2026-07-03  

Nữ y tá từ Việt Nam trở về trong im lặng đã góp phần giúp chúng ta đạt được cột mốc 250

(Melinda Hennberger, 3/7/2026)

Một số người Mỹ luôn ăn mừng ngày độc lập của đất nước lại thấy chúng ta đang mất đi nền độc lập và nhiều thứ khác vào đêm trước kỷ niệm 250 năm. Họ không có tâm trạng cho một cuộc diễn hành.

Nhưng có lẽ đây là thời điểm tốt để nhắc nhở chúng ta về một chương trong lịch sử nước Mỹ tương đối gần đây, một chương cũng đã chia rẽ chúng ta, và giờ thì không còn nữa. Tôi sẽ kể cho các bạn câu chuyện đó thông qua một người phụ nữ, bà Anita Malott, 79 tuổi, cựu y tá quân đội Mỹ, người đã tình nguyện phục vụ tại Việt Nam và sau đó, khi trở về Kansas City, Kansas, bà lại bị đối xử tệ bạc không kém gì những người đàn ông mà bà đã giúp cứu sống trong chiến trường. Ít nhất bây giờ chúng ta có thể đồng ý rằng phải mất quá nhiều thời gian mà lẽ ra chúng ta phải nhận ra rằng Anita và những người đàn ông mà bà đã băng bó vết thương xứng đáng được đối xử tốt hơn nhiều và sớm hơn.

Bà 22 tuổi vào năm 1968, một năm sau khi tốt nghiệp trường điều dưỡng và đang làm việc tại một bệnh viện. Bà đang xem một chương trình đặc biệt của Bob Hope thì cảm thấy tiếng gọi thôi thúc. “Tôi nhận ra rằng có rất nhiều thanh niên không muốn ở đó nhưng vẫn đi vì nghĩa vụ, và tôi cảm thấy thương họ,” bà ấy nói với tôi. “Có những người đến Canada, những người được hoãn nghĩa vụ, và rồi có những người chỉ đơn giản là cứ thế mà đi. Vì vậy, tôi và người bạn thân, những người đã tốt nghiệp trường điều dưỡng cùng nhau, chúng tôi quyết định sẽ gia nhập quân đội và đến Việt Nam.”

Để làm những gì có thể cho những người đàn ông đó.

Anita xuất thân từ một gia đình quân nhân – cha bà từng phục vụ trong Không quân Lục quân trong Thế chiến thứ hai, hai trong số năm người anh trai của bà đã từng phục vụ trong quân đội, và người thứ ba đã gia nhập Hải quân Hoa Kỳ. Nhưng tất cả họ đều cho rằng chiến tranh này thật quá đáng: “Cha tôi la hét, nổi cơn thịnh nộ, đi đi lại lại, hoàn toàn bực bội. Ông nói khi đất nước gọi con đi phục vụ, con phải phục vụ, nhưng con không nhất thiết phải làm vậy. Tôi nhớ mình ngồi đó và nghĩ, ‘Dù sao thì mình cũng sẽ đi, mình không quan tâm.’”

Bà chưa bao giờ tự coi mình là người ủng hộ chiến tranh. Thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Và ngoài lòng vị tha, “thành thật mà nói, khao khát được khám phá thế giới” – một sự thôi thúc muốn nhìn thấy mặt khác của thế giới, và thậm chí muốn tận mắt chứng kiến ​​cuộc xung đột – cũng là những yếu tố khiến bà nhập ngũ, bà nói với tôi. Tuy nhiên, cuộc chiến của bà là với tư cách một người lính chiến đấu vì những người lính.

Sau khi đăng ký và huấn luyện tại Fort Sam Houston ở San Antonio, Anita phải phục vụ một năm ở trong nước trước, tại Denver. Trong thời gian đó, người bạn của bà từ Topeka đã gặp một người và quyết định không đến Việt Nam nữa. Vì vậy, “tôi không quen biết một ai” khi lên máy bay đến Sài Gòn.

Trong nhiệm vụ đầu tiên ở Pleiku, thuộc vùng cao nguyên Trung Bộ tươi tốt cách Campuchia 60 dặm, bà làm việc tại phòng ICU của Evacuation Hospital số 71 của Quân đội. Khi bà đến nơi vào năm 1970, khu vực này không còn là điểm nóng như trong Chiến dịch Tết Mậu Thân; chiến tranh du kích phần lớn đã chấm dứt.

Tuy nhiên, bà vẫn làm việc 12 tiếng một ngày, sáu ngày một tuần, điều trị chủ yếu là người Mỹ nhưng cũng có “một vài lính Việt Cộng, hoặc lính Việt Nam. Một ngôi làng bị đánh bom và chúng tôi sẽ thấy đủ loại người.”

Khuôn mặt của một số bệnh nhân vẫn luôn hiện hữu trong tâm trí bà – chàng trai trẻ miền Nam gọi điện thoại ngắn ngủi báo tin cha mình đã mất chân và sắp trở về nhà. Cậu bé người Việt Nam 10 tuổi với mảnh đạn găm trong bụng, người mà cuối cùng bà cũng đã giúp được cười. Và trên hết, một trong hai người lính Mỹ bị bỏng từ 80 đến 90% cơ thể sau khi đốt lửa dọn bụi rậm – để dễ quan sát vị trí địch – nhưng ngọn lửa lại thổi ngược chiều gió.

Ngay cả bây giờ, bà nói, “Tôi vẫn thấy nhói trong bụng khi nghĩ về chuyện đó. Ở Mỹ, chúng tôi có những bể nước để ngâm người bị bỏng vào đó làm sạch vết thương. Và bạn phải giữ cho vết thương luôn sạch sẽ, nếu không họ sẽ chết vì nhiễm trùng huyết.”

Không có bất kỳ thiết bị nào như vậy, “Tôi phải dùng miếng bọt biển, nước vô trùng và xà phòng để rửa vết thương cho anh ấy. Và tôi biết là nó rất đau. Chúng tôi đã cho anh ấy dùng morphine trước đó. Anh ấy chửi rủa tôi thậm tệ, la hét như thể anh ấy ghét tôi. Cuộc đời anh ấy sẽ không bao giờ giống như trước nữa. Những vết sẹo đó sẽ còn mãi trên người anh ấy. Hai tay anh ấy bị trói dang rộng và quấn băng gạc; tôi phải gỡ băng gạc ra – nó dính chặt, đó là cả một quá trình, nó cứ rỉ dịch. Anh ấy đang đau đớn, và anh ấy muốn tôi dừng lại vì anh ấy muốn cơn đau chấm dứt, nhưng tôi không thể vì tôi phải giữ cho vết thương sạch sẽ. Đó là một trong những điều tồi tệ nhất; tôi nghĩ tôi đã ra về và đi uống rượu say.”

Bà ấy không bao giờ biết chuyện gì đã xảy ra với anh ấy, ngoài việc anh ấy đã sống sót và được chuyển đến một bệnh viện khác. Nhưng bà ấy tin chắc rằng anh ấy hiểu rằng bà ấy phải làm những gì mình đã làm, cũng như bà ấy hiểu rằng anh ấy phải trút giận lên bà ấy.

Sau sáu tháng, Anita được chuyển đến Evacuation Hospital của Bộ Binh số 85 ở Phú Bài, nơi bà điều trị thêm nhiều vết thương chiến tranh và cũng chứng kiến ​​những khía cạnh tàn khốc hơn của chiến tranh, khi quân đội Mỹ đang rút lui.

“Tôi nhận ra rằng binh lính đánh nhau, và điều đó khiến tôi sốc,” bà nhớ lại. “Các nguyên tắc đạo đức đã bị phá vỡ. Khi bạn ở đó và không có người giám sát, nếu bạn tức giận với ai đó, một số binh lính trẻ sẽ nổi loạn. Điều đó không phải là thường xuyên, nhưng cũng không phải là hiếm khi một cấp chỉ huy đang ở trong lán của mình và ai đó ném lựu đạn vào đó.”

Khi những người lính này đến bệnh viện để điều trị, “người ta thì thầm rằng anh ta đã ở trong lán của mình và một người Mỹ đã ném lựu đạn vào đó. Vậy là có một cuộc chiến trong chiến tranh. Họ không muốn ở đó. Họ không muốn bị sai bảo. Tôi đã rất sốc khi thấy chuyện như vậy lại xảy ra. Và rồi, tôi chứng kiến ​​rất nhiều thương vong do hỏa lực đồng minh.”

Đồng thời, “Tôi phải nói rằng những người tôi làm việc cùng – các bác sĩ phẫu thuật, y tá và các nhân viên y tế, phụ tá y tế, khoảng 18 hoặc 19 tuổi – họ rất giỏi. Họ kiên cường và chăm sóc mọi người. Và điều nữa là, bạn sẽ gắn bó với họ. Nếu chúng tôi làm ca đêm, chúng tôi sẽ câu lạc bộ ăn sáng, rồi đi uống rượu, ngồi nói chuyện – kể cho nhau nghe câu chuyện đời mình.”

Khi đến lúc phải về nước, sau một năm làm việc, lễ đón tiếp diễn ra ở đó, nơi mọi người sẽ nhớ bà, chứ không phải ở đây, nơi “không ai trong gia đình tôi hỏi, ‘Cảm giác thế nào?’ Không ai hỏi câu hỏi đó. Không một ai.”

Không giống như nhiều người trở về từ Việt Nam, bà nói, bà có một nghề nghiệp để quay lại, và bà đã nhận một bàng việc điều dưỡng tại Trung tâm Y tế Đại học Kansas ở quê nhà. Nhưng “nếu tôi nhắc đến Việt Nam, chủ đề sẽ bị chuyển hướng.”

Họ muốn nói về những chiếc quần jean mới sành điệu của họ, hoặc âm nhạc, bà nói. Và đó là phần dễ chịu hơn. “Cảm giác mà tôi nhận được khi về nhà là tôi như một kẻ phản bội; có rất nhiều sự nghi ngờ.”

Ngay cả bạn bè cũng nói với bà rằng họ không muốn nghe về chuyện đó nữa. “Vì vậy, tôi đã ngừng đặt mình vào tình thế đó. Tôi muốn nói về trải nghiệm. Tôi muốn nói về tình đồng đội, về những người lính, những người đàn ông mà tôi đã gặp, những người nghĩ rằng họ sẽ được trở về nhà, rất hào hứng, rồi điều gì đó đã xảy ra và họ trở nên tồi tệ hơn và qua đời. Tôi muốn kể những câu chuyện đó, về những người đàn ông đã không qua khỏi và những người đàn ông đã sống sót.”

Tại phòng khám đa khoa gia đình thuộc Trung tâm Y tế KU, nơi bà làm việc vào đầu những năm 80, nay đã hơn mười hai năm kể từ khi trở về từ chiến tranh, Anita có mối quan hệ làm việc tốt với bác sĩ phụ trách cho đến khi bà dám nói về việc phục vụ trong chiến tranh Việt Nam.

“Tôi là một y tá giỏi ở phòng khám đó, được mọi người kính trọng, và tôi cảm thấy an toàn khi đề cập đến chuyện đó,” nhưng bác sĩ đã cho bà biết điều ngược lại. “Bà ấy nhìn tôi như thể bà ấy vừa phát hiện ra tôi đã giết người. Bà ấy đã phản đối chiến tranh, và bà ấy thực sự rất buồn.”

Lần đầu tiên bà nhận được sự bàng nhận hay sự quan tâm dù nhỏ nhất khi nghe về kinh nghiệm của mình, bà nói, là khi bà đang theo học bằng cao học ngành điều dưỡng ở Chicago từ năm 1992 đến năm 1994. Nói cách khác, đó là hơn 20 năm sau khi bà trở về từ chiến tranh và tròn một thập kỷ sau lễ khánh thành Đài tưởng niệm Cựu chiến binh Việt Nam vào tháng 11 năm 1982. Thậm chí còn sau cả bộ phim truyền hình "China Beach", một tác phẩm mô tả bệnh viện dã chiến được phát sóng từ năm 1988 đến năm 1991.

Nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại những người Chicago đó nữa sau khi hoàn thành chương trình, Anita đã nhắc đến kinh nghiệm chiến tranh của mình trong một ca trực tại khoa phẫu thuật tim mạch. Nhưng lần này, hai điều hoàn toàn mới đã xảy ra: Nhân viên trực điện thoại nói, "Tôi biết có điều gì đó đặc biệt ở bà," với giọng điệu tán thành. Bà nói, đó thực sự là phản hồi tích cực đầu tiên mà bà từng nhận được.

Sau đó, một y tá khác trong khoa hỏi bà có sẵn lòng nói chuyện với lớp học xã hội học của con trai bà ở trường trung học hay không. Tất nhiên, bà đồng ý. Nhưng “Tôi đã kìm nén nó quá lâu, câu chuyện của tôi là gì?” Hóa ra đó là một ngày tuyệt vời, bởi vì “họ hỏi rất nhiều câu hỏi.”

Kể từ đó, mọi thứ đã thay đổi.

Việc đến thăm Đài tưởng niệm Cựu chiến binh Việt Nam và Đài tưởng niệm Phụ nữ(đã chiến đấu ở)Việt Nam có (Vietnam Women’s Memorial) ý nghĩa rất lớn đối với Anita. Đài tưởng niệm Cựu chiến binh cho thấy mức độ hy sinh to lớn đã bị bỏ qua quá lâu, bà nói, trong khi Đài tưởng niệm Phụ nữ Việt Nam, được khánh thành năm 1993, “cuối cùng, cuối cùng cũng có điều gì đó thừa nhận rằng phụ nữ cũng rời bỏ nhà cửa và đến đó. Phụ nữ đã tự đặt mình vào những hoàn cảnh thực sự khó khăn mà họ không cần phải làm.”

Cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất năm 2024, The Women, của Kristin Hannah, về một nữ y tá ở Việt Nam, có thể sẽ được chuyển thể thành phim. Và “giờ tôi là một nữ anh hùng,” Anita nói. “Ồ, bạn từng phục vụ ở Việt Nam à? Bạn có thể kể cho chúng tôi nghe không?” Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ bị im lặng và bị đối xử như một tội phạm thay vì một người đã cứu sống người khác, “Tôi ghét câu ‘Cảm ơn vì sự phục vụ của bạn.’ Đối với tôi, nó quá giả tạo.”

Khi nói đến việc nhận bàng lao về những gì mình đã làm, Anita khiến tôi nhớ đến người cựu chiến binh Thế chiến II mà tôi đã phỏng vấn vài năm trước, người đã trải qua 171 ngày chiến đấu liên tục ở châu Âu, nhưng vẫn kiên quyết yêu cầu tôi tránh gọi ông là anh hùng, hay bất cứ điều gì tương tự. (Ông ấy không giải phóng trại tập trung nào cả, mà chỉ lái xe tăng đi ngang qua thôi, ông ấy nói.) Nếu bạn thắc mắc, tôi đã nói chuyện với ông ấy một lần nữa tuần này, để cảm ơn ông ấy vì đã giúp chúng tôi đạt được con số 250, và ông ấy vẫn minh mẫn và khỏe mạnh ở tuổi 100.

Khi tôi hỏi Anita về việc cứu sống người khác, bà ấy cũng tỏ ra như thể mình chỉ lái xe tăng đi ngang qua: “Tôi đã ở đó, tôi là một y tá tận tâm, giống như hầu hết chúng tôi – tôi không thể nghĩ ra ai không như vậy. Chúng tôi tận tâm với nghề nghiệp, tận tâm phục vụ bệnh nhân của mình, nên đúng vậy. Chúng tôi coi trọng vị trí của mình. Và không phải kiểu như, ‘Ồ, đây chỉ là một bệnh nhân người Việt Nam, chúng ta không cần phải chăm sóc họ.’ Vì vậy, chắc chắn rồi, chúng tôi đã cứu sống nhiều người.” Chúng tôi, bà ấy nhấn mạnh. Chúng tôi.

Thay vì hiểu điều này, bà ấy lại bị đổ lỗi cho những tội lỗi không bao giờ thuộc về mình.

Tôi cũng xin cảm ơn Anita Malott, người tự nhận mình là một người lạc quan nhưng đã vỡ mộng, vì đã giúp chúng ta đạt được con số 250. Nước Mỹ lẽ ra không nên mất quá nhiều thời gian để nhận ra rằng những người đàn ông và phụ nữ "cứ thế mà làm - cứ thế mà tiến lên" đã bị đối xử bất bàng, trước hết là bởi chính phủ của họ và sau đó là bởi bàng chúng.

Và nếu chúng ta muốn vượt qua con số 250, thì cần phải bớt chỉ trích và cần phải nói nhiều hơn về "chúng ta".

https://www.realclearpolitics.com/articles/2026/07/03/vietnam_nurse_who_came_home_to_silence_helped_get_us_to_250_154298.html
 

NVV