2026-06-04  

Đại học Oregon vật lộn với khủng hoảng ngân sách sau nhiều năm chi tiêu quá mức cho các chính sách thức tỉnh.

1. Đối Mặt Với Con Số Không Lớn: Đại học Oregon Vật Lộn Với Khủng Hoảng Ngân Sách Sau Nhiều Năm Theo Đuổi Tư Tưởng “Woke”

Có vẻ như việc theo đuổi tư tưởng “woke” một cách không ngừng nghỉ đồng nghĩa với việc bạn sẽ cần ít ký túc xá hơn. Đại học Oregon đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng ngân sách nghiêm trọng, buộc phải cắt giảm 65 triệu USD chi tiêu và đóng cửa một số ký túc xá do lượng sinh viên nhập học sụt giảm. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng ngày càng lớn này dường như không ngăn được trường chi gần 1 triệu USD để chống lại quyền tự do ngôn luận. Nó cũng không khiến đội ngũ giảng viên của trường trở nên cởi mở hơn về mặt tư tưởng nhằm thu hút sinh viên tương lai. Oregon đang trở thành một câu chuyện cảnh báo đối với thế hệ các nhà hoạt động xã hội trong giới học thuật, đồng thời cũng là cơ hội cho những ai muốn khôi phục sự cân bằng trong giáo dục đại học.
Từ lâu, Oregon đã được xem là một ví dụ điển hình của sự chính thống tư tưởng trong học thuật. Trong khi nhiều trường công lập miễn cưỡng phải tuân theo các yêu cầu của Tu chính án thứ Nhất và cung cấp môi trường tự do ngôn luận tốt hơn so với nhiều trường tư, Đại học Oregon lại nổi tiếng là một “pháo đài” của cánh tả cấp tiến trong giảng dạy.

Trước đây, chúng tôi từng đề cập đến trường hợp Giáo sư Bruce Gilley của Đại học Bang Portland bị tài khoản Twitter của Ban Bình đẳng và Hòa nhập thuộc Đại học Oregon chặn chỉ vì đăng dòng trạng thái: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng.” Đại học Oregon đã chi gần 1 triệu USD để bảo vệ quyết định hạn chế kiểu phát ngôn như vậy.

Những tranh cãi tương tự đã đeo bám trường trong nhiều năm mà hầu như không có dấu hiệu tự xem xét lại từ phía ban lãnh đạo hay giới học thuật. Trường từng bị chỉ trích vì theo dõi mạng xã hội để phát hiện và trừng phạt những phát ngôn bị cho là sai lệch hoặc những “vi xúc phạm” (microaggressions). Tạp chí luật của trường cũng từng bị cáo buộc phân biệt đối xử với những người ủng hộ Israel.

2. Trước đó, trường còn dành sự tôn vinh đặc biệt cho Giáo sư Mireille Miller-Young của Đại học California tại Santa Barbara, người từng bị kết án vì hành hung các nhà hoạt động chống phá thai trong khuôn viên trường. Tại Đại học Oregon, bà được mời làm diễn giả chính trong chương trình của Khoa Nghiên cứu Phụ nữ, Giới tính và Tính dục. Là một phần của chuỗi diễn giả về nữ quyền da màu, công trình của Miller-Young được Khoa Nghệ thuật và Khoa học cùng Khoa Tiếng Anh giới thiệu như một ví dụ về “tiềm năng cấp tiến của nữ quyền da màu trong công việc chúng ta thực hiện tại trường và trong cuộc sống hàng ngày”.

Giờ đây, trường đang phải đối mặt với tình trạng doanh thu và số lượng sinh viên suy giảm.

Hiệu trưởng Karl Scholz gần đây cho biết nguyên nhân là do lượng sinh viên năm nhất ngoài bang giảm mạnh, kéo theo nguồn thu học phí sụt giảm, trong khi chi phí hoạt động gia tăng và nguồn tài trợ nghiên cứu bị cắt giảm.

Điều kỳ lạ là trong khi đóng cửa ký túc xá, trường vẫn đang xây dựng thêm hai khu ký túc xá mới.

Bỏ qua những sai lầm trong quản lý ngân sách trước đây, danh tiếng của trường về sự chính thống tư tưởng khiến nhiều phụ huynh không muốn bỏ tiền học phí để con em mình bị “nhồi sọ” hoặc bị bịt miệng. Ngay cả khi niềm tin vào giáo dục đại học đang giảm mạnh, giới quản lý và giảng viên dường như vẫn không cưỡng lại được việc loại bỏ các tiếng nói đối lập.

Oregon không phải là trường duy nhất gặp khó khăn tài chính. Một số cơ sở giáo dục theo đuổi tư tưởng “woke” thậm chí đã phải đóng cửa hoàn toàn. Điều trớ trêu là nhiều giảng viên dường như chấp nhận nhìn trường của mình suy tàn hơn là khôi phục sự cân bằng tư tưởng trong các khoa. Tuy nhiên, đây cũng có thể là cơ hội để các nhà lập pháp và nhà tài trợ buộc các trường thực hiện những thay đổi thực chất về văn hóa học thuật.

Như tôi đã từng viết, các bậc phụ huynh và sinh viên coi trọng quyền tự do ngôn luận ngày càng phải tìm đến các trường đại học công lập, nơi giảng viên chịu sự ràng buộc của các bảo đảm hiến định. Các trường công có thể là tuyến phòng thủ cuối cùng của quyền tự do ngôn luận.

3. Hiện nay, gần như tồn tại hai hệ thống giáo dục đại học riêng biệt dành cho những người muốn tiếp cận đa dạng quan điểm và góc nhìn. Ngoại trừ một số trường ngoại lệ như Đại học Chicago và một vài trường tư khác vẫn bảo vệ tự do ngôn luận, sự chính thống tư tưởng tại phần lớn các trường tư vẫn là rào cản đối với nhiều người có tư tưởng bảo thủ hoặc độc lập.

Nếu muốn bảo vệ những thành trì của tự do ngôn luận này, các cơ quan lập pháp cần đóng vai trò tích cực hơn trong việc giải quyết tình trạng loại trừ ứng viên giảng viên hoặc diễn giả có quan điểm khác biệt tại các trường công. Quá nhiều giảng viên hiện nay dường như coi công chúng là nguồn tài trợ bắt buộc cho khoa của mình, trong khi lại gạt bỏ các quan điểm bảo thủ hoặc bất đồng vốn được nhiều công dân trong bang chia sẻ.
Nếu các giảng viên muốn tiếp tục duy trì những “buồng vọng âm” chỉ phản chiếu quan điểm của chính mình, họ nên tìm kiếm nguồn tài trợ tư nhân để duy trì sự thiếu khoan dung và tính chính thống đó.

Các cơ quan lập pháp có thể yêu cầu bằng chứng cho thấy các trường đang duy trì đội ngũ giảng viên đa dạng về mặt tư tưởng trước khi quyết định mức độ hỗ trợ tài chính tiếp theo.
Khi một số người trong chúng tôi đề xuất điều này, giới học thuật thường phản đối rằng đó là áp đặt các tiêu chuẩn chính trị hoặc tuyển dụng dựa trên đảng phái. Đây là lập luận phi lý mà tôi đã nhiều lần phản bác, bao gồm trong cuốn sách “The Indispensable Right: Free Speech in an Age of Rage”.

Điều được đề xuất là các nhà tài trợ và nhà lập pháp nên giữ lại nguồn tài trợ cho đến khi chứng kiến những cải cách thực sự, bao gồm việc tăng cường đa dạng tư tưởng trong đội ngũ giảng viên. Họ không chỉ đạo việc tuyển dụng cụ thể mà đánh giá kết quả cuối cùng. Trong khi đó, nhiều giảng viên phản đối các đề xuất này lại từng thụ động quan sát hoặc tích cực ủng hộ việc loại bỏ những giảng viên bảo thủ hoặc theo chủ nghĩa tự do cá nhân khỏi các trường đại học.

4. Khi bị chất vấn về các “bài kiểm tra ý thức hệ” rõ ràng của chính mình, họ thường chỉ nhún vai. Một số thừa nhận khoa của họ gần như hoàn toàn theo khuynh hướng tự do, nhưng khẳng định rằng họ không thể tìm được những người bảo thủ “đủ năng lực” hoặc “có triển vọng học thuật”. Thậm chí có người còn công khai cho rằng các quan điểm bảo thủ không có chỗ đứng trong khoa của họ.
Thật khó để phủ nhận rằng nhiều khoa đã bị thanh lọc về mặt tư tưởng nhằm tạo ra những “buồng vọng âm” học thuật. Nếu một tập đoàn lớn loại bỏ gần như toàn bộ phụ nữ hoặc người thiểu số trong khi khẳng định không hề phân biệt đối xử, họ chắc chắn sẽ bị thua kiện tại tòa án.

Trong nhiều năm, tôi đã lên tiếng về sự thiếu khoan dung trong giáo dục đại học và các khảo sát cho thấy nhiều khoa không còn một giảng viên nào là đảng viên Cộng hòa, khi các giảng viên liên tục tuyển dụng những người có cùng giá trị và quan điểm với mình. Không có dấu hiệu nào cho thấy các giảng viên thực sự sẵn sàng cải cách trường học của họ.

Một môi trường học thuật chỉ vang vọng một hệ tư tưởng rõ ràng không phải là điều hấp dẫn đối với những người đang phải đối mặt với học phí ngày càng tăng nhưng lại có rất ít cơ hội được học từ những giảng viên có quan điểm khác biệt.

Một nghiên cứu gần đây của Georgetown cho thấy chỉ khoảng 9% giáo sư luật tại 50 trường luật hàng đầu tự nhận mình là người bảo thủ – gần tương đương tỷ lệ cử tri ủng hộ Donald Trump trong cuộc khảo sát mới nhất.

Có rất ít bằng chứng cho thấy các giảng viên muốn thay đổi văn hóa này hoặc tạo ra sự đa dạng hơn trong trường học. Tại Đại học Bang North Carolina, một nghiên cứu cho thấy số lượng giảng viên thuộc Đảng Dân chủ nhiều hơn Đảng Cộng hòa tới 20 lần.

Khi các hiệu trưởng đại học phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt ngân sách ngày càng lớn, đã đến lúc các nhà lập pháp và nhà tài trợ yêu cầu bằng chứng thực sự về sự đa dạng trong tuyển dụng và những thay đổi về văn hóa học thuật. Nếu không, những trường như Đại học Oregon sẽ tiếp tục phải đóng cửa ký túc xá trong khi vẫn đặt “wokeness” lên trên sự khôn ngoan và thực tiễn.

Nghĩa Economic
(Nguyễn Xuân Nghĩa)