2026-01-08  

Những rạn nứt trong phản ứng của đảng Dân chủ đối với vấn đề Venezuela cho thấy sự lúng túng trong chính sách đối ngoại

(Liz Goodwin và Yasmeen Abutaleb, Washington Post, 8/1/2026)

Trong những ngày sau vụ lật đổ Nicolás Maduro ở Venezuela theo lệnh của Donald Trump, các nhà phê bình thuộc đảng Dân chủ chia thành hai phe.

Nhiều nhà lãnh đạo dân cử và các ứng cử viên tổng thống tiềm năng đã lên án mạnh mẽ, cáo buộc Trump trắng trợn vi phạm luật pháp quốc tế bằng cách bắt giữ lãnh đạo của một quốc gia khác. Nhóm thứ hai, do Thống đốc California Gavin Newsom dẫn đầu, thận trọng hơn, lên án Maduro đồng thời cảnh báo rằng sự can thiệp lâu dài vào quốc gia này có thể gây ra hậu quả thảm khốc.

Sự chia rẽ này là triệu chứng của một sự bất ổn sâu sắc hơn đã ám ảnh đảng này trong hơn một thập kỷ, khi đảng Dân chủ phải vật lộn để chống lại phong trào “Nước Mỹ trên hết” đã làm đảo lộn các quan điểm truyền thống về chính sách đối ngoại của đất nước.

“Chúng ta thực sự cần phải khẳng định lại vai trò của mình về năng lực chính sách đối ngoại của đảng,” Thượng nghị sĩ Ruben Gallego (Arizona), một ứng cử viên tiềm năng cho năm 2028, cho biết. “Và lĩnh vực mà chúng ta cần phải lấy lại là vai trò của Mỹ như một yếu tố ổn định trên thế giới, chứ không phải là một quốc gia bất hảo do Donald Trump lãnh đạo như hiện nay.”

Kể từ khi Trump bắt đầu sa thải các chuyên gia chính sách đối ngoại và phá vỡ các liên minh, ông đã đẩy đảng Dân chủ vào thế phải bảo vệ giới chính sách đối ngoại truyền thống. Đôi khi họ tìm kiếm sự đồng cảm với những người theo phe diều hâu Cộng hòa bất mãn, đồng thời cố gắng ngăn chặn những gì họ cho là hậu quả thảm khốc lâu dài từ cách tiếp cận của Trump. Họ đã phải vật lộn với những vấn đề cũ hơn từ thời George W. Bush, khi họ tranh luận liệu việc không ủng hộ các cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan có khiến họ trông yếu đuối hoặc thiếu lòng yêu nước hay không.

Trong khi đó, những chia rẽ nội bộ vẫn tiếp diễn, bao gồm cả cuộc tranh giành về sự ủng hộ đối với Israel, đe dọa sẽ kéo dài đến cuộc bầu cử năm 2028.

Gallego đổ lỗi cho việc thiếu một chính sách đối ngoại nhất quán trong bối cảnh đại dịch coronavirus, vốn đã chiếm hết thời gian cuối nhiệm kỳ đầu tiên của Trump và phần lớn hai năm đầu nhiệm kỳ của Tổng thống Joe Biden. Ông cũng cho biết đảng này đã bị sa lầy trong cuộc tranh luận kéo dài hai năm về viện trợ quân sự của Mỹ cho Israel sau khi sự ủng hộ kiên định của Biden đối với quốc gia này đã gây chia rẽ trong đảng.

“Việc giữ vững nguyên tắc, đặc biệt là đối với những vấn đề gai góc này và thể hiện rõ ràng quan điểm, sẽ luôn được lòng dân hơn là một lập trường mơ hồ, chỉ tập trung vào quy trình,” ông nói.

Một số ứng cử viên tổng thống tiềm năng khác cũng thể hiện lập trường tương tự liên quan đến Venezuela, bao gồm Thống đốc Pennsylvania Josh Shapiro, người đã lên án “các cuộc chiến tranh thay đổi chế độ” trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh địa phương, và Thống đốc Illinois JB Pritzker, người nói rằng “hành động quân sự vi hiến” sẽ đặt “quân đội của chúng ta vào tình thế nguy hiểm mà không có chiến lược dài hạn nào.”

Nhưng một trong những ứng cử viên tiềm năng hàng đầu cho năm 2028, Newsom, đã đưa ra một tuyên bố ôn hòa hơn sau cuộc đột kích vào Venezuela cuối tuần trước.

“Maduro là một tên côn đồ và tội phạm,” ông nói. “Nhưng việc Donald Trump đề xuất ‘điều hành’ Venezuela mà không có kế hoạch dài hạn mạch lạc nào ngoài việc chiếm đoạt dầu mỏ là nguy hiểm cho nước Mỹ. Con đường phía trước phải là dân chủ, nhân quyền và ổn định.” Bộ trưởng Năng lượng Chris Wright cho biết hôm thứ Tư rằng chính quyền Trump sẽ kiểm soát tất cả các dòng chảy dầu hiện có từ Venezuela trong tương lai gần, và Trump nói với tờ New York Times cùng ngày rằng Mỹ sẽ điều hành Venezuela trong nhiều năm.

Thống đốc Colorado Jared Polis, một ứng cử viên tổng thống tiềm năng khác cho năm 2028, thậm chí còn đi xa hơn, gọi cuộc đột kích là “một khoảnh khắc đáng ăn mừng” trước khi bày tỏ lo ngại về tương lai của Venezuela.

Rahm Emanuel, cựu Chánh văn phòng của Obama, người cũng đang cân nhắc tranh cử năm 2028, cho biết đảng nên để những cuộc tranh luận chính sách chi tiết cho các viện nghiên cứu và thay vào đó lập luận rằng Trump “đang bị ám ảnh bởi Venezuela. Chúng ta đang bị ám ảnh bởi Virginia” để thu hút cử tri quan tâm đến nền kinh tế.

Một số người theo phe tự do đã chỉ trích Newsom, đặc biệt là vì ông không lên án rõ ràng quyết định của Trump về việc bắt giữ và dẫn độ Maduro bằng vũ lực.

“Đó là thông điệp mà đảng Dân chủ đã thất bại trong cuộc bầu cử năm 2004,” Matt Duss, phó chủ tịch điều hành tại trung tâm nghiên cứu chính sách quốc tế Center for International Policy và là cựu cố vấn chính sách đối ngoại của Thượng nghị sĩ Bernie Sanders (đảng Độc lập - Vermont) cho biết. Thượng nghị sĩ John F. Kerry của Massachusetts đã tranh cử tổng thống với Tổng thống George W. Bush năm đó. Kerry đã bỏ phiếu ủng hộ chiến tranh Iraq, điều này làm phức tạp khả năng của ông chỉ trích Bush.

“Đó không phải là một ý tưởng tốt được thực hiện kém hiệu quả - đó là một ý tưởng tồi,” Duss nói về cuộc đột kích.

Tuy nhiên, nhiều đảng viên Dân chủ “lo ngại bị coi là yếu kém” về chính sách đối ngoại, Michael O’Hanlon, một chuyên gia chính sách đối ngoại tại Viện Brookings có xu hướng tự do cho biết. Điều đó khiến họ thận trọng hơn nói chung.

Đảng Cộng hòa đã sử dụng vấn đề an ninh quốc gia như một vũ khí chống lại các ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ trong nhiều thập kỷ.

“Họ không muốn bị thua về vấn đề an ninh quốc gia,” O’Hanlon nói.

Vấn đề Venezuela đặc biệt khó khăn, bởi vì nhiều đảng viên Dân chủ không muốn bị coi là bảo vệ một nhà độc tài bằng cách phản đối chính chiến dịch này. Một số người trong đảng cũng lo ngại rằng bất kỳ sự tập trung nào vào chính sách đối ngoại sẽ làm phân tán sự chú ý khỏi những lời chỉ trích của họ về cách quản lý nền kinh tế của Trump, điều đã chứng minh hiệu quả trong một số cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ và bầu cử đặc biệt năm ngoái.

Cũng có một sự do dự rộng rãi hơn trong việc chỉ trích một chiến dịch quân sự của Mỹ.

“Đảng đối lập rất thận trọng ngay sau một chiến dịch quân sự, không muốn nói bất cứ điều gì, bởi vì họ lo lắng rằng họ sẽ bị coi là thiếu lòng yêu nước, họ sẽ bị tấn công, hoặc họ sẽ bị coi là không quan tâm đến an ninh quốc gia,” Julian Zelizer, một nhà sử học về tổng thống tại Đại học Princeton cho biết. “Và họ đang chờ xem điều gì sẽ xảy ra, bởi vì, cuối cùng, tổng thống sẽ phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ vấn đề nào phát sinh.”

Chỉ 11% đảng viên Dân chủ cho biết họ ủng hộ cuộc tấn công trong một cuộc thăm dò gần đây của Reuters, và hơn 70% người Mỹ nói chung cho biết họ lo ngại rằng Mỹ có thể can thiệp quá sâu vào Venezuela. Nhìn chung, người Mỹ chia rẽ khá đồng đều về cuộc tấn công, với khoảng một phần ba ủng hộ, một phần ba phản đối và một phần ba không có ý kiến.

Các nghị sĩ đảng Dân chủ đại diện cho các tiểu bang và khu vực có số lượng người Mỹ gốc Venezuela đáng kể đặc biệt bày tỏ sự ủng hộ rõ ràng đối với việc lật đổ Maduro.

“Việc bắt giữ nhà cai trị tàn bạo, bất hợp pháp của Venezuela, Nicolás Maduro, người đã áp bức người dân Venezuela, là tin tốt lành đối với bạn bè và hàng xóm của tôi, những người đã phải chạy trốn khỏi chế độ bạo lực, vô pháp và thảm khốc của ông ta,” dân biểu Debbie Wasserman Schultz (Florida) cho biết trong một tuyên bố. Tuy nhiên, bà chỉ trích chính quyền vì đã bỏ qua nghĩa vụ tham vấn Quốc hội về hành động này, và vì dường như ủng hộ sự tiếp tục của chế độ Maduro thông qua phó tổng thống của Maduro, Delcy Rodríguez.

Lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện Hakeem Jeffries (New York) ban đầu chỉ trích Trump vì đã bỏ qua Quốc hội trong một tuyên bố cũng lên án Maduro. Tuần này, ông nói với các phóng viên rằng Maduro đã “áp bức” và “tàn phá” đất nước của mình, nhưng “đa số người Mỹ không ủng hộ một cuộc chiến tranh nước ngoài thất bại khác, gây nguy hiểm cho những người lính của chúng ta.”

Đảng Dân chủ thường dao động giữa lập trường phản chiến và lập trường diều hâu hơn, phản ứng trước sự thành công hay thất bại của cuộc chiến gần đây nhất. Nhiều đảng viên Dân chủ kiên quyết phản đối chiến tranh sau Chiến tranh Việt Nam, và hầu hết đã bỏ phiếu chống lại việc cho phép Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 dưới thời Tổng thống George H.W. Bush. Cuộc can thiệp ngắn ngủi đó sau này được coi là thành công, một thực tế đã ám ảnh các đảng viên Dân chủ khi nhiều người bỏ phiếu cho phép chiến tranh ở Iraq năm 2002. Hầu hết các thượng nghị sĩ đảng Dân chủ đã ủng hộ cuộc bỏ phiếu đó, bao gồm Kerry và Hillary Clinton. Sau đó, họ bị ám ảnh bởi những lá phiếu đó khi dư luận quay lưng lại với Chiến tranh Iraq và họ ra tranh cử tổng thống.

“Hai người đã tranh cử với suy nghĩ rằng họ cần phải thể hiện mình là những tổng tư lệnh mạnh mẽ trong thời gian gần đây — John F. Kerry và Hillary Clinton. Và cả hai đều không trở thành tổng thống,” Dân biểu Ro Khanna (California), một ứng cử viên tiềm năng năm 2028, người đã kêu gọi tất cả các ứng cử viên đảng Dân chủ năm 2028 có lập trường mạnh mẽ chống lại cuộc đột kích.

Thay vào đó, Barack Obama đã thắng cử năm 2008 với thông điệp phản chiến. Sau đó, ông lại điều thêm quân đội Mỹ đến Afghanistan. Cả Trump và sau này là Biden đều vận động tranh cử với lời hứa rút quân khỏi Afghanistan.

Một số đảng viên Dân chủ trở nên cứng rắn hơn trong phản ứng trước những cuộc tấn công của Trump vào cộng đồng tình báo Mỹ trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông, khi ông chỉ trích cuộc điều tra về sự can thiệp của Nga vào cuộc bầu cử năm 2016. Mối đe dọa từ Nga – từng bị Obama coi là tàn dư của Chiến tranh Lạnh – đã trở thành trọng tâm trong luận điệu của đảng Dân chủ.

Nền tảng “Nước Mỹ trên hết” của Trump đã thu hút một số cử tri cánh tả phản chiến vào năm 2016 và 2024, và việc Trump tăng cường sử dụng lực lượng quân sự ở Venezuela và những nơi khác có thể tạo cơ hội để giành lại những cử tri này, Duss nói.

“Đây là một cơ hội lớn để một đảng viên Dân chủ đưa ra một tầm nhìn mạnh mẽ về vai trò của Mỹ trên thế giới,” Duss nói.

Juan Gonzalez, cựu quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phụ trách khu vực Mỹ Latinh dưới thời Biden, cho biết thông điệp của đảng Dân chủ sẽ trở nên rõ ràng hơn nếu tình hình bên trong Venezuela tiếp tục xấu đi.

“Đảng Dân chủ sẽ tiếp tục tìm thấy tiếng nói của mình khi chính quyền này hoàn toàn bế tắc trong vấn đề Venezuela,” Gonzalez nói. “Đảng Dân chủ theo truyền thống thường rất chú trọng đến quy trình. Họ muốn hệ thống quốc tế hoạt động hiệu quả, và chúng ta muốn giảm bớt ý tưởng về sự đặc biệt của Mỹ.”

Nhưng ông nói rằng những màn thể hiện sức mạnh táo bạo của Mỹ ở Venezuela và những nơi khác của Trump đã khơi dậy các cuộc tranh luận trong một số nhóm đảng viên Dân chủ về việc liệu đảng này có nên chấp nhận một tầm nhìn mạnh mẽ hơn về chính sách đối ngoại của Mỹ hay không.

“Điều mà Trump nhắc nhở chúng ta theo một cách tồi tệ là Hoa Kỳ có thể là một tác nhân quốc tế tàn nhẫn,” ông nói. “Đôi khi chúng ta cần phải làm điều đó – nhưng cách Trump sử dụng nó lại phản tác dụng.”

https://www.msn.com/en-us/politics/international-relations/cracks-in-democrats-venezuela-response-reveal-foreign-policy-muddle/ar-AA1TNWjl

NVV dịch
 

 2026-01-09  

Các lãnh đạo cấp cao của đảng Dân chủ đang kích động nổi dậy và bạo lực chính trị.
Dường như đảng Dân chủ cho rằng những luật lệ và chính sách mà họ không thích có thể bị cản trở bởi một đám đông giận dữ hoặc một thống đốc nổi loạn.


(John Daniel Davidson, The Federalist, 8/1/2026)

Hãy quên ngày 6 tháng 1 đi. Hóa ra ngày 7 tháng 1 có thể sẽ được ghi nhớ như ngày đánh dấu sự nổi dậy thực sự ở Mỹ — không phải từ phe cánh hữu MAGA, mà từ phe cánh tả chống Trump.

Sau vụ nổ súng gây chết người hôm thứ Tư tại Minneapolis, trong đó một phụ nữ dường như đã cố gắng tông xe vào một nhân viên ICE, Thống đốc bang Minnesota Tim Walz đã tuyên bố trong một cuộc họp báo rằng ông đã ban hành lệnh cảnh báo để chuẩn bị huy động Lực lượng Vệ binh Quốc gia Minnesota nhằm “bảo vệ người dân Minnesota” khỏi “các nhân viên ICE bất hảo”.

Khi được hỏi liệu Lực lượng Vệ binh Quốc gia có được triển khai chống lại các đặc vụ liên bang hay không, hoặc liệu điều tương tự đã từng xảy ra trước đây chưa, Walz nói, “Chúng ta chưa bao giờ có chiến tranh với chính phủ liên bang,” và tại một thời điểm, ông nói với người dân Minnesota, “đừng cho phép họ triển khai quân đội liên bang ở đây.”

Đây là một loạt tuyên bố gần như không thể tin được từ một thống đốc đương nhiệm. Nếu hiểu theo nghĩa đen, nó tương đương với một lời đe dọa sử dụng Lực lượng Vệ binh Quốc gia Minnesota cho một cuộc nổi dậy chống chính phủ liên bang — điều chưa từng thực sự xảy ra trong lịch sử nước Mỹ (cuộc xung đột vũ trang cuối những năm 1850 giữa người Mormon và quân đội Mỹ là một ví dụ, nhưng Utah lúc đó là một lãnh thổ chứ không phải một tiểu bang). Nếu Walz thực sự thực hiện lời đe dọa đó, đó sẽ là một hành động phản quốc công khai.

Trong trường hợp đó, phản ứng ôn hòa nhất sẽ là bắt giữ Walz ngay lập tức, liên bang hóa Lực lượng Vệ binh Quốc gia Minnesota và tuyên bố thiết quân luật. Liệu Walz có đủ cực đoan và thiếu hiểu biết để thực sự làm điều này? Ông ta đã sẵn sàng để Minneapolis bốc cháy trong các cuộc bạo loạn BLM năm 2020 trước khi kích hoạt Lực lượng Vệ binh Quốc gia để lập lại trật tự, nên ai mà biết được.

Nhưng không chỉ có Walz. Dường như mọi lãnh đạo đảng Dân chủ ở Minnesota đều đang cố gắng vượt mặt nhau trong các cuộc nổi loạn vào thứ Tư. Thị trưởng Minneapolis Jacob Frey đã bảo ICE "cút khỏi Minneapolis", nói rằng ý kiến ​​cho rằng đặc vụ ICE hành động tự vệ là "vô lý", và tuyên bố ICE đến Minneapolis để "giết người". Frey tuyên bố vụ nổ súng là giết người.

Frey và Walz đưa ra những tuyên bố này dựa trên các video mà mọi người đều đã xem. Vào thời điểm họ đưa ra những tuyên bố đó, họ không có bất kỳ kiến ​​thức hay thông tin đặc biệt nào về những gì đã xảy ra, ngoài những gì mà những người khác đã biết. Việc sử dụng loại ngôn từ kích động và cực đoan như vậy, trong một thành phố và một bầu không khí chính trị bất ổn như Minneapolis, chẳng khác nào đang cầu xin bạo loạn và bạo lực đám đông từ những người phản đối ICE.

Thực tế, trong nhiều tháng qua, Frey và các nhà lãnh đạo khác của đảng Dân chủ Minnesota đã liên tục bôi nhọ các nhân viên ICE và kêu gọi những người ủng hộ cực đoan của họ phá hoại các hoạt động hợp pháp của ICE. Phó Thống đốc Minnesota Peggy Flanagan, hiện là ứng cử viên hàng đầu cho một trong các ghế Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ của Minnesota, đã kêu gọi các nhà hoạt động "đặt tính mạng của mình vào nguy hiểm" để ngăn chặn các nhân viên ICE "bắt cóc" người dân.

Nếu đảng Cộng hòa sử dụng loại ngôn từ này, phe cánh tả sẽ gọi đó là “chủ nghĩa khủng bố ngẫu nhiên”, một thuật ngữ dùng để chỉ việc lặp đi lặp lại những lời lẽ thù địch, được khuếch đại bởi các phương tiện truyền thông, với mục đích kích động mọi người thực hiện các hành vi bạo lực có động cơ ý thức hệ, một cách ngẫu nhiên và khó lường. Thuật ngữ này trở nên nổi tiếng trong những năm gần đây như một lời lẽ công kích mà các nhà báo cánh tả dùng để nhắm vào Tổng thống Trump .

Tuy nhiên, những gì đang diễn ra ở Minnesota là một trường hợp điển hình của chủ nghĩa khủng bố ngẫu nhiên — do chính những người nắm giữ chức vụ chính trị cao nhất của tiểu bang này gây ra. Walz, Frey và Flanagan đang kêu gọi (và nhận được) sự tự ý hành động trấn áp chính trị. Cảnh sát trưởng Minneapolis đã kêu gọi cư dân thành phố gọi cho cảnh sát nếu họ thấy các đặc vụ ICE đeo mặt nạ đang bắt giữ ai đó, hứa rằng cảnh sát Minneapolis sẽ can thiệp. Walz thường xuyên gọi các đặc vụ ICE là Gestapo. Frey cũng vậy. Và nhiều nhà lãnh đạo đảng Dân chủ trên khắp cả nước cũng thế.

Hãy nhớ rằng, họ làm vậy vì không muốn chính quyền Trump thực thi luật nhập cư hiện hành . Các đặc vụ ICE này không hề hành động trái phép. Họ được Bộ An ninh Nội địa (DHS) ủy quyền hợp pháp và đang thực hiện các hoạt động hợp pháp. Các quan chức dân cử thuộc đảng Dân chủ, không chỉ ở Minnesota mà trên khắp cả nước, đã quyết định rằng vì họ không muốn luật nhập cư liên bang được thực thi nên việc khuyến khích người dân can thiệp, quấy rối, tấn công và cản trở ICE là điều chấp nhận được.

Kết quả là, chúng ta có một mạng lưới các nhà hoạt động chống ICE (bao gồm cả người phụ nữ bị bắn hôm thứ Tư) đang rong ruổi khắp đất nước, theo dõi các đặc vụ và can thiệp vào các hoạt động của ICE. Trong mười hai tháng qua, đã có hàng trăm vụ "người biểu tình" đâm xe vào các đặc vụ ICE. Đảng Dân chủ đã khuyến khích và kích động điều này - trong khi biết rằng đến một lúc nào đó, nó sẽ dẫn đến việc ai đó bị đặc vụ ICE bắn. Gần như thể họ muốn điều đó xảy ra.

Ngay lúc tôi viết những dòng này, các đám đông giận dữ đang tràn ngập đường phố Minneapolis. Những kẻ bạo loạn đã đập phá cửa tòa án liên bang ở trung tâm thành phố Minneapolis. Thành phố rất có thể sẽ bốc cháy trong những ngày tới, giống như năm 2020.

Tình trạng vô pháp vô thiên của đám đông cánh tả là điều có thể dự đoán được vào thời điểm này. Điều đó không có nghĩa là không nên bắt giữ và truy tố tất cả bọn họ, ít nhất là với mức độ nghiêm khắc như chính quyền Biden đã truy tố những người thuộc nhóm J6. Nhưng cũng cần phải có biện pháp đối với các chính trị gia đảng Dân chủ đang kích động bạo lực và, trong trường hợp của Walz, đang có ý định nổi loạn.

Ông Trump có cơ hội làm điều mà ông đáng lẽ phải làm vào năm 2020 trong các cuộc bạo loạn của phong trào Black Lives Matter. Việc ông hành động mạnh mẽ hay chùn bước trong những ngày tới không chỉ có thể định hình nhiệm kỳ tổng thống của ông. Nó còn có thể là thời điểm quyết định trong cuộc ly khai quốc gia của chúng ta, khoảnh khắc "Kansas đẫm máu" của chúng ta, khoảnh khắc mà một ngày nào đó chúng ta nhìn lại và nói, tất cả đã kết thúc sau đó.

https://thefederalist.com/2026/01/08/top-democrats-are-agitating-for-insurrection-and-political-vigilantism/

NVV dịch


 

 2026-01-06  

Đảng Dân chủ cứ mãi mắc kẹt trong quá khứ. Ghét Trump không giúp thắng cử.

(Ingrid Jacques, USA TODAY, 6/1/2026)

Và đây rồi. Năm 2026. 

Chỉ còn 10 tháng nữa là đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ .

Và dường như đảng Dân chủ vẫn chẳng biết gì hơn bao giờ hết. Việc họ liên tục la hét về mọi việc Tổng thống Donald Trump làm (hoặc không làm) khiến họ không có kế hoạch riêng – và thường làm họ trông giống như những kẻ đạo đức giả. 

Ví dụ điển hình: động thái táo bạo gần đây của chính quyền Trump nhằm bắt giữ nhà độc tài Venezuela ("Tổng thống") Nicolás Maduro và buộc ông ta phải chịu trách nhiệm. 

Dù bạn có thích cách Trump tiến hành chiến dịch này hay không, điều không khó để thừa nhận là Maduro đã khủng bố người dân và chế giễu nền dân chủ bằng cách gian lận bầu cử ở nước mình. Người Venezuela ở Hoa Kỳ và trên toàn thế giới đang ăn mừng những gì Trump đã làm.

Mới đây, nhiều lãnh đạo cấp cao của đảng Dân chủ đã chỉ trích Trump vì không có hành động đủ mạnh mẽ chống lại Maduro.

Ví dụ, vào năm 2020, Lãnh đạo phe thiểu số tại Thượng viện Chuck Schumer, đảng Dân chủ, tiểu bang New York, đã chỉ trích Trump vì không chấm dứt chế độ Maduro: "Tổng thống khoe khoang về chính sách Venezuela của mình ư? Thôi nào. Ông ấy chưa hề chấm dứt được chế độ Maduro."

Vào tháng 10 năm 2020, Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Chris Murphy của tiểu bang Connecticut đã mỉa mai trên mạng xã hội: “Điều tốt nhất từng xảy ra với Nicolas Maduro chính là Donald Trump. Chính sách của Trump đối với Venezuela là một thảm họa hoàn toàn, củng cố quyền lực của Maduro và phá hỏng mọi cơ hội chuyển đổi dân chủ.”

Và để không bị bỏ lại phía sau, ứng cử viên Joe Biden khi đó đã đăng tải dòng trạng thái này lên mạng xã hội vào tháng 6 năm 2020: “Trump nói cứng rắn về Venezuela, nhưng lại ngưỡng mộ những tên côn đồ và nhà độc tài như Nicolas Maduro. Với tư cách là Tổng thống, tôi sẽ sát cánh cùng người dân Venezuela và vì nền dân chủ.”

Giờ đây, khi Trump đã có hành động quyết đoán, các chính trị gia đảng Dân chủ dường như đã quên mất họ từng nghĩ Maduro tồi tệ đến mức nào. 

Ngay cả một số đảng viên Dân chủ ôn hòa (tức là tỉnh táo) cũng nhận ra điều này khiến họ trông yếu đuối và ngớ ngẩn.

Một số nghị sĩ Dân chủ đắc cử tại các tiểu bang tranh chấp đã giấu tên nói với Axios rằng họ không đồng ý với cách tiếp cận này, cho rằng đảng thiếu "sự tinh tế" khi phản ứng với Trump.  

“Tôi nghĩ điều đó thể hiện sự yếu kém,” một nghị sĩ Dân chủ tại Hạ viện nói với tờ báo. “Nếu bạn không thừa nhận khi đất nước chúng ta giành được chiến thắng, thì bạn sẽ mất hết uy tín.”

Nói về uy tín, đảng Dân chủ chẳng có gì để mất. Năm vừa qua cho thấy tỷ lệ ủng hộ thấp kỷ lục và vẫn tiếp tục giảm. 

Một cuộc thăm dò của Đại học Quinnipiac hồi tháng 12 cho thấy (chỉ có) 18% cử tri tán thành cách các dân biểu Dân chủ tại Quốc hội đang làm việc (73% không tán thành). Trong số các thành viên đảng Dân chủ, chỉ có 42% tán thành chính đảng của mình.

Ngược lại, cuộc thăm dò cho thấy 35% cử tri ủng hộ các dân biểu đảng Cộng hòa trong Quốc hội (58% không ủng hộ). Và trong nội bộ đảng Cộng hòa, cử tri dành cho các thành viên của họ tỷ lệ ủng hộ cao hơn nhiều: 77%. 

Tất cả những điều này đều báo hiệu tin xấu cho đảng Dân chủ đang hy vọng giành lại quyền kiểm soát Quốc hội. Và mặc dù họ vẫn đạt tỷ lệ cao hơn (khoảng 4%) trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 2026 , nhưng tỷ lệ đó chỉ bằng chưa đến một nửa so với trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2018 dưới thời tổng thống đầu tiên của ông Trump. 


Đảng Cộng hòa vẫn còn rất nhiều việc phải làm để thực hiện các lời hứa trong chiến dịch tranh cử.
Tổng thống Donald Trump phát biểu trong bữa tiệc đêm giao thừa tại câu lạc bộ Mar-a-Lago của ông ở Palm Beach, Florida, vào ngày 31 tháng 12 năm 2025.

Điều này không có nghĩa là đảng Cộng hòa thoát khỏi trách nhiệm. 

Mặc dù chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai nhanh chóng lên nắm quyền và kiểm soát được biên giới cũng như vấn đề nhập cư bất hợp pháp, nhiều cử tri vẫn đang chờ đợi để cảm nhận được sự cải thiện của nền kinh tế.

Cuộc thăm dò của Quinnipiac cho thấy những vấn đề cấp bách nhất mà đất nước đang phải đối mặt là kinh tế (24%) và bảo vệ nền dân chủ (24%). Vấn đề nhập cư chiếm 18%.

Ông Trump đã hứa rằng người dân Mỹ sẽ bắt đầu cảm nhận được tác động của các chính sách kinh tế của chính quyền ông trong năm tới, nhưng ông ấy sẽ phải bắt đầu đưa ra bằng chứng cụ thể. 

Việc can thiệp bất ngờ vào Venezuela này có thể gây hoang mang cho những cử tri của Trump, những người vốn nghĩ rằng tổng thống sẽ ưu tiên các vấn đề trong nước. Ngoại trưởng Marco Rubio đã đưa ra những lập luận mạnh mẽ về lý do tại sao việc lật đổ Maduro lại tốt cho đất nước chúng ta – đặc biệt là khi xét đến sự can thiệp ngày càng tăng của các đối thủ như Trung Quốc, Nga và Iran vào Venezuela. Đó là một mối lo ngại chính đáng. 

Nhưng nếu Trump kỳ vọng người dân Mỹ sẽ ủng hộ, trong khi họ đang quan tâm hơn đến việc trang trải cuộc sống hàng ngày, thì ông ấy sẽ phải làm tốt hơn nữa trong việc giải thích tính cấp bách của nhiệm vụ này. 

Đảng Dân chủ đang trong tình trạng hỗn loạn . Nếu đảng Cộng hòa thua họ vào tháng 11, đó sẽ là lỗi của chính họ. 

https://www.usatoday.com/story/opinion/columnist/2026/01/06/democrats-trump-maduro-midterm-elections/87992364007/
 

NVV dịch

 

 2026-01-07  

Hoa Kỳ có nhiều lựa chọn đối với Greenland - Bây giờ là lúc hành động

(Alexander B. Gray, RCP, 7/1/2025)

Hành động quyết đoán của Tổng thống Trump chống lại chế độ Maduro bất hợp pháp ở Venezuela đã thu hút sự chú ý của thế giới vào Tây bán cầu. Điều này hoàn toàn tốt, vì chính quyền Trump đã làm rõ tầm quan trọng mà Washington dành cho khu vực lân cận của mình. Chiến lược An ninh Quốc gia gần đây nhấn mạnh rằng sau ba thập kỷ chiến tranh phản tác dụng ở Trung Đông và Nam Á, chính quyền này sẽ ưu tiên bảo vệ lãnh thổ Mỹ và bán cầu của chúng ta. Nó cũng thiết lập “Trump Corollary” cho Học thuyết Monroe, quy định rằng “các cường quốc ngoài bán cầu” (ví dụ như Trung Quốc, Nga và Iran) sẽ không được phép can thiệp vào bán cầu này. Sự thông đồng của Maduro với cả ba quốc gia này đã góp phần vào sự sụp đổ của ông ta trong bối cảnh điều chỉnh lại lợi ích cốt lõi của Mỹ vốn đã quá muộn.

Kể từ chiến dịch chống Maduro, đã có nhiều đồn đoán về việc liệu tổng thống có tiếp tục hành động theo khuôn khổ “phòng thủ bán cầu”, khái niệm chiến lược truyền thống của Mỹ về việc củng cố các điểm phòng thủ quan trọng trên khắp bán cầu hay không. Greenland, nơi mà tổng thống từ lâu đã bày tỏ sự quan tâm đến việc đưa gần hơn với Hoa Kỳ, đại diện cho bước đi quan trọng và cần thiết nhất về mặt chiến lược trong việc tăng cường ô bảo vệ bán cầu của Mỹ. Và mặc dù Tổng thống Trump đã thúc đẩy đáng kể cuộc thảo luận về tầm quan trọng của Greenland đối với an ninh quốc gia Hoa Kỳ, ông không phải là tổng tư lệnh đầu tiên tích cực tìm cách mua lại hòn đảo lớn nhất thế giới này: Các tổng thống từ Andrew Johnson đến Woodrow Wilson, Franklin Roosevelt và Dwight Eisenhower đều đã theo đuổi việc mua lại Greenland.

Với đà phát triển hiện nay, chính quyền Trump có thể thực hiện một số hành động thích hợp và tương xứng để thúc đẩy lợi ích thực sự của mình trong việc đưa Greenland gần hơn với Hoa Kỳ. Những hành động như vậy là cần thiết do mối đe dọa đặc biệt đối với an ninh quốc gia Hoa Kỳ nếu các đối thủ như Trung Quốc và Nga giành được thêm lợi thế ở Greenland và vùng Bắc Cực, nơi vẫn còn được bảo vệ rất thưa thớt. Hoạt động tàu ngầm gần đây của Trung Quốc ở Bắc Cực cho thấy bản chất phổ biến và mở rộng của mối đe dọa mà bán cầu phải đối mặt từ các cường quốc bên ngoài, cũng như các cuộc diễn tập chiến tranh được công khai của Trung Quốc về các kịch bản chiến đấu ở Tây bán cầu. 

Thứ nhất, chính quyền nên làm chính xác những gì Đan Mạch đã yêu cầu – yêu cầu quyền tiếp cận quân sự rộng rãi theo các điều khoản của Hiệp định Phòng thủ Greenland năm 1951. Copenhagen liên tục lập luận rằng Washington không cần mối quan hệ chặt chẽ hơn với Greenland vì họ đã được hưởng quyền tiếp cận quân sự rộng rãi theo các điều khoản của hiệp ước năm 1951, nhưng hiếm khi thực hiện các quyền đó trong những thập kỷ gần đây. Tổng thống Trump nên giải quyết vấn đề này ngay lập tức bằng cách yêu cầu sự hợp tác của Đan Mạch trong việc chuyển giao các tài sản đáng kể của Hoa Kỳ đến Greenland, bao gồm máy bay chống tàu ngầm; nhân viên và thiết bị huấn luyện và hỗ trợ ở Bắc Cực; các tài sản tình báo, giám sát và trinh sát; và các đơn vị Đặc nhiệm phù hợp. Chính quyền có thể nhanh chóng tiếp tục với một đề xuất lớn hơn về sự hiện diện cơ sở vật chất mạnh mẽ hơn ở Greenland, bao gồm các cơ sở hải quân và không quân và các cơ sở huấn luyện thường trực; thành lập Lực lượng Đặc nhiệm chung (Joint Task Force) Greenland thường trực, do một sĩ quan cấp tướng hai sao chỉ huy; và nâng cấp Căn cứ Không gian Pittufik lên cấp bậc sĩ quan cấp cao.

Thứ hai, mặc dù việc tái tổ chức bộ máy hành chính có vẻ không quan trọng, nhưng nó lại gửi đi một tín hiệu mạnh mẽ về ý định và cam kết. Tổng thống đã bày tỏ mong muốn lâu dài của mình là đưa Greenland vào Hoa Kỳ theo một cách nào đó – do đó, vị trí của Greenland trong bộ máy hành chính của chính phủ Hoa Kỳ rất quan trọng. Trong khi Bộ Ngoại giao nên tiếp tục thảo luận với Đan Mạch về nhiều vấn đề song phương, các chức năng chính liên quan đến Greenland nên được chuyển sang Bộ Nội vụ và chia sẻ giữa phòng Các vấn đề người da đỏ (Bureau of Indian Affairs) và phòng Các vấn đề đảo (Bureau of Insular Affairs). Phòng thứ nhất có vị trí thuận lợi để khuyến khích đối thoại với người dân Greenland do mối liên hệ chặt chẽ của họ với người bản địa Alaska và các dân tộc bản địa khác, và phòng thứ hai quản lý các lãnh thổ của Hoa Kỳ như Guam và Samoa thuộc Mỹ và liên lạc với các quốc gia liên kết tự do như Quần đảo Marshall, Micronesia và Palau. Cấu trúc hành chính này phản ánh tốt hơn tầm nhìn của Mỹ về mối quan hệ độc đáo với Greenland và người dân của nó, và định hình cuộc thảo luận về tình trạng chính trị tương lai của Greenland một cách thích hợp.

Thứ ba, trong khi Hiệp định Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) đang được xem xét, Greenland nên được tạo cơ hội tham gia bằng một hình thức nào đó, hoặc thông qua các phụ lục đề cập đến các vấn đề cụ thể của Greenland mang lại lợi ích to lớn cho người dân Greenland, hoặc với tư cách là thành viên liên kết. Những lợi ích kinh tế phi thường từ việc hội nhập sâu rộng hơn với Bắc Mỹ cơ hội có một không hai cho người dân Greenland; cử chỉ hữu nghị và tôn trọng này sẽ thể hiện cam kết lâu dài của tổng thống đối với mối quan hệ gần gũi hơn. Việc từ chối lời đề nghị như vậy sẽ rất khó khăn về mặt chính trị đối với cả Nuuk và Copenhagen.

Thứ tư, Bộ An ninh Nội địa có thể chỉ định một “khu vực cơ sở hạ tầng quan trọng” xung quanh Greenland, bao gồm cáp ngầm dưới biển, hệ thống radar và cảm biến không gian. Điều này chính thức tích hợp Greenland vào kế hoạch của Bộ An ninh Nội địa và làm rõ rằng Washington coi việc bảo vệ cơ sở hạ sở hạ tầng của Greenland là không thể tách rời khỏi nỗ lực bảo vệ cơ sở hạ tầng quan trọng rộng lớn hơn của Mỹ. Trước hoạt động gần đây của Trung Quốc và Nga trong các khu vực này, đây vừa là một bước đi thiết thực vừa là một tín hiệu quan trọng thể hiện sự nghiêm túc.

Cuối cùng, để làm rõ tầm nhìn dài hạn về Greenland như một phần không thể thiếu của Tây bán cầu và một điểm nút quan trọng trong phòng thủ bán cầu, chính quyền có thể chỉ định Greenland là “Lãnh thổ chiến lược cấp 1 của Hoa Kỳ” (Tier-1 Strategic Territory of the United States), thuật ngữ hành chính tương đương với Guam hoặc Diego Garcia. Điều này gửi đi một tín hiệu mạnh mẽ đến thế giới và Quốc hội rằng chính quyền sẽ dành nguồn lực cho nỗ lực dài hạn nhằm đưa Greenland đến gần hơn với Hoa Kỳ tương xứng với tầm quan trọng chiến lược của nó.

Tổng hợp lại, những bước đi này cung cấp một lộ trình tức thời cho Tổng thống Trump và chính quyền của ông để xây dựng dựa trên động lực từ việc thực hiện “Trump Corollary” đối với Học thuyết Monroe và sự trở lại với phòng thủ bán cầu. Những hành động này phản ánh sự hiểu biết rõ ràng của tổng thống về tầm quan trọng của Greenland đối với an ninh quốc gia Mỹ và sự cần thiết phải thực hiện các bước đi rõ ràng, có tính toán và có mục đích nhằm hiện thực hóa mối quan hệ mạnh mẽ hơn giữa người Mỹ và người Greenland.

https://www.realclearpolitics.com/articles/2026/01/07/us_has_many_options_on_greenland--now_is_the_time_to_act.html

Alexander B. Gray từng là phó trợ lý tổng thống và chánh văn phòng Hội đồng An ninh Quốc gia Tòa Bạch Ốc, 2019-2021.

 NVV dịch

 

 2026-01-06  

Cuộc đột kích Venezuela là một thắng lợi cho chủ nghĩa chống can thiệp "Nước Mỹ trên hết".

(John Daniel Davidson, The Federalist, 6/1/2026)

Sau chiến dịch thành công của chính quyền Trump tại Venezuela cuối tuần qua, chúng ta lại nghe thấy những lời phản đối đạo đức giả quen thuộc từ phe tả: rằng hành động đó là "bất hợp pháp", rằng Trump chỉ muốn dầu mỏ của Venezuela, rằng việc bắt giữ Nicolas Maduro đại diện cho "Iraq 2.0".

Tất nhiên, những lời phản đối này vừa thiếu thành thật vừa không chính xác. Và dù sao đi nữa, bất kỳ chiến dịch quân sự nào mà Trump có thể tiến hành chống lại kẻ thù của Mỹ ở nước ngoài cũng sẽ luôn bị đảng Dân chủ phản đối kịch liệt và lên án một cách thái quá — ngay cả khi nó thành công rực rỡ, như trường hợp này.

Nhưng những phản đối và sự phẫn nộ đến từ phe cánh hữu mới là điều quan trọng hơn — và đáng lo ngại hơn. Dân biểu Marjory Taylor Greene, người trước đây thuộc phong trào MAGA, đã lên mạng xã hội để đăng tải một bài phản đối dài, lên án chiến dịch Venezuela là "thay đổi chế độ" và là sự phản bội đối với cử tri ủng hộ Trump. Bà Greene nói rằng những người nghĩ rằng họ bỏ phiếu cho Trump để chấm dứt "sự xâm lược quân sự không ngừng nghỉ và sự ủng hộ các cuộc chiến tranh nước ngoài của chính phủ chúng ta" đã sai lầm.

Những bất bình của bà phản ánh quan điểm của một bộ phận không nhỏ trong phe cánh hữu, những người cam kết theo đuổi một cách làm việc nhất định, và cụ thể là tuân thủ nghiêm ngặt trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Greene viết: “Tại sao Mỹ được phép xâm lược, ném bom và bắt giữ một nhà lãnh đạo nước ngoài bằng quân sự, nhưng Nga lại bị coi là xấu xa vì xâm lược Ukraine và Trung Quốc lại bị coi là tồi tệ vì gây hấn với Đài Loan? Phải chăng chỉ khi chúng ta làm điều đó thì mới được chấp nhận?”

Đây là một câu hỏi quan trọng, và nó chạm đến cốt lõi của một số hiểu lầm khá sâu sắc về sức mạnh và lợi ích quốc gia của Mỹ trong phe cánh hữu MAGA, những người dễ hiểu là thận trọng với bất kỳ hành động quân sự nào ở nước ngoài sau nhiều thập kỷ phiêu lưu mạo hiểm thảm khốc của phe tân bảo thủ ở nước ngoài.

Câu trả lời ngắn gọn cho câu hỏi của Greene là có, việc đó hoàn toàn ổn nếu chúng ta làm, bởi vì chúng ta đang làm điều đó vì chính mình, nhằm thúc đẩy lợi ích quốc gia và an ninh quốc gia, điều mà trật tự quốc tế dựa trên luật lệ được tạo ra để bảo vệ. Chúng ta có một nhà độc tài cộng sản của một quốc gia giàu dầu mỏ ngay sát bên cạnh, người không chỉ cấu kết với các băng đảng ma túy khủng bố để tràn ngập bờ biển của chúng ta bằng ma túy chết người và người di cư bất hợp pháp, mà còn mời Trung Quốc, Nga, Cuba và Iran đảm nhận các vai trò quan trọng trong cơ sở quân sự và công nghiệp của ông ta. Hệ thống radar và phòng thủ tên lửa mà phi công của chúng ta phải bắn phá trên Caracas được xây dựng và vận hành bởi Nga. Quân đội bảo vệ chính Maduro là người Cuba. Đây là một đòn tấn công trên hết nhằm vào các cường quốc xét lại đang tìm cách giành chỗ đứng (và đã giành được chỗ đứng) ở sân sau của chúng ta.

Phản ứng dễ dãi trước tình trạng này là của Greene: buông xuôi và tuyên bố rằng nếu chúng ta phế truất nguyên thủ quốc gia của một nước láng giềng, điều đó sẽ bật đèn xanh cho mọi cường quốc khác làm điều tương tự. Tất nhiên, điều đó không đúng. Nó thậm chí không làm cho kết quả đó trở nên có thể xảy ra hơn. Nếu có điều gì xảy ra, thì Bắc Kinh ít có thể hành động chống lại Đài Loan hơn sau hành động cuối tuần vừa qua.

Nhưng quan trọng hơn, các cường quốc đó chưa bao giờ tuân thủ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, mà trên hết họ coi đó là trở ngại cho sự trỗi dậy của mình. Họ không thể viện dẫn luật lệ để tự vệ, và chúng ta cũng không nên viện dẫn luật lệ thay mặt họ.

Một phản ứng chín chắn hơn đối với cuộc đột kích của Trump vào Caracas là nhận ra sự khác biệt giữa các sự việc và phân biệt rõ ràng. Có sự khác biệt (điều hiển nhiên) giữa chế độ Maduro và chính phủ ở Đài Bắc. Có sự khác biệt giữa việc chúng ta bắt giữ Maduro và cuộc xâm lược Ukraine của Moscow. Việc liệt kê tất cả những khác biệt đó sẽ là rườm rà; ai cũng biết chúng là gì.

Cũng có sự khác biệt giữa những gì một quốc gia nước ngoài làm để theo đuổi lợi ích của họ và những gì chúng ta làm để theo đuổi và bảo vệ lợi ích của chính mình. Là một người Mỹ, tôi có tình cảm đặc biệt dành cho đất nước mình. Tôi muốn các nhà lãnh đạo của chúng ta bảo vệ biên giới và lợi ích của đất nước bằng tất cả quyền lực mà họ có. Tôi kỳ vọng họ sẽ làm như vậy. Nếu Trung Quốc xâm lược Đài Loan, điều đó sẽ đi ngược lại lợi ích quốc gia của chúng ta và chúng ta sẽ phản đối một cách chính đáng. Nếu một quốc gia láng giềng trở thành một quốc gia buôn bán ma túy (như Mexico), tôi muốn chúng ta hành động chống lại quốc gia đó, bất chấp các quy tắc quốc tế.

Điều đó không có nghĩa là các nguyên tắc không quan trọng, mà là chúng phụ thuộc vào bối cảnh thực tế của thế giới. Quan hệ quốc tế không hoạt động giống như các bài toán. Bạn không thể áp dụng các con số — hay các nguyên tắc của luật quốc tế — vào mọi nơi trên bản đồ và nhận được cùng một kết quả. Các quốc gia và chế độ khác nhau và không bình đẳng. Nhiều quốc gia chỉ là quốc gia trên danh nghĩa, tồn tại theo ý muốn và sự khoan dung của các cường quốc thực sự, những cường quốc này hành động lên chúng và đôi khi thông qua chúng để thúc đẩy lợi ích của mình. Đó là trường hợp của Trung Quốc và Nga ở Venezuela, cho đến cuối tuần này.

Tình trạng này đã tồn tại trong phần lớn lịch sử loài người. Do đó, Học thuyết Monroe và Hệ quả Roosevelt ra đời, thừa nhận rằng các quốc gia Trung và Nam Mỹ yếu và dễ bị các cường quốc châu Âu thao túng và can thiệp, và có lẽ sẽ luôn như vậy. Việc cho phép điều đó xảy ra không nằm trong lợi ích của chúng ta, và trong nhiều năm dài, chúng ta đã không làm vậy. Thật vậy, cho đến trước những biến động của Chiến tranh Thế giới thứ nhất, hầu hết các quốc gia đều thừa nhận rằng có các cường quốc lớn, các cường quốc nhỏ hơn, và nhiều nơi chịu sự quản lý ở một mức độ nào đó của các cường quốc này. Chính sách đối ngoại của Mỹ, đặc biệt là ở Trung và Nam Mỹ, dựa trên thực tế đó. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, tất cả đã thay đổi. Chúng ta ở phương Tây chấp nhận khuôn khổ trừu tượng của Wilson về “toàn vẹn lãnh thổ”, “chủ quyền nhân dân” và “luật pháp quốc tế”. Tất cả những điều đó, ở một mức độ lớn, chỉ là một sự giả tạo lịch sự. Và nó vẫn còn như vậy.

Ví dụ, không ai cho rằng việc Mỹ phát động một cuộc viễn chinh quân sự vào Berlin và bắt giữ Thủ tướng Đức Friedrich Merz là được phép, đơn giản vì Đức là một quốc gia thực sự với quyền lực thực sự. Pháp, Nga và Ba Lan cũng vậy. Nhưng việc tiến vào Caracas và bắt giữ Maduro lại hoàn toàn được phép, bởi vì Venezuela không phải là một quốc gia thực sự và không có quyền lực thực sự. Có những quy tắc khác dành cho các chế độ như của Maduro, những chế độ tự đặt mình ra ngoài trật tự dựa trên luật lệ.

Thực tế, việc liên minh với các đối thủ của Mỹ và cho phép họ thiết lập các hoạt động quân sự và công nghiệp tại nước ông ta là quyết định của chính Maduro. Chúng tôi không ép buộc ông ta làm vậy. Sau khi đã làm điều đó, giờ đây ông ta đã nhận ra hậu quả của việc làm này trong thời gian Trump nắm quyền, cùng với phần còn lại của thế giới. Tốt.

Người ta thường nói rằng chính sách đối ngoại của Trump mang hơi hướng Jacksonian, và đúng là như vậy: hành động quân sự hạn chế nhưng quyết liệt để thúc đẩy các lợi ích rõ ràng của Mỹ. Nó trái ngược với chủ nghĩa xây dựng quốc gia hay chủ nghĩa hiếu chiến lật đổ chế độ của phe tân bảo thủ. Những người thuộc phe cánh hữu MAGA chỉ trích hành động đối với Venezuela, như Greene, nên hiểu rõ hơn là không nên đưa ra sự so sánh sai lầm đó. Chính sách của Trump đối với Venezuela trong ba hoặc bốn tháng qua — việc triển khai một hạm đội tàu chiến Mỹ ngoài khơi, việc nhắm mục tiêu có hệ thống vào các tàu buôn ma túy, việc bắt giữ tàu chở dầu — được thiết kế để phù hợp nhất có thể với bản năng và sở thích chống can thiệp của cơ sở cử tri MAGA của ông. Chúng ta không có chiến tranh với Venezuela. Chúng ta không có lực lượng chiếm đóng ở đó. Và Maduro đã ra đi.

Ở thời điểm này, điều hữu ích là không nên lên án chiến dịch Caracas của chính quyền như một sự phản bội đối với MAGA, mà nên hiểu cách tiếp cận chính sách đối ngoại của ông ấy như một sự trở lại với chuẩn mực lịch sử — và một sự bác bỏ rõ ràng cách thức chính sách đối ngoại của Mỹ đã được thực hiện trong 25 năm qua. Nếu điều đó có nghĩa là những hành động hạn chế, đơn phương, bất ngờ từ thời điểm này sang thời điểm khác, như vụ đánh bom chương trình hạt nhân của Iran hoặc việc bắt giữ và đưa Maduro ra khỏi lãnh thổ, những hành động mà quân đội của chúng ta đã thực hiện mà không gây thương vong đáng kể hoặc chiếm đóng, thì người Mỹ cánh hữu nên biết ơn. Trong trường hợp của Venezuela và Maduro, họ nên coi đó là chiến thắng.


https://thefederalist.com/2026/01/06/the-venezuela-raid-was-a-win-for-america-first-anti-interventionism/

NVV dịch
 

 2026-01-03  

Lý do thực sự khiến Mỹ lật đổ Venezuela
Và tại sao tất cả lại bắt đầu ở Trung Quốc vào tháng 11 năm 2025?


(The Minority Report, Substack, 3/1/2026)

Tháng 11 năm 2025, một sự kiện phi thường đã xảy ra ở Hồng Kông mà hầu hết mọi người đều bỏ lỡ. Trung Quốc phát hành trái phiếu trị giá 4 tỷ đô la Mỹ; thoạt nhìn thì đây là một giao dịch tài chính thông thường. Nhưng khi nhận được đơn đặt hàng, tổng số tiền lên tới 118 tỷ đô la. Lượng đặt mua vượt quá 30 lần so với số lượng phát hành. Các nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới gần như giẫm đạp lên nhau để mua trái phiếu chính phủ Trung Quốc.

Đây là phần mà mọi người nên chú ý: trái phiếu Trung Quốc bắt đầu được giao dịch với "lãi suất thấp hơn" so với trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ. Hãy đọc lại điều này một cách chậm rãi. Các nhà đầu tư toàn cầu đã chấp nhận lãi suất thấp hơn đối với nợ của Trung Quốc so với nợ của Mỹ - bất chấp việc Trung Quốc có xếp hạng tín dụng thấp hơn (A+ so với AA của Mỹ). Trong hệ thống tài chính toàn cầu, điều này gần giống như việc một thương hiệu mới nổi bán chạy hơn Coca-Cola với giá cao hơn. Điều đó đơn giản là không thể xảy ra. Cho đến khi nó đã xảy ra.

Một tháng sau, Hoa Kỳ bắt đầu huy động lực lượng cho khả năng can thiệp vào Venezuela. Nếu bạn nghĩ những sự kiện này không liên quan, bạn đang bỏ lỡ câu chuyện địa chính trị quan trọng nhất của thế hệ chúng ta. Đây là câu chuyện về sự sụp đổ chậm chạp của cấu trúc đã nâng đỡ quyền lực của Mỹ trong nửa thế kỷ qua: vai trò của đồng đô la Mỹ như là đồng tiền dự trữ thống trị thế giới. Và Venezuela, một cách khó tin, đã trở thành tâm điểm trong cuộc chiến bảo vệ vị thế đó.

* Đặc quyền quá mức của đồng đô la


Để hiểu được những gì đang bị đe dọa, chúng ta cần nắm bắt điều mà cựu Bộ trưởng Tài chính Pháp Valéry Giscard d'Estaing nổi tiếng gọi là “đặc quyền quá mức” của Mỹ. Kể từ thỏa thuận Bretton Woods năm 1944, và đặc biệt là sau thỏa thuận năm 1973 với Ả Rập Xê Út tạo ra “petrodollar”, đồng đô la Mỹ đã đóng vai trò là đồng tiền dự trữ chính của thế giới. Vị thế này mang lại cho Hoa Kỳ một sức mạnh kinh tế gần như siêu nhiên.

Khi bạn cần đô la để mua dầu, thanh toán nợ quốc tế hoặc tham gia thương mại toàn cầu, bạn sẽ tự động tạo ra nhu cầu về tiền tệ Mỹ. Nhu cầu này cho phép chính phủ Mỹ vay với lãi suất thấp hơn bất kỳ quốc gia nào khác, về cơ bản là tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách in tiền mà thế giới buộc phải sử dụng. Về mặt kinh tế, điều này tương đương với việc sở hữu trạm thu phí trên mọi đường cao tốc chính trong nền kinh tế toàn cầu. Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội ước tính đặc quyền này giúp chính phủ Mỹ tiết kiệm được từ 100 đến 250 tỷ đô la mỗi năm chi phí vay.

Quan trọng hơn, sự thống trị của đồng đô la đã trở thành vũ khí địa chính trị mạnh nhất của Mỹ. Kiểm soát hệ thống đô la đồng nghĩa với việc kiểm soát được quyền tiếp cận nền kinh tế toàn cầu. Nếu vi phạm, Hoa Kỳ có thể cắt đứt liên lạc của bạn với SWIFT (mạng lưới giao tiếp ngân hàng quốc tế), đóng băng dự trữ đô la của bạn, hoặc áp đặt các biện pháp trừng phạt tương đương với việc bị cô lập về kinh tế. Khi Nga sáp nhập Crimea năm 2014, Mỹ đã chứng minh sức mạnh này một cách dứt khoát, và trong nhiều năm, sức mạnh đó dường như không thể bị đánh bại.

Nhưng các đế chế, giống như các loài, hiếm khi lường trước được sự diệt vong của chính mình.

* Cuộc Cách mạng Yên tĩnh

Việc phát hành trái phiếu của Trung Quốc tại Hồng Kông mang ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với một hoạt động huy động vốn thành công. Theo phân tích của JP Morgan và Hội đồng Vàng Thế giới, đây không phải là việc huy động vốn; Trung Quốc có hơn 3 nghìn tỷ đô la dự trữ ngoại hối. Đây là một bằng chứng về khái niệm, một minh chứng cho thế giới thấy rằng một giải pháp thay thế cho hệ thống đô la không chỉ khả thi mà nó đã hiện hữu và đang hoạt động.

Hãy xem xét cơ chế hoạt động: Trung Quốc huy động đô la thông qua việc bán trái phiếu, sau đó sử dụng số đô la đó để tài trợ cho các dự án Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường trên khắp các quốc gia đang phát triển. Nhưng điểm mấu chốt ở đây là, họ đang cơ cấu các khoản trả nợ bằng nhân dân tệ (RMB), chứ không phải đô la. Đó là một cuộc đấu võ tài chính, sử dụng điểm mạnh của đối thủ để chống lại họ. Lấy Argentina làm ví dụ. Kể từ năm 2023, Argentina đã trả một phần nợ của mình cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế bằng RMB có được thông qua các thỏa thuận hoán đổi tiền tệ với Trung Quốc. Đô la đi vào một cửa và đi ra bằng một cửa khác, trong khi RMB âm thầm mở rộng phạm vi ảnh hưởng của nó.

Các con số cho thấy một câu chuyện rõ ràng. Theo dữ liệu COFER (Thành phần tiền tệ của dự trữ ngoại hối chính thức) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tỷ trọng của đồng đô la trong dự trữ toàn cầu đã giảm từ 65,3% vào năm 2016 xuống còn 59,3% vào quý 3 năm 2024, mức giảm bền vững nhất kể từ khi bắt đầu thu thập dữ liệu vào năm 1995. Điều đó nghe có vẻ khiêm tốn, nhưng trong thế giới chậm chạp của các loại tiền tệ dự trữ, đây là một cuộc chạy nước rút. Để dễ hình dung, sự suy giảm vị thế thống trị của đồng bảng Anh mất khoảng bốn mươi năm, từ năm 1913 đến những năm 1950. Cơ sở hạ tầng tài chính hiện đại; hệ thống thanh toán kỹ thuật số, các thỏa thuận hoán đổi song phương và tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương; có thể rút ngắn đáng kể khung thời gian này.

Trong khi đó, Hệ thống Thanh toán Liên ngân hàng Xuyên biên giới của Trung Quốc (Cross-border Interbank Payment System - CIPS) đã xử lý trung bình 9,6 nghìn tỷ nhân dân tệ mỗi ngày vào năm 2024, đại diện cho mức tăng trưởng 65% so với năm trước. Hệ thống này hiện kết nối hơn 1.700 tổ chức tài chính trên 180 quốc gia. Đây không phải là cơ sở hạ tầng ngoại vi; đó là một hệ thống thần kinh tài chính song song đang được xây dựng trong thời gian thực và nó đang ngày càng có nhiều khả năng hơn qua từng quý.

* Venezuela bước vào: Mối đe dọa hiện hữu của đồng đô la dầu mỏ

Điều này dẫn chúng ta đến với Venezuela. Thoạt nhìn, sự quan tâm của Mỹ đối với quốc gia Nam Mỹ này có vẻ xuất phát từ những lo ngại về chủ nghĩa độc tài hoặc khủng hoảng nhân đạo. Nhưng nếu đào sâu hơn, bạn sẽ thấy một điều cơ bản hơn: Venezuela đại diện cho mối đe dọa hiện hữu đối với hệ thống petrodollar, và rộng hơn, đối với chính quyền lực toàn cầu của Mỹ.

Venezuela sở hữu trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh lớn nhất thế giới; 303 tỷ thùng, thậm chí vượt qua cả 298 tỷ thùng của Ả Rập Xê Út. Và kể từ năm 2018, Venezuela đã bán 100% lượng dầu xuất khẩu của mình cho Trung Quốc, với các giao dịch được thanh toán bằng nhân dân tệ, chứ không phải đô la. Hơn nữa, Venezuela đã trở thành một quốc gia đối tác chính thức của BRICS+ vào năm 2024, được tiếp cận với các hệ thống thanh toán thay thế, tài trợ phát triển và bảo hộ ngoại giao của khối.

Điều khiến tình hình này đặc biệt nguy hiểm từ góc nhìn của Washington là: Venezuela không chỉ tồn tại mà còn hoạt động hiệu quả bên ngoài hệ thống đô la. Bất chấp những gì Bộ Tài chính Hoa Kỳ mô tả là "các lệnh trừng phạt chưa từng có", Venezuela vẫn duy trì sản lượng dầu mỏ, đảm bảo nguồn tài chính và các mối quan hệ thương mại bền vững. Nước này đã trở thành một minh chứng sống động cho thấy hệ thống đô la là tùy chọn, chứ không phải bắt buộc.

Mô hình lịch sử là không thể nhầm lẫn. Năm 2000, Iraq tuyên bố sẽ chỉ chấp nhận euro cho dầu mỏ của mình; Saddam Hussein bị lật đổ ba năm sau đó. Muammar Gaddafi của Libya đề xuất một loại tiền tệ toàn châu Phi được bảo đảm bằng vàng để thay thế đô la trong các giao dịch dầu mỏ; NATO đã can thiệp vào năm 2011. Iran đã bán dầu bằng các loại tiền tệ khác ngoài đô la kể từ năm 2012 và phải đối mặt với áp lực trừng phạt liên tục và các mối đe dọa hành động quân sự lặp đi lặp lại. Thông điệp không thể rõ ràng hơn: từ bỏ petrodollar, hãy đối mặt với hậu quả.

Venezuela chỉ đơn giản là chương mới nhất trong mô hình này, với một điểm khác biệt quan trọng: nước này có sự hậu thuẫn kinh tế của Trung Quốc và sự hỗ trợ thể chế từ BRICS. Thời điểm Mỹ huy động quân sự, chỉ một tháng sau khi trái phiếu Hồng Kông của Trung Quốc chứng minh tính khả thi của các lựa chọn thay thế bằng đô la, không phải là ngẫu nhiên. Đó là phản ứng của hệ thống miễn dịch của đế chế trước một mầm bệnh mà nó nhận ra là nguy hiểm.

* Hiệu ứng domino: Tại sao một quốc gia lại quan trọng

Nỗi lo ngại ở Washington không chỉ giới hạn ở Venezuela. Đó là về tiền lệ và hiệu ứng domino có thể xảy ra sau đó. Brazil, nền kinh tế lớn nhất Nam Mỹ, đã là thành viên đầy đủ của BRICS và thực hiện 25-30% giao dịch với Trung Quốc bằng nội tệ. Argentina, bất chấp những thay đổi chính trị gần đây, vẫn tiếp tục trả nợ IMF bằng Nhân dân tệ và duy trì các thỏa thuận hoán đổi tiền tệ đáng kể với Bắc Kinh. Theo một khảo sát của Ngân hàng Trung Quốc năm 2025, 77% doanh nghiệp ASEAN hiện nay thích sử dụng tài chính bằng Nhân dân tệ để giao dịch với Trung Quốc.

Nếu Venezuela thành công với tư cách là đối tác BRICS trong phạm vi ảnh hưởng truyền thống của Mỹ; ngay trên sân nhà của mình theo Học thuyết Monroe; thì những rào cản về tâm lý và thực tiễn ngăn cản các quốc gia khác đưa ra lựa chọn tương tự sẽ sụp đổ. Colombia, Ecuador, Bolivia và các quốc gia Mỹ Latinh giàu tài nguyên khác sẽ có một mô hình để đạt được độc lập kinh tế khỏi Washington. Tây bán cầu, từ lâu được coi là lãnh địa không thể tranh cãi của Mỹ, có thể chuyển hướng sang cấu trúc kinh tế BRICS.

Về mặt địa chính trị, điều này sẽ là thảm họa đối với ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Về mặt kinh tế, nó sẽ đẩy nhanh sự sụp đổ của hệ thống petrodollar đã tài trợ cho quyền lực của Mỹ trong năm thập kỷ. Khi cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger dàn xếp thỏa thuận năm 1973 với Ả Rập Xê Út để định giá dầu hoàn toàn bằng đô la, ông hiểu rằng ông đang xây dựng nền tảng cho bá quyền của Mỹ vượt ra ngoài sức mạnh quân sự. Nền tảng đó hiện đang rạn nứt, và Venezuela nằm trên một trong những đường đứt gãy quan trọng nhất.

* Khoảnh khắc đa cực

Chúng ta đang chứng kiến ​​điều mà các nhà sử học có thể sẽ đánh dấu là một bước ngoặt: sự chuyển đổi từ một thế giới đơn cực, thống trị bởi đồng đô la sang một hệ thống đa cực, đa tiền tệ. Liên minh BRICS+ hiện đại diện cho 45% dân số toàn cầu, 35% GDP toàn cầu (được đo bằng sức mua tương đương) và 30% sản lượng dầu mỏ toàn cầu. Đây không phải là những người chơi nhỏ; họ đang xây dựng các thể chế song song cạnh tranh với các thể chế do phương Tây thống trị.

Ngân hàng Phát triển Mới, có trụ sở tại Thượng Hải, đã phát hành hơn 32 tỷ đô la Mỹ các khoản vay, với tỷ lệ ngày càng tăng được định giá bằng đồng nội tệ thay vì đô la Mỹ. Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á đã công bố kế hoạch mở văn phòng tại Hồng Kông vào năm 2026, củng cố hơn nữa vai trò của thành phố này như một trung tâm Nhân dân tệ ngoài khơi. Những tổ chức này cung cấp cho các quốc gia đang phát triển những gì mà IMF và Ngân hàng Thế giới từ lâu đã cung cấp; nhưng không có điều kiện chính trị và với các lựa chọn tiền tệ giúp giảm sự phụ thuộc vào đô la Mỹ.

Có lẽ điều đáng chú ý nhất là hành vi của các ngân hàng trung ương. Các ngân hàng trung ương của các thị trường mới nổi đã tích lũy vàng với tốc độ chưa từng thấy kể từ những năm 1960, với lượng mua đạt 634 tấn chỉ trong chín tháng đầu năm 2025. Khi các ngân hàng trung ương đa dạng hóa khỏi dự trữ đô la sang vàng với tốc độ này, về cơ bản họ đang bỏ phiếu bằng kho bạc của mình. Họ đang chuẩn bị cho một thế giới mà đô la là một trong số nhiều lựa chọn, chứ không phải là lựa chọn duy nhất quan trọng.

* Sự lựa chọn phía trước

Việc phát hành trái phiếu của Trung Quốc và sự leo thang căng thẳng ở Venezuela là hai mặt của cùng một đồng xu; theo đúng nghĩa đen. Một mặt cho thấy các giải pháp kinh tế thay thế cho sự thống trị của đồng đô la là khả thi và hấp dẫn. Mặt khác, nó kiểm tra xem liệu Hoa Kỳ có còn có thể duy trì sự thống trị của đồng đô la thông qua đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự hay không.

Kết quả sẽ giúp trả lời câu hỏi địa chính trị quan trọng nhất của thời đại chúng ta: Liệu Hoa Kỳ có thể chấp nhận một thế giới đa cực với các loại tiền tệ khác nhau, nơi nước này vẫn mạnh mẽ nhưng không còn thống trị? Hay họ sẽ đấu tranh; về kinh tế, chính trị và có thể cả quân sự; để bảo vệ hệ thống đơn cực đã phục vụ họ tốt đẹp kể từ năm 1945?

Lịch sử cho thấy các cường quốc bá chủ hiếm khi từ bỏ quyền lực một cách êm đẹp. Đế quốc Anh đã tham gia hai cuộc chiến tranh thế giới một phần để duy trì vai trò toàn cầu của đồng bảng Anh. Quá trình chuyển đổi cuối cùng là không thể tránh khỏi, nhưng nó không hề suôn sẻ hay hòa bình. Quá trình chuyển đổi ngày nay cũng tiềm ẩn những nguy hiểm riêng, được khuếch đại bởi vũ khí hạt nhân, chuỗi cung ứng toàn cầu liên kết chặt chẽ và tốc độ lây lan của khủng hoảng tài chính trên thị trường kỹ thuật số.

Tuy nhiên, đây cũng là một cơ hội, mặc dù nó đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy, điều mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ có thể gặp khó khăn về mặt tâm lý. Một hệ thống tiền tệ đa cực thực sự có thể tăng cường sự ổn định toàn cầu bằng cách giảm bớt tình trạng "vũ khí hóa" tài chính đã gia tăng trong những năm gần đây. Khi sự loại trừ kinh tế không còn là vấn đề sống còn, khi có những lựa chọn thay thế, các quốc gia sẽ ít có động lực hơn để coi mọi bất đồng là cuộc chiến sinh tồn.

* Theo dấu dòng tiền

Lần tới khi bạn nghe về chính sách đối ngoại của Mỹ ở Venezuela, hãy bỏ qua những lời biện minh về dân chủ và nhân quyền. Đó chỉ là vỏ bọc giả tạo. Thay vào đó, hãy theo dõi dòng tiền. Theo dõi dầu mỏ. Theo dõi loại tiền tệ được sử dụng để định giá dầu mỏ đó. Và theo dõi mạng lưới các quốc gia đang nổi lên để xây dựng một hệ thống thay thế cho hệ thống mà Mỹ đã thống trị trong suốt 75 năm qua.

Việc Trung Quốc phát hành trái phiếu trị giá 4 tỷ đô la, được đăng ký mua vượt mức gấp ba mươi lần, đã thông báo với thế giới rằng cánh cửa thoát khỏi hệ thống đô la không chỉ được mở khóa mà còn rộng mở và viễn cảnh bên ngoài ngày càng trở nên hấp dẫn. Venezuela đã bước qua cánh cửa đó. Câu hỏi đặt ra bây giờ là liệu Hoa Kỳ có cố gắng kéo nước này trở lại bằng vũ lực hay không, và sự lựa chọn đó sẽ phải trả giá như thế nào trong một trật tự thế giới vốn đã đang bị chia rẽ.

Đế chế này không kết thúc bằng một tiếng nổ lớn. Nó kết thúc bằng một bản cáo bạch trái phiếu và tỷ lệ đăng ký vượt mức cho chúng ta biết tất cả những gì cần biết về hướng gió đang thổi. Hãy chú ý. Đây là lịch sử đang diễn ra trong thời gian thực, và Venezuela chỉ là bước đi mở màn trong một ván cờ lớn hơn nhiều.

https://kasperbenjamin.substack.com/p/the-real-reason-why-the-us-overthrew

NVV dịch
 

 2026-01-05  

Mười lý do để hoan nghênh việc bắt giữ Maduro

(Richard Porter, RCP, 5/1/2026)

Việc bắt giữ Nicolás Maduro của Venezuela vào cuối tuần đánh dấu một khoảnh khắc hiếm hoi khi sức mạnh của Mỹ được sử dụng một cách quyết đoán, chiến lược và không chút do dự để bảo vệ lợi ích của Mỹ và tự do con người – và có ít nhất 10 lý do để hoan nghênh điều đó.

1) Tổng thống Trump đã làm được điều mà các chính quyền trước đây – bao gồm cả chính quyền Trump nhiệm kỳ 45 – chỉ nói suông: Cuộc đột kích mở ra cánh cửa cho việc khôi phục trật tự hiến pháp, dân chủ, tự do và thịnh vượng cho người dân Venezuela bị đàn áp bởi chế độ độc ác, tham nhũng, thiếu năng lực kỹ thuật, xã hội chủ nghĩa (nhưng tôi đang nói thừa) do Hugo Chavez khởi xướng trong một cuộc đảo chính và được Maduro tiếp tục. Với sự tiếp tục và hỗ trợ của Mỹ, cộng đồng người Venezuela lưu vong có thể trở về quê hương và xây dựng lại đất nước trở lại như trước đây: quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực. Hơn nữa, nó có thể sẽ trở thành một đồng minh mạnh mẽ của Hoa Kỳ và các quốc gia khác cam kết tự do và chủ nghĩa tư bản ở bán cầu của chúng ta.

2) "Cuộc chiến chống ma túy" chỉ là một phép ẩn dụ trong 45 năm qua. Giờ thì không còn nữa. Chiến dịch này nhắm vào tận gốc rễ; kiểm soát biên giới thắt chặt việc ngăn chặn; và các hoạt động của ICE tại các trung tâm đô thị đã làm gián đoạn việc phân phối ma túy. Nó sẽ không chấm dứt ma túy bất hợp pháp trên đường phố của chúng ta – nhưng đó là một động thái mạnh mẽ chống lại một tai họa đã cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người Mỹ.

3) Liên minh khu vực của phe cánh tả với các băng đảng ma túy đang cho thấy là một canh bạc tồi tệ. Tổng thống Mexico và Colombia có lẽ đang họp bàn khi bạn đọc những dòng này để thảo luận về những rủi ro của các thỏa thuận hiện tại của họ và có lẽ đang điều chỉnh lại chiến lược của họ theo hướng có lợi hơn cho Mỹ trong cuộc chiến chống lại các băng đảng ma túy.

4) Làn sóng có thể cũng đã chuyển hướng rộng hơn chống lại phe cánh tả ở Mỹ Latinh, và thậm chí cả ở trong nước. Không một người nào có lý trí lại có thể phủ nhận sự thất bại của chủ nghĩa xã hội ma túy kiểu Venezuela. Cùng với thành công liên tục của Tổng thống Milei ở Argentina, sự thịnh vượng và trật tự dân chủ hiến pháp được khôi phục ở Venezuela sẽ giúp ích cho các đảng thị trường tự do khác trong khu vực. Tự do lan tỏa khi chế độ chuyên chế sụp đổ và sự thịnh vượng lan rộng. 

5) Cuộc đột kích củng cố chiến dịch tấn công mạnh mẽ của chính quyền Trump vào chương trình hạt nhân của Iran. Các nguồn tin tình báo từ lâu đã khẳng định rằng Venezuela là một nguồn cung cấp uranium quan trọng cho Iran. Nếu Mỹ "kiểm soát" Venezuela trong một giai đoạn chuyển tiếp, các lợi ích của Iran sẽ bị loại bỏ và các đặc quyền đặc biệt sẽ bị thu hồi.

6) Việc lật đổ Maduro cũng làm giảm nguy cơ các cuộc tấn công khủng bố vào lãnh thổ nước Mỹ. Ngoài sự thâm nhập của Iran, Venezuela cũng đã trở thành trung tâm hoạt động của Hezbollah ở Tây bán cầu – bao gồm rửa tiền và buôn bán ma túy – và là một căn cứ bị nghi ngờ cho các hoạt động khủng bố.

7) Cuộc đột kích mở rộng các động thái mạnh mẽ của chính quyền Trump nhằm hạn chế sự can thiệp của Trung Quốc vào bán cầu của chúng ta, bắt đầu từ đầu năm ngoái khi Mỹ thuyết phục Panama loại bỏ Trung Quốc khỏi một cảng và các hoạt động liên quan đến kênh đào. Venezuela đã trở thành nhà cung cấp dầu lớn cho Trung Quốc. Trump đang thiết lập lại Học thuyết Monroe – mà ông gọi đùa là "Học thuyết Donroe" – và đang cắt đứt một chuỗi cung ứng năng lượng quan trọng cho đối thủ toàn cầu chính của chúng ta.

8) Cuộc đột kích có khả năng loại bỏ một đồng minh của Nga – và một trụ cột quan trọng cho chế độ Cộng sản ở Cuba. Nếu không có dầu giá rẻ từ Venezuela, Cuba sẽ phải chuyển sang các lựa chọn thay thế đắt đỏ hơn, làm suy yếu nền kinh tế ở đó và có khả năng gây ra bất ổn. Nếu Mỹ tiếp tục và "kiểm soát" Venezuela, những người cộng sản Cuba sẽ mất đi một nguồn sống quan trọng.

9) Cuộc đột kích táo bạo này khiến người Mỹ tự hào về sức mạnh quân sự của chúng ta. Nó hiệu quả khởi đầu một năm kỷ niệm đầy tự hào về 250 năm ngày ký Tuyên ngôn Độc lập. Đảng Cộng hòa sẽ cố gắng tận dụng niềm tự hào về năng lực, sức mạnh và lịch sử của chúng ta để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11.

Mặt khác, những người thuộc đảng Dân chủ đã dành cả cuối tuần để than vãn về cuộc đột kích (sau khi chế giễu Trump trong nhiều năm vì để Maduro nắm quyền) trông thật ngớ ngẩn và mang tính đảng phái một cách đáng lo ngại. Hơn nữa, Đảng Dân chủ hiện nay gắn liền hơn với chủ nghĩa xã hội và những thất bại của nó, sự tham nhũng và bất tài của nhà nước phúc lợi ở Minnesota và những nơi khác. Đó không phải là một hình ảnh tốt đẹp.

10) Cho dù người ta yêu hay ghét Donald Trump, chiến dịch táo bạo này cho thấy vai trò lãnh đạo trong nhánh hành pháp trông như thế nào. Trump 47 là một chính trị gia hiếm hoi làm những gì ông ấy nói sẽ làm (chuyển đại sứ quán Mỹ đến Jerusalem, ném bom cơ sở hạt nhân chính của Iran, đóng cửa biên giới, chống lại chính sách đa dạng, công bằng và hòa nhập (DEI)). Ở tuổi 78, ông là một người luôn hoạt động không ngừng nghỉ, giải quyết một vấn đề mới dường như mỗi tuần, và thống trị chính trường trong nước và quốc tế bằng cách không ngừng tận dụng sức mạnh của Mỹ để thúc đẩy lợi ích của nước Mỹ.

Bạn có thể không thích ông ấy hoặc phong cách của ông ấy – hoặc thậm chí không đồng ý với các chính sách của ông ấy – nhưng ông ấy đang chiến đấu chống lại cuộc chiến ma túy; đối đầu với Trung Quốc, khôi phục sức mạnh quân sự của chúng ta; giải quyết nguyên nhân gốc rễ của cuộc khủng hoảng di cư; giảm tội phạm; nỗ lực vì hòa bình trong khi vẫn mạnh dạn triển khai quân đội; kiểm soát biên giới của chúng ta – và hãy thừa nhận đi – ông ấy đang làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại.

https://www.realclearpolitics.com/articles/2026/01/05/ten_reasons_to_cheer_the_arrest_of_maduro_153677.html

Richard Porter là thành viên Hội đồng quản trị của Viện Alfa, một nền tảng dành cho các ý tưởng, đề xuất chính sách và tích hợp công nghệ mới liên quan đến trí tuệ nhân tạo.

NVV dịch

 

 2026-01-05  

Giá cổ phiếu năng lượng của Mỹ tăng vọt sau khi Maduro bị bắt giữ.

(James Burton, Investgement News, 5/1/2026)

Chiến dịch quân sự của Mỹ lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro đã gây chấn động thị trường toàn cầu vào đầu năm – và tạo động lực tăng trưởng đột ngột cho cổ phiếu năng lượng của Mỹ. Tuy nhiên, khi các chuyên gia tư vấn tài chính phân tích phản ứng ban đầu, sự can thiệp này dường như không chỉ là một khoản lợi nhuận bất ngờ mà còn là sự khởi đầu của một quá trình định giá lại rủi ro năng lượng phức tạp, kéo dài nhiều năm.

Trong những phiên giao dịch đầu tiên sau cuộc đột kích, các nhà đầu tư đã đẩy giá cổ phiếu của các công ty dầu khí lớn của Mỹ và các công ty liên quan lên cao với kỳ vọng rằng việc Washington kiểm soát Caracas cuối cùng sẽ giúp nới lỏng nguồn cung đối với trữ lượng dầu thô đã được chứng minh lớn nhất thế giới. Tổng thống Donald Trump cho biết các công ty dầu khí của Mỹ sẽ "đầu tư" "hàng tỷ đô la" để sửa chữa cơ sở hạ tầng dầu khí "bị hư hại nghiêm trọng" của Venezuela, nhấn mạnh rằng năng lượng là trọng tâm trong chiến lược hậu Maduro, theo một báo cáo của CNBC.

Đối với cổ phiếu năng lượng của Mỹ, sự kết hợp giữa cơ hội và sự không chắc chắn đó chính xác là những gì thị trường đang cố gắng định giá.

* Ngành năng lượng dẫn đầu xu hướng ưa thích rủi ro ban đầu.

Phản ứng tức thời là tâm lý ưa thích rủi ro đối với các cổ phiếu dầu khí của Mỹ. Trước đó cùng ngày, tờ Guardian đưa tin rằng cổ phiếu các công ty năng lượng Mỹ "dự kiến ​​sẽ tăng mạnh" khi thị trường chứng khoán Phố Wall mở cửa, với Chevron - được nhiều người coi là một trong những tập đoàn lớn của phương Tây có vị thế tốt nhất tại Venezuela - tăng khoảng 7% trong giao dịch trước giờ mở cửa.

Khoảng 11 giờ sáng giờ ET, cổ phiếu các công ty dịch vụ dầu khí như Baker Hughes và các công ty lọc dầu như Valero đã tăng giá, cũng như Chevron. Tuy nhiên, theo Wall Street Journal, giá dầu biến động mạnh. Giá dầu Brent kỳ hạn giảm trước khi phục hồi.

Thị trường chung cũng tăng điểm. Các chỉ báo tương lai và giao dịch trong ngày cho thấy chỉ số Dow Jones Industrial Average sẽ tăng mạnh, với một báo cáo ghi nhận mức tăng 500 điểm, lập kỷ lục mới trong ngày, khi các nhà đầu tư chuyển hướng sang các ngành kinh tế chu kỳ và tài chính cùng với năng lượng.

Lý lẽ rất đơn giản: Nếu sản lượng dầu của Venezuela có thể được phục hồi dưới sự quản lý của Mỹ, nguồn cung toàn cầu có thể tăng lên theo thời gian, có khả năng làm giảm chi phí đầu vào cho toàn bộ nền kinh tế ngay cả khi các công ty Mỹ thu được phần lợi nhuận lớn hơn từ hoạt động khai thác. Venezuela, một thành viên sáng lập của OPEC, sở hữu khoảng 303 tỷ thùng dầu dự trữ đã được chứng minh – chiếm khoảng 17% tổng trữ lượng toàn cầu, theo dữ liệu của chính phủ Mỹ được các nhà phân tích trong ngành trích dẫn.

Hiện tại, thị trường đang tập trung giao dịch dựa trên tiềm năng dài hạn hơn là các chi tiết ngắn hạn. Dory Wiley, chủ tịch kiêm CEO của Commerce Street Holdings, giải thích quan điểm của mình: "Về lâu dài, đây là tín hiệu tích cực. Trong ngắn hạn, nó thiên về tâm lý hơn, bởi vì mặc dù Venezuela có trữ lượng dầu khí khổng lồ, nhưng chỉ có Chevron thực sự được hưởng lợi và điều đó sẽ cần thời gian vì cơ sở hạ tầng còn yếu và lạc hậu, và các công ty dầu khí sẽ không chi tiêu một cách liều lĩnh vào một quốc gia có lịch sử bất ổn như vậy khi họ có thể đầu tư vào khu vực Permian với chi phí thấp hơn."

Sean Beznicki, giám đốc đầu tư tại VLP Financial Advisors, chia sẻ với InvestmentNews: "Giá dầu có thể duy trì ở mức thấp trong ngắn hạn, và sẽ có áp lực giảm dần theo thời gian nếu sản lượng của Venezuela và nguồn cung nói chung tăng lên đáng kể. Trong khi đó, cổ phiếu ngành năng lượng có thể chứng kiến ​​sự gia tăng mạnh mẽ sự quan tâm của nhà đầu tư, đặc biệt là các công ty dịch vụ mỏ dầu và tái thiết cơ sở hạ tầng, những công ty được định vị để hưởng lợi từ việc gia tăng chi tiêu vốn và hoạt động phát triển."

* Washington phát tín hiệu về một cuộc chơi năng lượng quy mô lớn.

Sự can thiệp của Mỹ đáng chú ý không chỉ vì quy mô của nó – được mô tả là động thái trực tiếp nhất của Washington tại Mỹ Latinh trong nhiều thập kỷ – mà còn vì cách nó gắn kết rõ ràng việc thay đổi chế độ ở Venezuela với chiến lược năng lượng.

Sau khi Maduro bị bắt và trục xuất khỏi đất nước, Tổng thống Trump tuyên bố Hoa Kỳ sẽ tạm thời "điều hành" Venezuela và khai thác trữ lượng dầu mỏ của nước này để bán cho các quốc gia khác. Trong một cuộc họp báo riêng, ông nhấn mạnh rằng "các công ty dầu mỏ lớn của Hoa Kỳ" sẽ đóng vai trò trung tâm trong việc tái thiết ngành công nghiệp này.

Những tuyên bố đó có tác động mạnh mẽ đến thị trường chứng khoán. Chúng cho thấy:

    - Các tập đoàn dầu khí lớn của Mỹ và các công ty độc lập lớn có thể được ưu tiên tiếp cận các tài sản khai thác thượng nguồn và các thỏa thuận chia sẻ sản lượng.
    - Các công ty dịch vụ – từ các nhà thầu khoan đến các công ty kỹ thuật – có thể giành được các hợp đồng dự án dài hạn gắn liền với việc phục hồi mỏ dầu khí.
    - Các nhà điều hành vận chuyển và trung nguồn có thể hưởng lợi từ sự tăng trưởng trong dòng chảy dầu thô vùng biển Caribbean trong tương lai.

Đồng thời, những bình luận này đặt ra câu hỏi về rủi ro chính trị, thách thức pháp lý và tính bền vững của bất kỳ thỏa thuận nào do Mỹ dẫn đầu, tất cả đều cần được các cố vấn tài chính cân nhắc khi định hướng giao dịch cho khách hàng.

* Giá dầu: rủi ro tăng giá hiện tại, vấn đề nguồn cung sẽ được giải quyết sau.


Đối với các nhà đầu tư năng lượng, diễn biến giá dầu thô quan trọng không kém gì khả năng tiếp cận các mỏ dự trữ. Các nhà phân tích lưu ý rằng tác động của việc bắt giữ Maduro đối với giá dầu toàn cầu sẽ phụ thuộc rất nhiều vào diễn biến chính trị của Venezuela trong những tháng tới.

Trong ngắn hạn, cuộc đột kích đã làm tăng thêm một lớp rủi ro địa chính trị cho một thị trường vốn đã nhạy cảm với những gián đoạn. Các nhà bình luận dự đoán ít nhất sẽ có một đợt tăng đột biến ban đầu đối với các chỉ số chuẩn như Brent và West Texas Intermediate khi các nhà giao dịch định giá khả năng bất ổn hoặc gián đoạn nguồn cung.

Theo finance.yahoo.com, triển vọng trung và dài hạn có phần mơ hồ hơn. Nếu Venezuela ổn định dưới một chính quyền chuyển tiếp thống nhất và các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư, thị trường có thể chứng kiến ​​sự phục hồi chậm nhưng đáng kể trong sản lượng, bổ sung thêm dầu thô đúng lúc dự kiến ​​nguồn cung từ các nước ngoài OPEC sẽ giảm. Ngược lại, nếu đất nước này giống như Libya thời hậu Gaddafi – với chính quyền phân tán và những lo ngại về an ninh khiến vốn đầu tư nước ngoài đứng ngoài cuộc – sản lượng của Venezuela có thể vẫn bị hạn chế, duy trì mức phí rủi ro cao hơn cho dầu thô.

Chuck Failla, người sáng lập kiêm CEO của Sovereign Financial Group, cho biết các sự kiện ở Venezuela là lời nhắc nhở rằng rủi ro địa chính trị luôn tiềm ẩn trong thị trường - đặc biệt là thị trường năng lượng. Ông nói thêm: "Những tin tức như thế này có thể hỗ trợ giá dầu và cổ phiếu năng lượng ở mức biên trong ngắn hạn, nhưng kết quả dài hạn vẫn chưa thể biết chắc. Mặc dù chúng tôi theo dõi sát sao các diễn biến, nhưng chúng tôi không dựa vào tin tức hàng ngày để đưa ra quyết định phân bổ vốn. Thay vào đó, nó củng cố tầm quan trọng của việc duy trì kỷ luật và bám sát phương pháp lập kế hoạch cốt lõi của chúng tôi thay vì phản ứng theo những biến động ngắn hạn."


https://www.investmentnews.com/equities/us-energy-stocks-jump-after-capture-of-maduro/263699
 

NVV dịch

 

 2026-01-03  

Những lợi ích cụ thể và bước đi của Trung Quốc và Nga tại Venezuela sau đòn đánh của Mỹ

Trung Quốc và Nga không coi Venezuela đơn thuần là một đối tác ngoại giao, mà là nơi hội tụ các lợi ích kinh tế, tài nguyên và địa chính trị đã được gây dựng trong nhiều năm. Vì vậy, dù lựa chọn cách tiếp cận thận trọng, không can thiệp quân sự trực tiếp, hai nước này vẫn khó có thể đứng ngoài trước những thay đổi mang tính bước ngoặt.

Cả Trung Quốc và Nga đều có những lợi ích cụ thể, hữu hình và dài hạn tại Venezuela, từ dầu mỏ, khoáng sản chiến lược đến vị thế địa - chính trị. Những lợi ích này đủ lớn để buộc hai nước phải hành động nhằm bảo vệ những gì đã đầu tư và xây dựng.

Tuy nhiên, các biện pháp được lựa chọn nhiều khả năng sẽ mang tính mềm dẻo, dựa trên ngoại giao, pháp lý và tính toán chiến lược, thay vì đối đầu trực diện. Venezuela vì thế trở thành một minh họa điển hình cho cách các cường quốc tìm cách bảo vệ lợi ích trong một trật tự quốc tế ngày càng phức tạp và cạnh tranh. 

Trung Quốc: Lợi ích tài nguyên cụ thể gắn với các ngành công nghiệp hiện đại

Đối với Trung Quốc, Venezuela trước hết là một đối tác then chốt trong lĩnh vực năng lượng. Quốc gia Nam Mỹ này sở hữu trữ lượng dầu mỏ được đánh giá là lớn nhất thế giới, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Nhiều năm qua, Trung Quốc đã trở thành chủ nợ lớn nhất của Venezuela thông qua các khoản vay quy mô hàng chục tỷ đô la Mỹ, phần lớn được hoàn trả bằng dầu thô. Mô hình “vay - trả bằng dầu” này không chỉ giúp Venezuela duy trì nguồn tài chính trong giai đoạn khó khăn, mà còn mang lại cho Trung Quốc nguồn cung năng lượng dài hạn, tương đối ổn định.

Song song với đó, các tập đoàn nhà nước Trung Quốc như CNPC, Sinopec... đã hiện diện trong lĩnh vực khai thác, dịch vụ và kỹ thuật dầu khí tại Venezuela, từ thăm dò, nâng cấp mỏ dầu nặng đến hỗ trợ hạ tầng khai thác. Sự tham gia này tạo nên mối liên kết lợi ích dài hạn, vượt ra ngoài quan hệ mua bán ngắn hạn, gắn chặt lợi ích kinh tế của hai bên.

Ngoài dầu thô, Venezuela còn sở hữu nhiều loại khoáng sản có ý nghĩa chiến lược đối với các ngành công nghiệp hiện đại của Trung Quốc. Trong đó có thể kể đến coltan (nguồn cung tantalum và niobium) - vật liệu thiết yếu cho sản xuất linh kiện điện tử, tụ điện, thiết bị viễn thông, hàng không vũ trụ và công nghiệp quốc phòng; bauxite - nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nhôm, phục vụ các ngành công nghiệp chế tạo, giao thông vận tải, hàng không và năng lượng tái tạo; sắt và vàng - kim loại quan trọng đối với công nghiệp luyện kim, dự trữ tài chính và ổn định hệ thống tiền tệ; các khoáng sản phục vụ chuyển đổi năng lượng, gắn với sản xuất pin, thiết bị điện và hạ tầng năng lượng sạch.

Những nguồn tài nguyên này gắn trực tiếp với các ngành công nghiệp mũi nhọn của Trung Quốc, từ công nghệ cao, quốc phòng, đến sản xuất pin và năng lượng tái tạo. Vì vậy, lợi ích của Trung Quốc tại Venezuela không chỉ mang tính thương mại trước mắt, mà còn liên quan tới an ninh công nghiệp và năng lực cạnh tranh dài hạn. 

Ở tầm chiến lược, Venezuela còn giúp Trung Quốc mở rộng hiện diện tại Mỹ Latinh - khu vực ngày càng được Bắc Kinh coi trọng trong chiến lược Phương Nam toàn cầu. Quan hệ với Venezuela cho phép Trung Quốc khẳng định rằng hợp tác Nam - Nam và nguyên tắc tôn trọng chủ quyền vẫn có chỗ đứng, ngay cả tại những khu vực truyền thống chịu ảnh hưởng mạnh của Mỹ.

Trước các diễn biến hiện nay, Trung Quốc sẽ không đối đầu quân sự trực tiếp với Mỹ tại Tây bán cầu vì điều này vượt “lằn ranh đỏ” chiến lược. Nhiều khả năng, Bắc Kinh sẽ ưu tiên bảo vệ lợi ích bằng các công cụ phi quân sự như thúc đẩy ngoại giao đa phương, nhấn mạnh lập trường tôn trọng luật pháp quốc tế, đồng thời tìm cách bảo lưu các khoản nợ, hợp đồng dầu khí và quyền lợi pháp lý đã được thiết lập, kể cả trong các kịch bản chính trị mới tại Caracas. 

Nga: Lợi ích địa - chính trị đi cùng các lợi ích kinh tế mang tính biểu tượng

So với Trung Quốc, lợi ích của Nga tại Venezuela đậm đà màu sắc địa - chính trị hơn. Trong bối cảnh quan hệ với Mỹ và phương Tây căng thẳng kéo dài, Venezuela được Nga xem là một trong số ít điểm tựa chiến lược tại Tây bán cầu, giúp Nga khẳng định vai trò của mình ngay tại khu vực mà Mỹ coi là “sân sau”.

Thông qua hợp tác chính trị, quân sự - kỹ thuật và an ninh, Nga đã duy trì được sự hiện diện mang tính biểu tượng, qua đó gửi đi thông điệp rằng trật tự quyền lực tại khu vực này không còn mang tính đơn cực tuyệt đối.

Bên cạnh đó, Nga cũng có lợi ích cụ thể trong lĩnh vực năng lượng tại Venezuela. Tập đoàn Rosneft từng tham gia vào nhiều dự án dầu khí của nước này, từ khai thác đến hỗ trợ thương mại dầu thô. Dù quy mô đầu tư không lớn như Trung Quốc , các dự án này vẫn mang giá trị chiến lược, giúp Nga duy trì ảnh hưởng trong ngành năng lượng toàn cầu và mở rộng không gian hoạt động ngoài các thị trường truyền thống.

Ngoài ra, Venezuela còn là đối tác mua sắm vũ khí và hợp tác quân sự quan trọng của Nga tại Mỹ Latinh, bao gồm máy bay, hệ thống phòng không và huấn luyện kỹ thuật. Những hợp tác này vừa mang lại lợi ích kinh tế, vừa củng cố quan hệ chính trị song phương.

Trước tình hình mới, Nga khó có khả năng can dự trực tiếp bằng biện pháp quân sự, vì khoảng cách địa lý xa, đang bị phân tán nguồn lực ở các mặt trận khác như Ukraine, đối đầu hải quân - không quân với Mỹ tại Caribe có độ rủi ro cực cao.

Nhiều khả năng Nga sẽ gia tăng hiện diện trên mặt trận ngoại giao và thông tin, lên tiếng bảo vệ nguyên tắc chủ quyền, đồng thời lồng ghép vấn đề Venezuela vào các trao đổi chiến lược rộng hơn với Mỹ và các đối tác quốc tế. Cách tiếp cận này cho phép Mátxcơva bảo vệ lợi ích cốt lõi và vị thế chính trị, trong khi vẫn tránh những rủi ro leo thang khó kiểm soát. 

Hai xu hướng song song tại Mỹ Latinh

Các quốc gia Mỹ Latinh ngày càng chủ động tính toán, tìm cách tận dụng cơ hội từ nhiều phía, đồng thời hạn chế rủi ro bị cuốn vào đối đầu chiến lược. Trong bức tranh đó, Venezuela không chỉ là điểm nóng riêng lẻ, mà còn là phép thử đối với khả năng tự chủ và cân bằng chiến lược của toàn bộ khu vực Mỹ Latinh trong giai đoạn tới.

Phản ứng của Mỹ Latinh không đồng nhất, mà phản ánh sự đan xen giữa lo ngại, tính toán lợi ích và mong muốn duy trì không gian tự chủ chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn gia tăng.

Đối với nhiều quốc gia Mỹ Latinh, Trung Quốc trong những năm qua đã trở thành đối tác kinh tế không thể thay thế. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại hàng đầu hoặc nằm trong nhóm hàng đầu của các nền kinh tế lớn như Brazil, Chile, Peru, Argentina... Trung Quốc nhập khẩu quy mô lớn các mặt hàng chiến lược của khu vực như dầu mỏ, đồng, lithium, quặng sắt và nông sản, đồng thời đầu tư mạnh vào hạ tầng, năng lượng và viễn thông.

Trong con mắt của nhiều chính phủ Mỹ Latinh, Trung Quốc được nhìn nhận trước hết như một đối tác phát triển mang tính thực dụng, cung cấp nguồn vốn, thị trường và công nghệ, ít gắn với các điều kiện chính trị công khai.

Trong khi đó, dù có hiện diện kinh tế khiêm tốn hơn, Nga lại giữ vai trò đối trọng chính trị và an ninh trong nhận thức của một số nước Mỹ Latinh, đặc biệt là các quốc gia có lập trường phê phán Mỹ. Quan hệ quân sự - kỹ thuật giữa Nga với Venezuela, Cuba hay Nicaragua được xem như một yếu tố giúp các nước này đa dạng hóa quan hệ đối ngoại và giảm phụ thuộc tuyệt đối vào Washington.

Tuy nhiên, sự kiện Venezuela cũng khiến không ít quốc gia Mỹ Latinh gia tăng mức độ thận trọng. Một bộ phận các chính phủ, kể cả những nước có quan hệ kinh tế sâu rộng với Trung Quốc, không mong muốn khu vực trở thành đấu trường đối đầu trực tiếp giữa các cường quốc. Các nền kinh tế lớn như Brazil, Mexico hay Argentina có xu hướng theo đuổi đường lối cân bằng, tránh công khai đứng hẳn về một bên, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc không can thiệp và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

Đáng chú ý, phản ứng của Mỹ Latinh trước vai trò của Trung Quốc và Nga không đơn thuần là “ngả theo” hay “chống lại”, mà ngày càng mang tính thực dụng và chọn lọc. Nhiều quốc gia sẵn sàng hợp tác sâu với Trung Quốc trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, hạ tầng và năng lượng, nhưng lại giữ khoảng cách nhất định với các yếu tố mang tính quân sự hoặc đối đầu địa - chính trị. Với Nga, hợp tác chủ yếu mang tính biểu tượng hoặc tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể, thay vì mở rộng toàn diện.

Trong bối cảnh đó, diễn biến tại Venezuela có thể tạo ra hai xu hướng song song trong khu vực. Một mặt, một số quốc gia có thể tăng cường quan hệ với Mỹ nhằm tránh rủi ro an ninh và bất ổn. Mặt khác, nhiều nước khác lại coi việc đa dạng hóa quan hệ với Trung Quốc và Nga là cách thức bảo hiểm chiến lược, giúp họ có thêm lựa chọn trong một trật tự quốc tế đang biến động. 

Ít nhất 40 người, bao gồm dân thường và binh lính, đã thiệt mạng trong cuộc tấn công quân sự quy mô lớn của Mỹ vào Venezuela vào sáng sớm 3/1/2026, truyền thông Mỹ đưa tin, dẫn lời một quan chức cấp cao của Venezuela. 

https://tienphong.vn/nhung-loi-ich-cu-the-va-buoc-di-cua-trung-quoc-va-nga-tai-venezuela-sau-don-danh-cua-my-post1810112.tpo

 

 

 

 2026-01-03  

Ông Trump gọi Học thuyết Monroe là 'Học thuyết Donroe' sau cuộc đột kích Venezuela.

(Kathryn Palmer, USA TODAY, 3/1/2026)

Trong cuộc họp báo kéo dài một giờ sau vụ bắt giữ nhà lãnh đạo Venezuela và vợ ông vào sáng sớm, Tổng thống Donald Trump đã biện minh cho chiến dịch này là phù hợp với chương trình nghị sự chính sách đối ngoại hơn 200 năm tuổi, Học thuyết Monroe.

Học thuyết mà tổng thống gọi là "Học thuyết Monroe" từ lâu đã bị xếp vào lịch sử chính sách đối ngoại, và các chính quyền gần đây đều tìm cách tách mình khỏi nó. Nhưng hơn một thập kỷ sau khi Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ, John Kerry, dưới thời cựu Tổng thống Barack Obama, tuyên bố "kỷ nguyên của Học thuyết Monroe đã kết thúc", giờ đây ông Trump lại đang ủng hộ nó.

Trong bài phát biểu ngày 3 tháng 1, tổng thống đã coi học thuyết này là nguyên tắc bất biến trong chính sách đối ngoại của Mỹ, và nói rằng chiến dịch lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro không chỉ tuân thủ mà còn tiến xa hơn nữa. Ông Trump cáo buộc nước này "chứa đựng các thế lực thù địch nước ngoài" và "mua sắm vũ khí tấn công", đồng thời buộc tội Venezuela chiếm đoạt và bán các tài sản dầu mỏ của Mỹ.

"Tất cả những hành động này đều vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cốt lõi của chính sách đối ngoại Mỹ, có từ hơn hai thế kỷ trước," Trump nói. "Từ tận học thuyết Monroe. Và học thuyết Monroe rất quan trọng, nhưng chúng ta đã vượt qua nó rất nhiều, thực sự rất nhiều. Giờ đây họ gọi nó là học thuyết Donroe."

Học thuyết Monroe là gì? Hay đó là "Học thuyết Donroe"?

Học thuyết Monroe, được đặt theo tên của người đề xướng là cựu Tổng thống James Monroe năm 1823, là một trong những chương trình nghị sự ngoại giao quan trọng nhất của Mỹ trong thế kỷ 19. Ban đầu, nó là một văn kiện mang tính biểu tượng, tuyên bố sự phản đối của Mỹ đối với sự can thiệp mới hoặc mở rộng của châu Âu vào châu Mỹ, sau nhiều thế kỷ hoạt động thuộc địa trong khu vực. Sau đó, nó trở thành một yếu tố quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực này trong nhiều thập kỷ, mặc dù ngày càng bị giới học giả và các nhà hoạch định chính sách chỉ trích vì được sử dụng để biện minh cho các cuộc can thiệp vào Mỹ Latinh.

Học thuyết này nêu rõ cách chính phủ Mỹ coi Nam và Trung Mỹ là "sân sau" chiến lược, một khu vực nên nằm dưới sự ảnh hưởng của Mỹ chứ không phải của châu Âu.

Tinh thần của học thuyết này tiếp tục phát triển qua các chính quyền sau đó. Năm 1904, Tổng thống Theodore Roosevelt đã bổ sung cái gọi là "Điều khoản bổ sung Roosevelt", trong đó nêu rõ Hoa Kỳ có quyền can thiệp vào châu Mỹ trong một số trường hợp nhất định. Điều khoản này tuyên bố rằng chính phủ Hoa Kỳ có thể "thực thi quyền lực cảnh sát quốc tế" để chấm dứt cái mà Roosevelt gọi là "tình trạng bất ổn hoặc sai trái kinh niên" ở Tây bán cầu.

Theo Văn phòng Sử gia thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, sự kiện này được dùng làm lý do biện minh cho sự can thiệp của Mỹ vào Cuba, Nicaragua, Haiti và Cộng hòa Dominica. Thủy quân lục chiến Mỹ được đưa vào Santo Domingo năm 1904, Nicaragua năm 1911 và Haiti năm 1915, "với lý do bề ngoài là để ngăn chặn người châu Âu", theo Cục Lưu trữ Quốc gia .

Năm 1934, Tổng thống Franklin D. Roosevelt từ bỏ chủ nghĩa can thiệp và thiết lập chính sách "Láng giềng tốt" của mình trong khu vực Tây bán cầu, được xem là dấu chấm hết cho thời kỳ đỉnh cao của chính sách đối ngoại theo Học thuyết Monroe.

Mặc dù sự can thiệp của Mỹ vào Trung và Nam Mỹ đã diễn ra từ rất lâu trước Học thuyết Monroe, nhưng cách diễn giải văn kiện này đã làm nền tảng cho một số dự án và hành động quan trọng của Mỹ trong khu vực, từ việc xây dựng kênh đào Panama đến những năm Chiến tranh Lạnh. Nó cũng gây căng thẳng đáng kể trong quan hệ với nhiều quốc gia Mỹ Latinh trong nhiều thập kỷ, và vẫn là một văn kiện quan trọng để hiểu cả chính sách đối ngoại của Mỹ trong quá khứ và hiện tại tại khu vực này.

* Ông Trump ủng hộ Học thuyết Monroe trong nhiệm kỳ thứ hai của mình.


Những phát biểu ngày 3 tháng 1 không phải là lần đầu tiên ông Trump bày tỏ mong muốn quay trở lại lập trường chính sách đối ngoại lấy cảm hứng từ học thuyết lâu đời này. Vào tháng 11, chính quyền đã công bố chiến lược an ninh quốc gia được đổi mới, trong đó nêu rõ lập trường đối với Tây bán cầu được mô phỏng theo Học thuyết Monroe, mà họ sẽ "tái khẳng định và củng cố" để "khôi phục vị thế bá chủ của Mỹ".

Ông gọi đó là "Hệ quả Trump" (Trump Corollary)

"Chúng ta dường như đã quên mất nó," Trump nói về Học thuyết Monroe. "Nó rất quan trọng, nhưng chúng ta đã quên mất nó. Giờ thì chúng ta không quên nữa. Theo chiến lược an ninh quốc gia mới của chúng ta, vị thế thống trị của Mỹ ở Tây bán cầu sẽ không bao giờ bị nghi ngờ nữa."

https://www.usatoday.com/story/news/politics/2026/01/03/trump-on-monroe-doctrine-the-donroe-doctrine-after-venezuela-raid/88008767007/?tbref=hp

NVV dịch
 

 2026-01-04  

JONATHAN TURLEY: Chiến dịch của Maduro là hợp pháp, nhưng Trump lại làm cho nó trở nên phức tạp.
Tổng thống tuyên bố các mục tiêu xây dựng quốc gia sau khi chính quyền cho rằng chiến dịch này chỉ đơn thuần là hành động thực thi pháp luật.


(Fox News, 4/1/2026)

Có thể nói một cách khá chính xác rằng những công việc bấp bênh nhất trên thế giới là công việc thu gom bóng golf tại sân tập, linh vật tại Chuck E. Cheese và luật sư của chính quyền Trump.

Điều đó đã được thể hiện rõ tại cuộc họp báo ngày hôm qua khi Tổng thống Donald Trump đã bác bỏ hoàn toàn câu chuyện được xây dựng cẩn thận trước đó về vụ bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và vợ ông, Cilia Flores. Một số người trong chúng tôi đã viết  rằng Trump có một lập luận pháp lý thuyết phục bằng cách tập trung vào chiến dịch này như là vụ bắt giữ hai cá nhân bị truy tố dựa trên các phán quyết tư pháp trước đây, bao gồm cả các quyết định trong vụ án cựu độc tài Panama Manuel Noriega.
Trump và Maduro

Ngoại trưởng Marco Rubio và Tướng Không quân Dan Caine, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, đã bám sát kịch bản và củng cố luận điểm này. Cả hai liên tục nhấn mạnh rằng đây là một chiến dịch nhằm đưa hai cá nhân ra trước công lý và lực lượng thực thi pháp luật là một phần của đội bắt giữ để đưa họ vào giam giữ hợp pháp. Rubio, một lần nữa, đặc biệt hiệu quả trong việc nhấn mạnh rằng Maduro không phải là người đứng đầu nhà nước mà là một nhà độc tài tội phạm đã nắm quyền sau khi thất bại trong cuộc bầu cử dân chủ.

Tuy nhiên, trong khi nêu rõ mục đích của việc bắt giữ, Trump tiếp tục tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ tham gia vào công cuộc xây dựng quốc gia để đạt được sự thay đổi chế độ lâu dài. Ông nói rằng họ sẽ điều hành Venezuela để đảm bảo một chính phủ thân thiện và việc hoàn trả tài sản bị tịch thu của Mỹ từ thời chính phủ của người thầy và người tiền nhiệm của Maduro, Hugo Chávez.

Thành phố này đầy rẫy những người tự xưng là "người thấu hiểu Trump", nhưng những dự đoán của họ hiếm khi chính xác hơn mức ngẫu nhiên. Tuy nhiên, có một số yếu tố nổi bật trong cách tiếp cận của Trump đối với những vấn đề này. Thứ nhất, ông là vị tổng thống minh bạch nhất trong suốt cuộc đời tôi, với những cuộc họp báo kéo dài (đôi khi dài đến mức khó chịu) và sự thẳng thắn đến tàn nhẫn về động cơ của mình. Thứ hai, ông không hề che giấu và không thể phủ nhận tính chất giao dịch trong hầu hết các cuộc đàm phán của mình. Ông không ngại ngần tuyên bố những gì ông muốn đất nước nhận được từ thỏa thuận đó.

Tại Venezuela, ông ta muốn một đối tác ổn định và muốn có dầu mỏ .

Chávez và Maduro đã thực hiện những chính sách xã hội chủ nghĩa ngu ngốc, biến một trong những quốc gia thịnh vượng nhất thành một quốc gia kinh tế suy yếu. Họ đưa những tên côn đồ an ninh Cuba vào để giúp duy trì tình trạng đàn áp trong dân chúng, trong khi một phần ba dân số bỏ trốn sang Hoa Kỳ và các nước khác.

Sau chiến dịch phi thường nhằm bắt giữ Maduro, Trump phải đối mặt với các đồng minh theo chủ nghĩa xã hội của Maduro ở mọi cấp độ chính phủ. Ông không muốn cho phép những phần tử phản động đó tái khẳng định vị thế của mình.

Vấn đề là, nếu mục đích là thay đổi chế độ, thì cuộc tấn công này là một hành động chiến tranh, đó là lý do tại sao Rubio phải vật lộn để đưa cuộc họp báo trở lại mục đích thực thi pháp luật. Tôi từ lâu đã chỉ trích sự xói mòn quyền tuyên chiến của Quốc hội, bao gồm cả việc tôi đại diện cho các thành viên Quốc hội phản đối nỗ lực chiến tranh ở Libya của Obama.

Tuy nhiên, sự thật là chúng ta đã thua kiện. Trump biết điều đó. Các tòa án thường xuyên bác bỏ các thách thức đối với các cuộc tấn công quân sự không tuyên bố chống lại các quốc gia khác. Công bằng mà nói với Trump, hầu hết các đảng viên Dân chủ đều im lặng như tờ khi Obama và Hillary Clinton tấn công thủ đô và các địa điểm quân sự của Libya để thay đổi chế độ mà không có sự cho phép của Quốc hội. Họ cũng im lặng khi Obama thủ tiêu một người Mỹ theo chính sách "danh sách tiêu diệt" mà không hề có cáo buộc hình sự. Vì vậy, xin đừng bày tỏ sự phẫn nộ với tôi lúc này.

Việc tôi ủng hộ mạnh mẽ sự ủy quyền và tham vấn của Quốc hội là không quan trọng. Câu hỏi mà tôi thường được hỏi với tư cách là một nhà phân tích pháp lý là liệu hoạt động này có được coi là hợp pháp hay không. Câu trả lời  vẫn là có .

Trước đây, các tòa án đã khẳng định quyền của tổng thống trong việc bắt giữ các cá nhân ở nước ngoài, bao gồm cả những người được cho là nguyên thủ quốc gia. Vụ án này thực tế mạnh mẽ hơn nhiều so với vụ án liên quan đến Noriega. Maduro giờ đây sẽ đưa ra những lập luận thất bại tương tự như Noriega đã từng đưa ra. Ông ta nên thua trong những thách thức đó theo tiền lệ hiện hành. Nếu các tòa án áp dụng cùng một tiêu chuẩn cho Trump (điều này thường không chắc chắn), Trump sẽ thắng trong quyền bắt giữ Maduro và đưa ông ta ra xét xử.

Nhưng rồi, còn những lý lẽ khác được đưa ra tại Mar-a-Lago thì sao? Theo tôi, chúng sẽ không quan trọng. Đây là lý do:

Mục đích và kết quả trước mắt của chiến dịch là bắt giữ Maduro và đưa ông ta ra hầu tòa ở New York để đối mặt với cáo trạng. Đó chính là Noriega 2.0. Chính quyền đã bắt giữ ông ta cùng với lực lượng thực thi pháp luật ngay tại thời điểm bắt giữ và giao ông ta cho Bộ Tư pháp để truy tố.

Chính quyền Trump sau đó có thể lập luận rằng họ phải giải quyết hậu quả của chiến dịch đó và sẽ không đơn giản bỏ mặc đất nước không có người lãnh đạo hoặc chính phủ ổn định. Ông Trump nhấn mạnh: "Chúng tôi sẽ điều hành đất nước cho đến khi nào chúng tôi có thể thực hiện một quá trình chuyển giao an toàn, đúng đắn và khôn ngoan."

Tôi vẫn không đồng tình với ý nghĩa của những tuyên bố đó. Người dân Venezuela phải tự quản lý đất nước của họ và vai trò của chúng ta, nếu có, là giúp họ thiết lập một chính phủ dân chủ và ổn định. Ông Trump nói thêm: "Chúng ta không thể mạo hiểm để người khác nắm quyền ở Venezuela mà không quan tâm đến lợi ích của người dân Venezuela."

Chi tiết mới là vấn đề mấu chốt. Người dân Venezuela phải tự quyết định ai mới thực sự quan tâm đến lợi ích của họ, chứ không phải Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, quay trở lại với các yếu tố pháp lý, tôi không thấy làm thế nào một tòa án có thể trả tự do cho Maduro chỉ vì nó không tán thành việc xây dựng quốc gia. Các tổng thống đã thực hiện những chính sách như vậy trong nhiều năm. Hậu quả của chiến dịch khác biệt với mục đích trước mắt của nó. Trump có thể lập luận rằng, nếu không có hành động đối trọng từ Quốc hội, ông có thẩm quyền theo Điều II của Hiến pháp để đặt nền móng cho sự phục hồi về hiến pháp và kinh tế ở Venezuela.

Ông ta sẽ để cho các luật sư của mình lo liệu vụ việc. Đó không phải là vụ việc mà một số người trong chúng ta mong muốn, nhưng đó là vụ việc mà ông ta muốn. Ông ta không phải là người có thể bị điều khiển. Đó là kịch bản của ông ta và ông ta vẫn có khả năng thắng kiện trong việc đưa Maduro và vợ ông ta ra xét xử.

https://www.foxnews.com/opinion/jonathan-turley-maduro-operation-legal-trump-makes-complicated

NVV dịch
 

Tin thêm:

GIỚI LUẬT GIA VÀ CHUYÊN GIA NÊU LỘ TRÌNH CHUYỂN TIẾP ĐIỀU HÀNH VENEZUELA
Sau khi nhà độc tài Venezuela Nicolás Maduro bị bắt giữ và đưa ra khỏi Caracas vào Ngày 3 tháng 1 năm 2026, tương lai của Venezuela trở thành mối quan tâm lớn không chỉ đối với người dân nước này mà còn với toàn thế giới. Trong cuộc họp báo ngay sau chiến dịch, Tổng thống Trump tuyên bố Hoa Kỳ sẽ tạm thời điều hành quốc gia này cho đến khi có thể thực hiện một tiến trình chuyển tiếp an toàn và trật tự.
Ông Isaias Medina, luật gia quốc tế và cựu nhà ngoại giao cao cấp của Venezuela, nhận định rằng một tiến trình chuyển tiếp hòa bình là yếu tố sống còn đối với khoảng chín đến mười triệu người Venezuela đang sống lưu vong. Ông cho biết cộng đồng người Venezuela ở hải ngoại đã chuẩn bị suốt nhiều năm để trở về tái thiết đất nước sau khi chế độ Maduro sụp đổ, coi đây là thời khắc lịch sử không thể bỏ lỡ.
Theo ông Medina, bước đi quan trọng nhất hiện nay là thành lập một chính quyền chuyển tiếp với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ. Chính quyền này phải có khả năng khôi phục pháp quyền, tái lập các định chế quốc gia đã bị phá hủy nghiêm trọng dưới thời Maduro, và chuẩn bị cho các cuộc bầu cử tự do, công bằng. Ông nhấn mạnh rằng bầu cử không chỉ là mong muốn chánh trị mà là nghĩa vụ pháp lý đối với người dân Venezuela, bởi trong nhiều năm qua, lãnh thổ quốc gia đã bị chiếm dụng và các cuộc bầu cử chưa bao giờ thật sự công bằng hay tự do.
Ông Medina cho rằng dưới chế độ Maduro, Venezuela không còn tam quyền phân lập, không còn pháp quyền, thậm chí không còn chủ quyền quốc gia thực sự. Ông mô tả Venezuela như một lãnh thổ bị chiếm đóng, nơi các tổ chức khủng bố và buôn lậu quốc tế như Hamas, Hezbollah, ELN và FARC hoạt động sâu rộng, khai thác tài nguyên quốc gia và làm xói mòn nền tảng xã hội.
Từ góc nhìn an ninh, ông David Daoud, chuyên gia cao cấp của Quỹ Bảo vệ Dân chủ, nhận định rằng giải pháp lý tưởng cho Venezuela là có sự hướng dẫn của Hoa Kỳ nhưng dựa trên hành động quyết đoán của chính người Venezuela. Ông cho rằng Hoa Kỳ có thể đóng vai trò dìu dắt mà không cần hiện diện quân sự thường trực, miễn là Venezuela không còn là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia Hoa Kỳ.
Theo ông Daoud, yếu tố then chốt sau khi Maduro bị lật đổ là mức độ ổn định trong giai đoạn kế tiếp. Nếu Venezuela nhanh chóng tái lập được một nhà nước có khả năng kiểm soát toàn bộ lãnh thổ, thực thi pháp quyền và chống tham nhũng, thì các tổ chức khủng bố như Hezbollah hay Hamas sẽ rất khó tiếp tục hoạt động như trước. Ngược lại, nếu hỗn loạn kéo dài, các nhóm này có thể lợi dụng khoảng trống quyền lực để tái cấu trúc và bám rễ sâu hơn.
Ông Medina cũng cảnh báo về thách thức từ các lực lượng du kích nội địa như colectivos, những nhóm vũ trang được huấn luyện và trang bị vũ khí từ nhiều nguồn khác nhau. Ông cho rằng việc giải giới các nhóm này và đưa họ trở lại đời sống dân sự là điều kiện cần thiết để thống nhất quốc gia, tái thiết kinh tế, giáo dục và thị trường lao động đã bị hủy hoại có hệ thống trong nhiều năm qua.
Dù con đường phía trước còn nhiều bất định, ông Medina bày tỏ niềm hy vọng mạnh mẽ rằng Venezuela đang đứng trước cơ hội lịch sử để tái sinh. Ông khẳng định đây là thời điểm để xây dựng lại đất nước trên đống đổ nát mà chế độ cũ để lại, và người dân Venezuela có đủ nghị lực để trở nên mạnh mẽ hơn trong giai đoạn mới.
Nguồn: Fox News