai tố cáo truyền thông là kẻ thù, chẳng những nhẩy qua đầu truyền thông, đi thẳng tới dân Mỹ qua các tuyên bố công khai, qua trang mạng xã hội, mà lại còn kiện truyền thông cả trăm triệu. Nhiều cơ quan truyền thông đã xếp re, bồi thường Trump tới cả 80 triệu. Nhưng Trump không cần tiền mà chỉ cần chứng minh truyền thông sai, phe đảng, loan tin thất thiệt, và Trump đã thành công lớn khi những cơ quan truyền thông lớn nhất đều đã chịu bồi thường cho Trump.

Trích Vũ Linh

https://diendantraichieu.blogspot.com/2026/02/bai-426-trump-mang-lai-thu-ghet-chua.html

 

 

 

 2026-02-20  

Đạo luật Mở rộng Thương mại và các đạo luật khác có thể thay thế luật bị Tòa Án Tối Cao bác bỏ

(Charles Creitz, Fox News, 20/2/2026)

Tòa án Tối cao đã chỉ trích việc Tổng thống Trump sử dụng Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (International Emergency Economic Powers Act - IEEPA)để áp đặt thuế quan "Liberation Day" trên diện rộng, phán quyết rằng Hiến pháp trao quyền cho Quốc hội - chứ không phải tổng thống - về vấn đề thuế quan.

Nhưng quyết định này có thể chưa phải là lời phán quyết cuối cùng. Từ đạo luật Trade Expansion Act đến đạo luật Trade Act năm 1974 và thậm chí cả các đạo luật thời kỳ Đại suy thoái, vẫn còn nhiều con đường pháp lý cho phép Trump tái khẳng định quyền lực thương mại mạnh mẽ của mình.

Trong phán quyết với tỷ lệ 6-3 do Chánh án John Roberts, người được George W. Bush bổ nhiệm, dẫn đầu, tòa án đã phán quyết rằng "những người lập hiến đã trao quyền [đánh thuế] cho riêng Quốc hội, bất chấp những hệ lụy rõ ràng về chính sách đối ngoại của thuế quan."

Thẩm phán Clarence Thomas do George H.W. Bush bổ nhiệm, thẩm phán Brett Kavanaugh do Trump bổ nhiệm và thẩm phán Samuel Alito do George W. Bush bổ nhiệm đã phản đối.

Vào "Liberation Day" năm 2025, Trump đã viện dẫn Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA), do cựu dân biểu Jonathan Brewster-Bingham, đảng Dân chủ, bang New York, soạn thảo, để tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong đó các quốc gia nước ngoài đang "bóc lột" nước Mỹ.

Với việc Roberts đã đóng cánh cửa đó, Trump có thể thử sử dụng lý lẽ an ninh quốc gia tương tự để viện dẫn đạo luật Trade Expansion Act năm 1962, trong đó một phần cho phép Bộ Thương mại áp thuế đối với "các mặt hàng… nhập khẩu… với số lượng hoặc trong những trường hợp đe dọa hoặc làm suy yếu an ninh quốc gia."

Không giống như IEEPA, đạo luật thời JFK đã được kiểm chứng tại tòa án, và Bộ trưởng Thương mại Howard Lutnick kể từ đó đã tiếp tục dựa trên các mức thuế thép và nhôm do người tiền nhiệm Wilbur Ross áp đặt năm 2018 theo đạo luật này, bổ sung thêm 407 mặt hàng nhập khẩu vào danh sách thuế với lý do chúng là "sản phẩm thứ cấp" của hai kim loại đã được phê duyệt.

Trong phiên điều trần phê chuẩn năm 2025, Lutnick bày tỏ sự ủng hộ đối với cách tiếp cận "từng quốc gia, ở cấp độ vĩ mô" đối với thuế quan và đồng ý với tổng thống rằng Mỹ "bị đối xử tệ bạc bởi môi trường thương mại toàn cầu".

Mặc dù thuế quan áp đặt theo Điều 232 của đạo luật Trade Expansion Act không có hiệu lực ngay lập tức và yêu cầu Bộ Thương mại tiến hành điều tra chính thức, nhưng luật này cung cấp một con đường đã được tòa án chấp thuận cho tổng thống.

Sau phán quyết hôm thứ Sáu, Thượng nghị sĩ Rand Paul, đảng Cộng hòa, bang Kentucky, và những người khác đã ăn mừng việc tòa án khẳng định rằng Trump không thể sử dụng "quyền khẩn cấp để ban hành thuế", nhưng Quốc hội trước đó đã thông qua một con đường khác để áp đặt thuế quan.

Khi đó, dân biểu Albert Ullman, thuộc đảng Dân chủ tiểu bang Oregon, đã soạn thảo một dự luật được Tổng thống Gerald Ford ký ban hành, trong đó trao cho các tổng thống quyền hạn rộng hơn để áp đặt thuế quan: đạo luật Trade Expansion Act năm 1974.

Vào tháng 9, một tòa án phúc thẩm liên bang đã ra phán quyết chống lại hàng nghìn công ty phản đối thuế quan áp đặt lên Trung Quốc theo Điều 301 của đạo luật Trade Act.

6 nghị sĩ Cộng hòa tại Hạ viện bất chấp ý kiến ​​của Trump về một mục quan trọng trong cuộc bỏ phiếu do đảng Dân chủ thúc đẩy.
Dân biểu Haridopolos nhấn mạnh tầm quan trọng của thương mại 'tự do, công bằng' trong bối cảnh Trump áp đặt thuế quan mới lên các quốc gia EU. 

Trong trường hợp này, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer, người được ông Trump bổ nhiệm, có thể tìm cách áp thuế trả đũa đối với các quốc gia có rào cản thương mại không công bằng, theo Global Policy Watch.

Sau đó, một cuộc điều tra, bao gồm cả các cuộc đàm phán với các quốc gia bị nhắm mục tiêu, sẽ được tiến hành, và cuối cùng Greer có thể được phép áp đặt các hạn chế thương mại nếu cuộc điều tra kết luận rằng Mỹ đang bị từ chối các lợi ích từ thỏa thuận thương mại hoặc thỏa thuận đó là không thể biện minh được.

Tuy nhiên, theo các báo cáo, trong hầu hết các trường hợp, thuế quan áp đặt sẽ hết hiệu lực sau bốn năm.

Để ủng hộ lập luận của Trump, người ta có thể cho rằng lý lẽ mà Roberts đã sử dụng để bác bỏ thẩm quyền của IEEPA có thể phản tác dụng đối với những người phản đối thuế quan vì luật năm 1974 trao quyền hạn hạn chế thương mại rõ ràng cho nhánh hành pháp.

Một phần khác của đạo luật do Ford ký kết cũng có thể được sử dụng để đơn phương áp đặt thuế quan.

Mục 122, phần "Cán cân thanh toán" của luật, cho phép ông Trump tạm thời áp dụng thuế quan hoặc hạn ngạch nhập khẩu trong một số trường hợp nhất định.

Theo Hiệp hội các nhà lãnh đạo ngành bán lẻ, tổng thống có thể áp đặt thuế quan lên tới 15% trong 150 ngày đối với tất cả hoặc một số quốc gia nhất định nếu các quốc gia đó bị phát hiện "duy trì những hạn chế không thể biện minh hoặc không hợp lý đối với thương mại của Mỹ" .

"Quyền hạn này nhằm mục đích trao cho nhánh hành pháp sự linh hoạt để nhanh chóng phản ứng với các hoạt động thương mại có thể gây tổn hại đến lợi ích kinh tế của Mỹ hoặc để khắc phục thâm hụt cán cân thanh toán đáng kể", nhóm thương mại cho biết trong một báo cáo hồi tháng 6.

Tuy nhiên, các báo cáo cho thấy Điều 122 chưa được thử nghiệm rộng rãi tại tòa án, điều này có thể dẫn đến các vụ kiện và sự không chắc chắn về mặt pháp lý.

Một lựa chọn chính sách tiềm năng khác dành cho Trump là một chính sách từng vấp phải sự chỉ trích gay gắt khi Tổng thống Herbert Hoover ký ban hành trái với lời khuyên của các nhà kinh tế vào đầu thời kỳ Đại suy thoái.

Đạo luật thuế quan Smoot-Hawley năm 1930, được đặt theo tên của Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Reed Smoot của Utah và dân biểu Willis Hawley của Oregon, đã áp đặt thuế quan lên hàng chục nghìn mặt hàng nhập khẩu với hy vọng bảo vệ các nhà sản xuất Mỹ đang phải đối mặt với điều kiện kinh tế khó khăn.

Cháu gái đời thứ tư của Hawley, Carey Cezar đến từ Baltimore, đã nói với NBC News vào năm 2025 rằng bà đã bỏ phiếu cho Kamala Harris và phản đối thuế quan của Trump sau khi tên của tổ tiên bà được nhắc đến trở lại trong các cuộc thảo luận công khai.

Những người chỉ trích Smoot-Hawley khác cho rằng đó là một lý do chính khiến cuộc Đại suy thoái trở nên tồi tệ và lan rộng đến vậy.

Tuy nhiên, luật vẫn cung cấp một cơ chế để Bộ Thương mại xác định khi nào một mặt hàng đang bị "bán phá giá" đối với người tiêu dùng Mỹ hoặc liệu một quốc gia nước ngoài có đang trợ cấp xuất khẩu sang Mỹ một cách không công bằng hay không, và để đáp trả bằng thuế quan.

Ngoài ra, trong khi Trump áp đặt thuế quan chủ yếu dựa trên từng quốc gia, thì Đạo luật Smoot-Hawley yêu cầu áp dụng thuế dựa trên từng sản phẩm cụ thể.

Một hướng đi thứ năm mà Trump hầu như không thể tiếp cận được là Đạo luật Thuế quan Fordney-McCumber năm 1922.

Thượng nghị sĩ Porter McCumber, RN.D., và dân biểu Joseph Fordney, R-Mich., đã thông qua một dự luật cho phép Tổng thống đảng Cộng hòa Warren Harding áp đặt mức thuế quan cao hơn nhiều so với mức tiêu chuẩn vào thời điểm đó, với hy vọng bảo vệ nông dân Mỹ khỏi sự sụt giảm mạnh doanh thu sau Thế chiến I.

Trong một trong những lời chỉ trích đầu tiên đối với chủ nghĩa bảo hộ thời bấy giờ, Đạo luật Fordney-McCumber bị chỉ trích vì cho phép áp thuế cao tới 50% đối với các quốc gia, bao gồm cả các đồng minh, điều mà những người phản đối cho rằng đã dẫn đến hậu quả không mong muốn là làm tổn hại khả năng trả nợ chiến tranh của Mỹ.

Hiệp định Fordney-McCumber cuối cùng đã được thay thế bởi Hiệp định Smoot-Hawley, và bất kỳ điều khoản nào còn lại đều được coi là lỗi thời sau Đạo luật Hiệp định Thương mại Tương hỗ, được Tổng thống Franklin Roosevelt ký kết để bãi bỏ một số hạn chế thương mại của Quốc hội.

Đạo luật RTAA đã chuyển giao quyền định thuế từ Quốc hội sang Tổng thống, trao quyền cho các cuộc đàm phán song phương nhằm giảm thuế quan vào thời điểm đó.

Nguyên tắc đó, thường được gọi là "nguyên tắc có đi có lại", đang được sử dụng trong thời đại Trump không phải để giảm thuế quan mà là để tăng thuế quan.

https://www.foxnews.com/politics/supreme-court-kills-trumps-liberation-day-tariffs-4-other-laws-could-resurrect-them

__________

Giáo sư Jonathan Turley cho biết các thẩm phán Tòa án Tối cao lo ngại quyền lực của Trump sẽ tạo ra "con dốc trơn trượt" trong việc áp thuế.

(Zachary Leeman, Mediaite, 20/2/2026)

Nhà bình luận Jonathan Turley của Fox News gọi phán quyết hôm thứ Sáu của Tòa án Tối cao về thuế quan là một “đòn giáng mạnh vào chính quyền” và cho rằng các thẩm phán lo ngại về một “tiền lệ nguy hiểm” liên quan đến quyền lực của Tổng thống Donald Trump .

Sáng thứ Sáu, Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng các mức thuế khẩn cấp trên diện rộng của Trump là bất hợp pháp, và Turley đã tham gia chương trình America's Newsroom của Fox News để phân tích vấn đề này.

Thẩm phán Turley cho rằng nhóm của ông Trump đã làm một "công việc tuyệt vời" và "không thể lập luận tốt hơn", nhưng Chánh án John Roberts và những người khác lại coi thuế quan khẩn cấp là một loại thuế và thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

“Đêm nay vẫn chưa kết thúc đối với chính quyền,” Turley cảnh báo, lập luận rằng tổng thống vẫn có thể sử dụng các đạo luật khác để áp đặt thuế quan.

Tuy nhiên, ông nói thêm rằng quyết định mới nhất có thể gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến cả nền kinh tế và chính sách đối ngoại của chính phủ, vốn đôi khi bao gồm việc sử dụng mối đe dọa áp thuế đối với các quốc gia khác.

“Rõ ràng là tổng thống không thể dựa vào việc điều tiết nhập khẩu để thực hiện chương trình thuế quan sâu rộng mà ông ấy đã tạo ra. Vẫn còn nhiều câu hỏi về việc ông ấy sử dụng quyền hạn hiện có để thực hiện hoặc áp đặt các loại thuế quan này”, Turley nói.

Turley lập luận rằng phán quyết của Tòa án Tối cao xuất phát từ mối lo ngại về quyền lực của nhánh hành pháp dưới thời tổng thống đương nhiệm.

Ông ấy giải thích:

    Điều mọi người cần ghi nhớ là điều này nghe có vẻ như một cuộc tranh giành ngân sách giữa các nhánh quyền lực, nhưng nó lại chạm đến cốt lõi của sự cân bằng giữa hai nhánh. Tôi nghĩ điều mà Tòa án Tối cao lo ngại là chúng ta có một nhánh hành pháp rất mạnh ở đất nước này. Nó ngày càng trở nên quyền lực hơn và khả năng then chốt của Quốc hội để kiểm soát và cân bằng quyền lực đó chính là quyền kiểm soát ngân sách, quyền kiểm soát nguồn thu. Và tôi nghĩ các thẩm phán lo ngại rằng họ đang đối mặt với một tiền lệ nguy hiểm có thể cho phép tổng thống thực sự xâm phạm quyền lực đó.

Hôm thứ Sáu, các thẩm phán Clarence Thomas , Samuel Alito và Brett Kavanaugh đều phản đối phán quyết đa số (do Chánh án Roberts viết).

Trong phán quyết, Thẩm phán Roberts viết: "Tổng thống khẳng định quyền lực đặc biệt để đơn phương áp đặt thuế quan với số lượng, thời hạn và phạm vi không giới hạn... ông ấy phải xác định được sự ủy quyền rõ ràng của Quốc hội để thực hiện quyền lực đó."

https://www.mediaite.com/media/tv/fox-legal-analyst-says-supreme-court-justices-feared-trump-authority-slippery-slope-on-tariffs/

NVV

 

 2026-02-19  

Đừng quan tâm đến sự phẫn nộ. Cuộc cách mạng thương mại của Trump đang phát huy hiệu quả. 
Các đồng minh của Mỹ phàn nàn trong khi âm thầm ủng hộ chính sách mới của Mỹ.


(Matthew Lynn, Common Place, 19/2/2026)

Việc này đang trở thành một nghi thức quen thuộc. Tổng thống Trump áp đặt các mức thuế mới, thường được thông báo trên mạng xã hội vào đêm khuya, và chỉ trong vài giây, quyết định này đã bị các quan chức và chính trị gia từ Brussels đến Paris, Bắc Kinh, Berlin và London lên án.

Có những lời cảnh báo đầy kịch tính về việc chiến tranh thương mại không mang lại lợi ích cho ai, kèm theo những tuyên bố long trọng rằng châu Âu sẽ không bị bắt nạt, và những lời than thở về “trật tự dựa trên luật lệ”. Giới báo chí tài chính tận tâm ghi chép lại “sự hỗn loạn” và “khó lường” của chính sách thương mại Mỹ, trong khi CNN mời một chuyên gia khác để giải thích tại sao chính sách này không thể hoạt động hiệu quả và tờ Financial Times lại đăng thêm một bài báo nữa về việc Hoa Kỳ chỉ đang tự gây hại cho chính mình.

Vài tuần sau, một câu chuyện khác bắt đầu hé lộ, được giấu kín ở đâu đó trên trang 17: Đức đã đồng ý với những cam kết mới về mua sắm quốc phòng; Pháp đang xem xét lại các biện pháp bảo hộ nông nghiệp; Liên minh châu Âu đột nhiên sẵn sàng đàm phán lại thuế dịch vụ kỹ thuật số. Một mối quan hệ thương mại khác được tái cấu trúc một cách lặng lẽ, với những điều khoản đặc biệt có lợi cho Washington. Hóa ra, sự phản đối chủ yếu chỉ là hình thức. Đằng sau hậu trường, một sự đồng thuận mới đang bắt đầu hình thành. Chính quyền Trump đang âm thầm xây dựng một hệ thống thương mại toàn cầu mới — chỉ là không ai muốn nói về điều đó.

Các nhà lãnh đạo châu Âu thường xuyên lên án thuế quan và khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết” của Trump với thái độ quá khích đến mức có thể bị đuổi khỏi trường đào tạo diễn xuất. Thế nhưng, đồng thời, các bộ trưởng tài chính của họ lại đang sửa đổi các thỏa thuận thương mại theo những cách mà các chính quyền Mỹ trước đây đã mất hàng thập kỷ để thực hiện nhưng không thành công. Sự khác biệt giữa hình ảnh trước công chúng và thực tế riêng tư đã trở nên quá lớn đến nỗi người ta có thể kết luận rằng chính sự phẫn nộ được dàn dựng đó cũng có mục đích – tạo vỏ bọc chính trị cho những nhượng bộ mà nếu không sẽ không thể giải thích được với công chúng trong nước.

Một vài ví dụ sẽ giúp minh họa những gì thực sự đang xảy ra. Mỹ đã dành nhiều năm cố gắng thuyết phục Đức tăng chi tiêu quân sự, nhưng không mấy hiệu quả. Tuy nhiên, trong 12 tháng qua, Đức đã tăng chi tiêu thêm 80 tỷ euro mỗi năm. Chắc chắn, có rất nhiều lời lẽ hoa mỹ về việc họ sẽ "mua hàng châu Âu" và về việc số tiền đó sẽ giúp tái khởi động nền công nghiệp của họ. Nhưng trên thực tế, khoảng 8% số tiền sẽ được chi cho trang thiết bị của Mỹ, bao gồm máy bay chiến đấu F-35, máy bay tuần tra biển P-8A Poseidon và tên lửa hành trình Tomahawk. Việc ai sản xuất giày dép không thực sự quan trọng. Điều quan trọng là thiết bị công nghệ cao, và phần lớn trong số đó sẽ đến từ Mỹ.

Điều này thể hiện một sự thay đổi cơ bản trong chính sách công nghiệp của Đức, một điều mà chính quyền Obama đã vận động không thành công, chính quyền Bush không thể đạt được, và hàng thập kỷ hội nghị thượng đỉnh NATO cũng không mang lại kết quả. Trump đã đạt được điều đó chỉ với một vài dòng tweet đe dọa và cảnh báo về thuế quan đối với ô tô.

Hoặc hãy nhìn vào nước Pháp. Từ lâu, nước này đã tự định vị mình là người bảo vệ lợi ích nông nghiệp châu Âu trước sự xâm lược của người Mỹ với cây trồng biến đổi gen và gà được xử lý bằng clo. Tuy nhiên, Chính sách Nông nghiệp Chung (CAP), một tượng đài của chủ nghĩa bảo hộ và trợ cấp đã làm méo mó thị trường thực phẩm toàn cầu trong nhiều thế hệ, đột nhiên được đưa ra thảo luận. Lý do? Không phải vì các chính trị gia Pháp nhận ra rằng kinh tế tự do (laissez-faire ) bắt nguồn từ chính đất nước họ. Mà là vì giải pháp thay thế – là hạn chế tiếp cận thị trường Mỹ – đơn giản là quá khó để chấp nhận.

Một ví dụ khác là thuế dịch vụ kỹ thuật số của Liên minh châu Âu, một công cụ quan trọng để thu thuế từ các gã khổng lồ công nghệ Mỹ, cuối cùng cũng đang được xem xét lại. Trong nhiều năm, các chính trị gia châu Âu coi việc đánh thuế Apple, Google và Facebook là hợp lý về mặt kinh tế và đúng đắn về mặt đạo đức. Rõ ràng là các công ty này “không đóng thuế công bằng”. Chủ quyền quốc gia đòi hỏi điều đó và người tiêu dùng cần được bảo vệ. Chỉ đơn giản là trùng hợp ngẫu nhiên khi tất cả các công ty bị phạt đều là của Mỹ. Nhưng giờ đây, đối mặt với sự trả đũa đáng tin cậy từ Washington, toàn bộ kế hoạch này lại được đưa ra thảo luận. Lời lẽ về công bằng thuế đã bị loại bỏ, và chính sách đã thay đổi.

Bên kia eo biển Manche, người Anh hiện đã sẵn sàng trả giá công bằng hơn cho dược phẩm của Mỹ. Hóa ra hệ thống chăm sóc sức khỏe do nhà nước Anh tài trợ, nơi thuốc theo toa hoặc miễn phí hoặc có giá cố định, cuối cùng cũng đủ khả năng chi trả. Ở Thái Bình Dương, Nhật Bản đã đồng ý nhập khẩu nhiều gạo Mỹ hơn, sau nhiều năm khẳng định rằng gạo Mỹ không hợp khẩu vị của họ, trong khi chính phủ Tokyo sẽ bảo đảm 500 tỷ đô la đầu tư vào Mỹ. Ngay cả Trung Quốc, nền kinh tế lớn được bảo hộ nhất thế giới, cũng đã nới lỏng các hạn chế. Từng bước một, các mảng kiến ​​tạo của thương mại đang dịch chuyển.

Đây không phải là những điều chỉnh nhỏ đối với các thỏa thuận hiện có. Chúng là những thay đổi cơ bản trong quan hệ thương mại, những thay đổi mang tính cấu trúc, đại diện cho những thắng lợi thực sự đối với lợi ích kinh tế của Mỹ. Các chính quyền trước đây, với tất cả sự khéo léo ngoại giao và cam kết đa phương của họ, đã không thể đạt được điều này, trong khi các thể chế toàn cầu, với sự nhấn mạnh vào quản lý liên minh và xây dựng sự đồng thuận, cũng không thu được kết quả gì. Cách tiếp cận thẳng thắn của Trump đã mang lại những nhượng bộ mà sự tinh tế ngoại giao không bao giờ có thể làm được.

Điều đó đã tạo ra một tình huống khó xử cho giới bình luận chính thống. Làm sao bạn có thể giải thích rằng phong cách đàm phán thô thiển, khoa trương của Trump có thể mang lại kết quả khi bạn đã khẳng định rằng nó không thể hiệu quả? Và làm sao bạn có thể giải thích chế độ thuế quan mới đang hoạt động như thế nào khi bạn đã khẳng định rằng nó sẽ phản tác dụng một cách thảm hại? Câu trả lời, phần lớn, là không giải thích gì cả — đơn giản là phớt lờ những gì đang thực sự xảy ra và tiếp tục tập trung vào lời lẽ hùng biện.

* Cơn bão hoàn hảo của châu Âu


Nguyên tắc cơ bản của việc tái cấu trúc thương mại toàn cầu luôn đúng đắn, ngay cả khi chiến thuật và phong cách của Trump khiến các nhà ngoại giao phải nhăn mặt, bởi vì thị trường Mỹ vẫn không thể thiếu đối với các nền kinh tế châu Âu và châu Á. Nền kinh tế Mỹ không chỉ lớn mà còn lớn theo những cách thực sự quan trọng. Người tiêu dùng Mỹ chi tiêu mạnh tay. Họ mua hàng nhập khẩu với số lượng lớn. Họ không tiết kiệm như người Đức hay người Trung Quốc. Thị trường Mỹ là điểm đến cuối cùng cho bất kỳ nhà sản xuất nào muốn đạt được quy mô thực sự.

Trong khi đó, các nền kinh tế châu Âu đang phải đối mặt với một cơn bão thách thức hoàn toàn. Tăng trưởng kinh tế đã yếu ớt trong hơn một thập kỷ. Triển vọng nhân khẩu học dài hạn rất ảm đạm, với dân số già hóa tạo ra áp lực tài chính khiến mức nợ của Hy Lạp trông có vẻ nhỏ bé. Môi trường pháp lý trở nên quá ngột ngạt đến nỗi tinh thần khởi nghiệp công nghệ của châu Âu về cơ bản không còn là yếu tố quan trọng trên toàn cầu. Và giờ đây, EU phải đối mặt với sự cạnh tranh từ Trung Quốc trên hầu hết mọi lĩnh vực công nghiệp, từ xe hơi đến năng lượng tái tạo và sản xuất tiên tiến.

Trong bối cảnh này, ý tưởng bị loại khỏi thị trường Mỹ — hoặc thậm chí phải đối mặt với những rào cản mới đáng kể — đơn giản là không thể chấp nhận được. Các nhà sản xuất xe hơi Đức không thể tồn tại chỉ dựa vào doanh số bán hàng ở châu Âu. Các nhà xuất khẩu nông sản Pháp cần người mua Mỹ. Hàng hóa xa xỉ của Ý cần phải có mặt tại các trung tâm thương mại ở Miami và Los Angeles. Tương tự, đồ chơi Việt Nam và TV Hàn Quốc cần phải có mặt tại Walmart. Quyền lực đều nằm trong tay một phía, và đó không phải là phía châu Âu hay châu Á.

Ông Trump hiểu theo bản năng điều mà giới tinh hoa Davos đã từ chối thừa nhận trong suốt 20 năm qua: sự mất cân bằng thương mại ở quy mô của những năm 2010 là không bền vững. Bạn không thể duy trì thặng dư thương mại liên tục với một đối tác trong khi đồng thời yêu cầu đối tác đó cung cấp bảo đảm an ninh, trợ cấp quốc phòng và chấp nhận hạn chế tiếp cận thị trường của chính mình. Cuối cùng, tình hình sẽ được thiết lập lại. Và khi điều đó xảy ra, bên nào có lợi thế sẽ thắng.

Đây không phải là một nhận định quá phức tạp. Đó chỉ là kinh tế học cơ bản và logic sơ đẳng. Nhưng đó là một nhận định mà hàng thập kỷ qua các chuyên gia về chính sách thương mại đã không nắm bắt được. Họ tự thuyết phục mình rằng hệ thống hiện tại ổn định vì nó quen thuộc, rằng việc Mỹ sẵn sàng chấp nhận thâm hụt thương mại lớn trong khi bảo vệ an ninh toàn cầu bằng cách nào đó có thể kéo dài vô thời hạn. Họ đã nhầm lẫn một sự sắp xếp tạm thời với một trạng thái cân bằng lâu dài.

Quan điểm chung cũ dựa trên một số giả định, không giả định nào có thể đứng vững trước sự xem xét kỹ lưỡng. Thứ nhất, rằng sự mất cân bằng thương mại không thực sự quan trọng vì chúng được bù đắp bởi dòng vốn. Hãy nói điều đó với những công nhân ở Ohio và Michigan, những người đã chứng kiến ​​các nhà máy của họ đóng cửa. Thứ hai, rằng hòa bình toàn cầu đòi hỏi phải chấp nhận các điều khoản kinh tế bất lợi. Hãy nói điều đó với những người đóng thuế Mỹ, những người tài trợ cho quốc phòng châu Âu trong khi các chính phủ châu Âu bỏ tiền vào các hệ thống phúc lợi mà người Mỹ chỉ có thể mơ ước. Thứ ba, rằng chỉ có đàm phán đa phương mới có thể tạo ra các thỏa thuận thương mại hợp pháp. Hãy nói điều đó với các quốc gia đã sẵn lòng đàm phán các thỏa thuận song phương khi điều đó phù hợp với lợi ích của họ.

Thực tế là hệ thống thương mại thời hậu chiến, dù đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đã trở nên mất cân bằng nghiêm trọng. Thị trường Mỹ mở cửa trong khi thị trường châu Âu và châu Á được bảo hộ chiến lược. Các công ty Mỹ phải đối mặt với rào cản pháp lý ở nước ngoài; các công ty nước ngoài được tiếp cận tương đối tự do với người tiêu dùng Mỹ. Công nhân Mỹ phải gánh chịu chi phí điều chỉnh; công nhân châu Âu được bảo hộ và trợ cấp. Đây không phải là mối quan hệ đối tác bình đẳng. Đó là mối quan hệ hoạt động rất hiệu quả đối với các nhà xuất khẩu châu Âu và kém hiệu quả hơn đối với các nhà sản xuất Mỹ.

Liệu vấn đề có thể được giải quyết thông qua đàm phán đa phương kiên nhẫn, thông qua quản lý liên minh cẩn thận, thông qua ngoại giao khéo léo? Có lẽ. Nhưng sau nhiều thập kỷ thử cách tiếp cận đó với kết quả tối thiểu, người ta có thể kết luận một cách hợp lý rằng cần một điều gì đó khác biệt. Cách tiếp cận của Trump chắc chắn là khác biệt. Và nó cũng đang mang lại kết quả.

Sự phẫn nộ giả tạo sẽ tiếp tục. Các chính trị gia châu Âu sẽ tiếp tục lên án chủ nghĩa đơn phương của Mỹ. Các trang xã luận sẽ tiếp tục than thở về sự sụp đổ của trật tự quốc tế tự do. Các viện nghiên cứu sẽ đưa ra các bài báo giải thích lý do tại sao cách tiếp cận của Trump gây tổn hại đến lợi ích của Mỹ. Tất cả những điều này không làm thay đổi sự thật cơ bản: Các chính phủ châu Âu và châu Á đang tái cấu trúc các mối quan hệ thương mại theo các điều khoản của Mỹ.

Nghịch lý thay, khoảng cách khổng lồ giữa lời nói và thực tế lại phục vụ mục đích của tất cả mọi người. Các nhà lãnh đạo châu Âu có thể tuyên bố họ đang giữ vững lập trường trong khi thực chất lại đang nhượng bộ. Các nhà phê bình Mỹ có thể lên án phong cách của Trump trong khi vẫn được hưởng lợi từ những kết quả mà ông ta đạt được. Truyền thông có thể viết về sự hỗn loạn và rối loạn chức năng trong khi nội dung thực tế của chính sách thương mại lại thay đổi theo những cách mà các chính quyền trước đây chỉ có thể mơ ước.

Trớ trêu thay, cách tiếp cận được cho là "hỗn loạn" của Trump có thể đang tạo ra một hệ thống thương mại toàn cầu cân bằng hơn và bền vững hơn so với sự đồng thuận cũ. Các mối quan hệ thương mại rõ ràng là mất cân bằng sẽ không bền vững. Chúng tạo ra áp lực chính trị mà cuối cùng sẽ bùng nổ. Tốt hơn hết là giải quyết trực tiếp những sự mất cân bằng đó, ngay cả khi quá trình này khó chịu, hơn là giả vờ như chúng không tồn tại.

* Ghi nhận vai trò của người lao động Mỹ

Còn một yếu tố khác mà những lời chỉ trích thường bỏ qua: chính sách thương mại của Trump thực sự coi người lao động Mỹ là những bên liên quan có quyền lợi quan trọng. Điều này rõ ràng gây tranh cãi ở một số nơi. Quan điểm chủ đạo trong giới hoạch định chính sách thương mại trong nhiều thập kỷ là các thỏa thuận thương mại nên tối đa hóa hiệu quả kinh tế tổng thể, và nếu điều đó có nghĩa là một số cộng đồng hoặc khu vực phải chịu chi phí điều chỉnh nặng nề, thì đó đơn giản chỉ là cái giá phải trả cho sự tiến bộ.

Quan điểm này luôn tiềm ẩn những vấn đề đạo đức. Nó cũng đã được chứng minh là không bền vững về mặt chính trị. Bạn không thể xây dựng được sự ủng hộ lâu dài cho thương mại mở nếu lợi ích chủ yếu chảy về các vùng ven biển và các tập đoàn đa quốc gia trong khi toàn bộ các khu vực phải đối mặt với sự tàn phá kinh tế. Phản ứng chống lại toàn cầu hóa không phải tự nhiên mà có. Nó xuất phát từ nhận định hoàn toàn hợp lý rằng hệ thống này không hoạt động hiệu quả đối với một bộ phận lớn cử tri.

Cách tiếp cận của Trump, dù có vẻ thô thiển, ít nhất cũng thừa nhận thực tế này. Khi ông đe dọa áp thuế đối với xe hơi Đức, ông không chỉ đàm phán thay mặt cho General Motors. Ông đang đàm phán thay mặt cho những người lao động ở Michigan, những người đã chứng kiến ​​cộng đồng của họ bị suy yếu khi ngành sản xuất chuyển ra nước ngoài. Khi ông phản đối các biện pháp bảo hộ nông nghiệp của châu Âu, ông đang đại diện cho những người nông dân ở Iowa và Nebraska, những người phải đối mặt với những rào cản mà những người nông dân châu Âu không gặp phải. Đây không phải là chủ nghĩa bảo hộ vì mục đích bảo hộ. Đây là một nỗ lực nhằm tạo ra các mối quan hệ tương hỗ hơn.

Giới hoạch định chính sách thương mại truyền thống dường như thực sự bối rối trước việc phương pháp này lại nhận được sự ủng hộ về mặt chính trị. Nhưng thực ra chẳng có gì khó hiểu cả. Những người lao động bị hy sinh sinh kế trên bàn thờ của thương mại tự do không phải là những người ngốc nghếch. Họ hiểu rất rõ rằng mình đã bị đối xử bất công. Khi một chính trị gia cuối cùng thừa nhận điều đó và hành động để giải quyết vấn đề, sự ủng hộ của họ là hoàn toàn hợp lý.

Liệu cách tiếp cận này có tự mình giải quyết được tất cả các thách thức kinh tế của Mỹ? Tất nhiên là không. Chính sách thương mại đơn thuần không thể đảo ngược quá trình phi công nghiệp hóa kéo dài hàng thập kỷ hoặc giải quyết tất cả các thách thức cạnh tranh mà ngành sản xuất của Mỹ đang phải đối mặt. Nhưng nó có thể giúp tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn. Nó có thể chống lại các chính sách trọng thương đã đặc trưng cho phần lớn thương mại châu Âu và châu Á trong nhiều thập kỷ. Nó có thể làm rõ rằng việc tiếp cận thị trường Mỹ là có giá trị và đi kèm với kỳ vọng về sự tương hỗ.

Giải pháp thay thế là tiếp tục duy trì một hệ thống mà ai cũng biết là không cân bằng nhưng không ai sẵn lòng thay đổi.

Cuộc cách mạng thương mại của Trump, nếu có thể gọi như vậy, thể hiện sự đánh giá lại cơ bản chính sách thương mại của Mỹ. Nó bắt đầu từ tiền đề rằng các mối quan hệ thương mại nên mang lại lợi ích cho cả hai bên, chứ không chỉ hiệu quả theo một nghĩa trừu tượng nào đó; rằng người lao động Mỹ là những bên liên quan có quyền lợi cần được xem xét; rằng sức ảnh hưởng rất quan trọng và cần được sử dụng; và rằng hệ thống hiện tại cần được cải cách.

Chắc chắn rồi, điều đó khiến giới hoạch định chính sách đối ngoại cảm thấy vô cùng khó chịu. Nó thách thức những quan điểm truyền thống đã tồn tại hàng thập kỷ. Nhưng trong hai mươi hoặc ba mươi năm nữa, khi các nhà sử học viết về giai đoạn này, họ sẽ có một câu hỏi thú vị cần trả lời: Cách tiếp cận chính sách thương mại của Trump có hiệu quả hay không?

Câu trả lời sẽ phụ thuộc ít hơn vào lời lẽ hoa mỹ và những màn kịch ngoại giao mà phụ thuộc nhiều hơn vào cấu trúc thực tế của các mối quan hệ thương mại được hình thành. Nếu thị trường châu Âu cởi mở hơn với hàng hóa Mỹ, nếu thâm hụt thương mại thu hẹp, nếu người lao động Mỹ có cơ hội tốt hơn trong các ngành công nghiệp cạnh tranh, thì cách tiếp cận này chắc chắn sẽ được đánh giá là thành công, bất kể quá trình đó khó khăn đến mức nào.

Điều này không có nghĩa là tất cả chúng ta nên trở thành người ủng hộ cách tiếp cận ngoại giao của Trump. Ngôn ngữ của ông thường thiếu khéo léo, giọng điệu quá hung hăng, ông thiếu nhất quán đến khó chịu, và ông có xu hướng cá nhân hóa các tranh chấp chính sách. Nhưng việc chỉ trích phong cách không nên khiến chúng ta bỏ qua những vấn đề cốt lõi. Và xét về bản chất, chính sách thương mại của Trump đang đạt được những kết quả mà những người tiền nhiệm của ông không thể.

Sự đồng thuận cũ đã chết, bị giết chết bởi chính những mâu thuẫn nội tại và sự mất cân bằng không bền vững của nó. Cái đang thay thế nó có thể lộn xộn hơn và kém thuần khiết về mặt tư tưởng hơn. Nhưng nó cũng có thể cân bằng hơn, bền vững hơn và phù hợp hơn với lợi ích của người lao động Mỹ, những người phần lớn bị lãng quên trong hệ thống cũ. Chúng ta có thể tranh luận về việc đó có phải là tiến bộ hay không. Nhưng chắc chắn đó không phải là hỗn loạn, cũng không nhất thiết là một điều xấu – chỉ là đừng mong đợi bất cứ ai ở Brussels, Paris hay Tokyo nói như vậy.

https://www.commonplace.org/p/matthew-lynn-ignore-the-outrage-trumps
 

NVV

 

 2026-02-20

(Donald J, Trump, Truth Social, 20/2/2026) 

Để quý vị thấy rõ quan điểm ấy vô lý đến mức nào, Tối Cao Pháp Viện cho rằng tôi không được phép thu dù chỉ 1 MỸ KIM của bất kỳ quốc gia nào theo IEEPA, có lẽ để bảo vệ các quốc gia khác chứ không phải Hoa Kỳ, điều mà lẽ ra họ phải quan tâm bảo vệ. Nhưng tôi lại được phép cắt đứt toàn bộ mậu dịch hay thương mại với chính quốc gia đó, thậm chí áp đặt lệnh cấm vận có thể tàn phá một quốc gia ngoại quốc, và làm bất cứ điều gì khác tôi muốn đối với họ. Thật phi lý đến mức nào? Họ nói rằng tôi có toàn quyền cấp giấy phép, nhưng không có quyền thu lệ phí cấp phép. Có loại giấy phép nào từng được ban hành mà không có quyền thu lệ phí hay không? Thế nhưng giờ đây, Tối Cao Pháp Viện lại trao cho tôi quyền không thể tranh cãi để cấm đủ loại hàng hóa vào nước ta, một quyền lực còn mạnh hơn nhiều so với điều mà nhiều người từng nghĩ chúng ta có.
 
Đất nước chúng ta hiện là nơi “NÓNG NHẤT” trên toàn thế giới, nhưng giờ đây tôi sẽ đi theo một hướng khác, còn mạnh mẽ hơn cả lựa chọn ban đầu của chúng ta. Như Thẩm phán Kavanaugh đã viết trong ý kiến phản đối của ông:
 
“Mặc dù tôi hoàn toàn bất đồng với phán quyết của Tòa hôm nay, quyết định này có thể sẽ không hạn chế đáng kể khả năng của một Tổng thống trong việc ban hành thuế quan trong tương lai. Đó là vì nhiều đạo luật liên bang khác trao quyền cho Tổng thống áp đặt thuế quan và có thể biện minh cho phần lớn, nếu không phải toàn bộ, các mức thuế quan được ban hành trong vụ việc này… Những đạo luật ấy bao gồm, thí dụ như, Đạo Luật Mở Rộng Mậu Dịch năm 1962 (Điều khoản 232); Đạo Luật Mậu Dịch năm 1974 (các Điều khoản 122, 201 và 301); và Đạo Luật Thuế Quan năm 1930 (Điều khoản 338).”
Xin cảm ơn Thẩm phán Kavanaugh!
 
Trên thực tế, dù tôi tin rằng họ không cố ý làm như vậy, quyết định hôm nay của Tối Cao Pháp Viện đã khiến quyền hạn của một Tổng thống trong việc điều tiết mậu dịch và áp đặt THUẾ QUAN trở nên mạnh mẽ và minh bạch hơn, chứ không hề suy giảm. Sẽ không còn bất kỳ nghi ngờ nào nữa, và nguồn thu nhập mang lại, cũng như sự bảo vệ dành cho các công ty và đất nước chúng ta, thực sự sẽ gia tăng nhờ quyết định này. Dựa trên luật pháp lâu đời và hàng trăm phán quyết chiến thắng trước đây, Tối Cao Pháp Viện không hủy bỏ THUẾ QUAN, họ chỉ bác bỏ một cách sử dụng cụ thể của thuế quan theo IEEPA. Quyền phong tỏa, cấm vận, hạn chế, cấp phép hoặc áp đặt bất kỳ điều kiện nào khác đối với khả năng một quốc gia ngoại quốc tiến hành mậu dịch với Hoa Kỳ theo IEEPA đã được xác nhận đầy đủ bởi quyết định này. Để bảo vệ đất nước chúng ta, một Tổng thống thực sự có thể áp đặt nhiều THUẾ QUAN hơn so với trước đây dưới các thẩm quyền thuế quan khác, vốn cũng đã được xác nhận và hoàn toàn cho phép.
 
Vì vậy, có hiệu lực ngay lập tức, tất cả các THUẾ QUAN An Ninh Quốc Gia theo Điều khoản 232 và các THUẾ QUAN hiện hữu theo Điều khoản 301 vẫn được duy trì đầy đủ và tiếp tục có hiệu lực. Hôm nay tôi sẽ ký một Sắc lệnh áp đặt mức THUẾ QUAN TOÀN CẦU 10% theo Điều khoản 122, ngoài các mức thuế quan thông thường đang được thu hiện nay, và chúng tôi cũng đang khởi sự nhiều cuộc điều tra theo Điều khoản 301 cùng các thẩm quyền khác để bảo vệ đất nước khỏi các hành vi mậu dịch bất công. Xin cảm ơn sự quan tâm của quý vị đối với vấn đề này.
 
LÀM NƯỚC MỸ VĨ ĐẠI TRỞ LẠI!
TỔNG THỐNG DONALD J. TRUMP
 
TIN THÊM
 
Trong phần trao đổi với báo chí, trọng tâm chuyển sang câu hỏi lớn nhất sau phán quyết của Supreme Court of the United States: số tiền thuế quan đã thu, ước tính khoảng $175 tỷ Mỹ kim hoặc hơn, sẽ được xử lý ra sao.
 
Tổng thống Trump cho biết chính quyền đã thu vào “hàng trăm tỷ Mỹ kim”, và ông bày tỏ sự bất bình vì phán quyết liên quan đến International Emergency Economic Powers Act không nêu rõ liệu số tiền đó phải được hoàn trả hay được giữ lại. Ông đặt câu hỏi vì sao Tòa không dành dù chỉ một dòng để làm rõ vấn đề then chốt này.
 
Khi được hỏi trực tiếp liệu chính quyền có dự định hoàn trả tiền cho các công ty nếu họ nộp đơn yêu cầu hay không, Tổng thống Trump trả lời rằng Tòa không đề cập đến việc đó, và vấn đề này có thể còn phải tiếp tục được giải quyết tại các tòa cấp dưới trong nhiều năm tới.
 
Theo ông, việc hoàn trả nếu xảy ra sẽ vô cùng phức tạp, vì số tiền liên quan không phải hàng triệu mà là hàng trăm tỷ Mỹ kim. Câu hỏi hoàn thuế hiện trở thành điểm nóng pháp lý và tài chánh, có khả năng kéo dài tiến trình tố tụng và tạo thêm bất định cho doanh nghiệp nhập cảng.
 
Tổng thống Trump đồng thời nhấn mạnh rằng trong khi vấn đề hoàn trả còn bỏ ngỏ, chính quyền sẽ chuyển sang các thẩm quyền pháp lý khác để tiếp tục áp dụng mức thuế 10 phần trăm toàn diện ngay lập tức, và tiến hành các cuộc điều tra nhằm áp thuế theo từng quốc gia trong những tháng tới.
Như vậy, bên cạnh tranh luận về quyền lực hành pháp, câu hỏi trung tâm hiện nay là số tiền đã thu sẽ được giữ lại hay hoàn trả, và tiến trình pháp lý kế tiếp sẽ định hình tác động tài chánh đối với ngân khố liên bang cũng như các doanh nghiệp Hoa Kỳ.